Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2016

GIAO CHÂU THỜI TIỀN LÝ

Tôi đã có những nhận thức lờ mờ về nhà Tiền Lý, cho đến khi đọc Việt Nam khai quốc của học giả K W Taylor, thì nhận thức đã trở nên sáng rõ hơn, tôi sẽ trình bày trong bài viết này.
Trong bài Khảo sát dòng họ Lý từ khởi nguồn đến Lý Công Uẩn của tác giả Nguyễn Việt có viết: “Hơn nữa, Lý thị (Lý thị tác kính) không chỉ đúc gương mà còn làm gốm, đúc các đồ đồng thông dụng khác. Trên một đồ đựng bằng đồng khai quật tại Quảng Đông còn nguyên dòng minh văn: “Nguyên Sơ ngũ niên thất nguyệt trung Tây Vu Lý Văn Sơn trị xạ trước (chú) hữu”. Tạm dịch: Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ (năm 143 sau Công nguyên) Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng. Huyện Tây Vu khi này đã là huyện nhỏ do Mã Viện tách ra từ huyện Tây Vu cũ thành ba huyện: Tây Vu, Phong Châu và Vọng Hải. Huyện Tây Vu đời Nguyên Sơ bao gồm cả vùng đất Bắc Ninh, Bắc Giang trọng tâm là các vùng Quế Võ, Phả Lại, Thiên Thai (…).  Trên một chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, hiện trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về Nghệ thuật và Lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ: “Kiến hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác”. Tạm dịch: Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa (năm 149 sau Công nguyên)”.
Trong bài Họ Lý trong mộ gạch đầu công nguyên ở Yên Hưng (Quảng Ninh) viết: “Tháng 11 vừa qua (2013), Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á phối hợp với các cơ quan Văn hóa, Bảo tàng huyện Yên Hưng tiến hành làm vệ sinh, bảo tồn một hầm mộ gạch lớn có tên gọi dân gian là “Hố Của” tại Thôn Năm, xã Song Khoai, huyện Yên hưng, tỉnh Quảng Ninh. Hầm mộ này có niên đại thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, tức là cách chúng ta ngày nay hơn 1800 năm. Qua chỉnh lý những đồ sành sứ bị vỡ vứt lại từ những lần khai đào cổ vật trước đó, nhóm nghiên cứu có một phát hiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc xác định chủ nhân ngôi mộ. Đó là một chiếc đĩa vỡ có khắc chìm dưới men mỏng hai chữ “Lý thị” – Họ Lý. Điều này cho phép giả định hoặc chính chủ nhân ngôi mộ là một quý tộc họ Lý hoặc dòng họ Lý đã cúng viếng người chết chiếc đĩa này. Dù thế nào thì chủ nhân ngôi mộ cũng là một nhân vật quan trọng đương thời gắn bó mật thiết với dòng họ Lý”.
Qua những sử liệu của người Hán, chúng ta biết rằng có rất nhiều người họ Lý sinh sống và làm quan từ rất sớm ở Giao Châu. Do vậy có thể khẳng định họ Lý là một dòng họ có thế lực ở phương nam, ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình châu Giao. Tôi giả thuyết rằng người Lí được các sách sử phương bắc chép lại chính là để chỉ nhóm người họ Lý.
Nam Tề thư chép: “Giao Châu xa cách ở biển đảo, liền nối với nước ngoài, cho nên dựa vào chỗ hiểm trở nhiều lần không thần phục. Đầu năm Thái Thủy(năm 468) thời Tống, Thứ sử Trương Mục chết, người quận Giao Chỉ là Lí Trường Nhân giết bộ khúc của Mục đến từ phương bắc đến, chiếm Giao Châu làm phản. Được vài năm thì bệnh chết. Em họ là Thúc Hiến nối nghiệp chủ việc, hiệu lệnh chưa ban ra, sai sứ giả đến xin làm Thứ sử. Nhà Tống lấy Nam Hải Thái thú Thẩm Hoán làm Giao Châu Thứ sử, lấy Thúc Hiến làm Ninh Viễn Tư mã, Vũ Bình, Tân Xương Thái thú của Hoán. Thúc Hiến nhận lệnh của triều đình, lòng người phục theo, bèn phát binh giữ chỗ hiểm yếu không đón Hoán vào, Hoán ở lại quận Uất Lâm rồi mắc bệnh chết. Năm Kiến Nguyên đầu tiên (năm 479) thời Thế Tổ, vẫn lấy Thúc Hiến làm Giao Châu Thứ sử, đến vỗ về ông ta. Thúc Hiến nhận lệnh, rồi lại chia cắt làm nước ngoài, cống nạp thiếu ít. Thế Tổ muốn đánh Thúc Hiến, năm Vĩnh Minh thứ ba (năm 485), lấy Tư nông Lưu Khải làm Giao Châu Thứ sử, phát binh của các quận Nam Khang, Lư Lăng, Thủy Hưng đánh Giao Châu. Thúc Hiến nghe tin, sai sứ giả đến xin tha cho vài năm, nạp 12 cái mũ trụ bạc ròng cùng lông chim trĩ, Thế Tổ không cho. Thúc Hiến sợ bị Khải đánh úp, ngầm đi đường từ Tương Xuyên vào chầu. 
Năm thứ sáu (năm 488), lấy Thủy Hưng Thái thú Phòng Pháp Thặng nối chức Khải. Pháp Thặng đến giữ, mắc bệnh không coi việc, chỉ ưa đọc sách. Trưởng sử Phục Đăng Chi nhân đó nắm lấy quyền, thay đổi các tướng, quan lại, không để Pháp Thặng biết. Lục sự Phòng Tú Văn báo cho Pháp Thặng. Pháp Thặng giận lắm, bắt trói Đăng Chi vào ngục. Hơn 10 ngày, Đăng Chi đem của hối lộ cho chồng của em Pháp Thặng là Thôi Cảnh Hiến mới được ra, đem bộ khúc đánh úp lấy châu bắt được Pháp Thặng, bảo Pháp Thặng nói: "Sứ quân đã có bệnh, không nên khổ sở". Bắt giam ở nhà riêng. Pháp Thặng không có việc gì làm, lại đến Đăng Chi xin đọc sách, Đăng Chi nói: "Sứ quân ở yên một chỗ còn sợ mắc bệnh, há lại xem sách". Rồi không cho. Lại tấu lên nói Pháp Thặng mắc bệnh tim, không thể làm việc, Thế Tổ vẫn lấy Đăng Chi làm Giao Châu Thứ sử. Pháp Thặng trở về đến núi Ngũ Lĩnh thì chết. Pháp Thặng, người huyện Thanh Hà. Giữa năm Thăng Minh(năm 478) làm Kiêu kị Trung binh của Thái Tổ, làm đến Tả Trung lang tướng. Tính ngay thẳng giản dị, người cao 8 thước 3 tấc, đi ra cao hơn người khác, thường tự mình cúi xuống. Thanh Châu Thứ sử Minh Khánh Phù cũng cao sánh với Pháp Thặng, triều đình chỉ có hai người này”.
Như vậy là năm 468 nhân việc Thứ sử Trương Mục chết, người quận Giao Chỉ là Lý Trường Nhân giết bộ khúc của Mục đến từ phương bắc, chiếm cứ Giao Châu, tuy nhiên được vài năm thì mất, em họ là Lý Thúc Hiền nối nghiệp, sai sứ đi phương bắc để xin làm Thứ sử. Phương bắc không cho, lấy Nam Hải Thái thú Thẩm Hoan làm Giao Châu Thứ sử, Thúc Hiền chống lệnh. Nhà Nam Tề thế nhà Lưu Tống cho Hiền làm Thứ sứ, vỗ về Giao Châu. Phương bắc sau thời kỳ tam quốc, tiếp tục bị chia cắt, các cuộc chiến tranh diễn ra liên miên giữa các thế lực, các triều đại dựng lên nhưng chỉ kiểm soát được một phần của lãnh thổ Tây Hán thời trước. Đây chính là thời điểm mà phương nam thoát ra khỏi phương bắc để trở thành vùng lãnh thổ độc lập.
Có một câu hỏi xung quanh cái chết của vị Thứ sử Trương Mục là có liên quan gì tới thổ nhân Giao Chỉ Lý Trường Nhân hay không? Mục thực chết vì bệnh hay vì bị ám hại bằng độc? Sau cái chết của vị Thứ sử này, bộ khúc của Mục đến từ phương bắc cũng bị giết. Rõ ràng là Trường Nhân đã chuẩn bị kỹ càng cho tình huống này và chắc chắn rằng, trong chính quyền đô hộ tại địa phương, Trường Nhân cũng có một vị thế nhất định. Việc Trường Nhân và Thúc Hiền chiếm châu làm phản cho thấy ý đồ thoát phương bắc, ý đồ này trở nên rõ ràng hơn khi Thúc Hiền chia cắt với lãnh thổ, bất tuân chiếu lệnh, cống nạp thiếu, ít. Tuy nhiên, tại thời điểm của anh em họ Lý chiếm cứ châu Giao, ý tưởng về một quốc gia độc lập vẫn còn là một điều mới mẻ, nên việc sai sứ sang bắc triều xin làm Thứ sử có thể phản ánh nếp cũ trong nhận thức hoặc có thể là sự khôn ngoan trong ngoại giao. Nhưng dù là gì thì ý tưởng về một vùng lãnh thổ ở phương nam độc lập đã xuất hiện, nhận biết được điều này, phương bắc đã tiến hành một cuộc hành quân do Tư nông Lưu Khải làm chủ tướng với mục đích đập tan ý tưởng ấy của người Giao Châu năm 485. Sau khi không được nhà Nam Tề đồng ý cho quy thuận lại, Thúc Hiền đã đích thân vào triều, từ đây thông tin về Thúc Hiền cũng không còn được ghi chép. Chỉ biết rằng Lưu Khải vào trấn được khoảng 3 năm thì đến năm 488 Phòng Pháp Thặng nối chức Khải làm Thứ sử Giao Châu.
Giao Châu dưới thời của Trường Nhân và Thúc Hiền độc lập khoảng 20 năm, khoảng thời gian này, đủ để Giao Châu có lực khoẻ. Trước và sau khi Khải vào trấn đã không xảy ra cuộc chiến nào, vậy thì những tổn thất của châu Giao là không có. Trước khi Thúc Hiền vào triều hẳn là đã sắp xếp nhân sự cũng như chuẩn bị mọi trường hợp khi xảy ra biến. Thế nên bộ tướng của Thúc Hiền và họ Lý (người Lý) ở châu Giao vẫn còn rất mạnh. Pháp Thặng tuy làm Thứ sử nhưng toàn bộ quyền bính ở châu Giao lại nằm trong tay của Trưởng sử Phục Đăng Chi. Tôi đồng ý với học giả K W Taylor rằng vị Trưởng sử này là Giao Châu thổ nhân, Việt Nam khai quốc viết: “Sử sách không nói rõ Đặng Chi là một thủ lãnh sinh quán địa phương hay là một người miền Bắc di dân xuống. Nhưng dựa trên những chứng cứ khác, có lẽ ông là người địa phương vì ông giữ chức Trưởng Sử trước. Giống như Cố Thọ, ngày xưa ở thế kỷ thứ 4, muốn nắm quyền Giao Châu, hành động của ông đầu tiên là giết chết viên Trưởng Sử Hồ Triệu. Trong hành chánh Trung Quốc, ở cấp địa phương, Trưởng Sử chỉ dưới Thứ Sử về quyền hành, và trên thực tế điều hành tất cả mọi công việc hàng ngày. Ở Giao Châu, nơi mà quyền hành của triều đình đặt vào một xã hội phi Trung Quốc, Trưởng Sử rõ ràng là cấp lãnh đạo có tăm tiếng đại diện cho các quyền lợi địa phương để thi hành chính sách triều đình. Đặng Chi có thể điều động những người thuộc phe mình vào các chức vị cao cấp ngay trước mũi một ông Thứ Sử lơ là như Pháp Thừa. Và khi ông Thứ Sử có phản ứng thì Trưởng Sử lại có cách mua chuộc, hối lộ, để ra khỏi khám đường và mộ quân. Nếu ông là một người Bắc được bổ nhiệm đến, khó mà ông có thể làm được những việc ấy”.
Sau khi ra ngục, Chi tụ tập quân sĩ, lên kế hoạch đánh úp, Thặng bị bắt giam, Chi chủ quản việc trong châu, tấu báo với triều đình tình hình, xin lĩnh giữ chức Thứ sử, đến năm 490 thì nhận chiếu lệnh. Pháp Thặng được gọi về, nhưng chết dọc đường do bệnh (Thặng vốn là người ốm yếu, ham mê đọc sách) tuy nhiên nếu Thặng về triều đình, tâu báo sự tình thì kế hoạch của Chi sẽ bị lộ, do vậy trong trường hợp này, có cơ sở để tin rằng Chi có liên quan tới cái chết của Thặng.
Nam tề thư chép: “Năm Long Xương (năm 494) (…) tháng 1 (…) Thân Hi Tổ làm Giao Châu Thứ sử (…). Năm Diêm Hưng (năm 494) (…) tháng 8 (…) quan quân ti mã Tang Linh Trí làm Giao Châu Thứ sử (…) tháng 9 tân tị, lấy tiền Thái thú Cửu Chân là Tống Từ Minh làm Thứ sử Giao Châu”.
Việt Nam khai quốc chép: “Năm 494, Trung Quốc lại rơi vào cảnh nội chiến và ba vị vua liên tiếp đổi ngôi chỉ trong một thời gian một năm. Cùng với ba vị vua là việc ba lần bổ nhiệm Thứ Sử Giao Châu được ghi lại năm ấy, chỉ là trên giấy tờ để tưởng thưởng cho công lao của những người đã tranh đấu cho ngai vàng, nhưng chả có vị nào đến nhiệm sở cả. Có một lần dưới triều vua Tề Minh Đế (494-498), Lý Khai vốn thuộc một gia đình địa phương, được lên thay thế Đặng Chi làm Thứ Sử”.
Lương thư chép: “Thiên Giản năm thứ 4 (năm 505) (…) tháng 2 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Khải làm phản chiếm cứ châu, Trưởng sử Lý Tắc đánh dẹp. Xá tội cho châu Giao (...). Thiên Giản năm thứ 15 (năm 516) (…) tháng 11 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Tắc chém Nguyễn Tông Hiếu làm phản, đưa đầu về kinh. Xá tội cho châu Giao”
Tư trị thông giám chép: “Thiên Giản năm thứ 4 (năm 505) (…) tháng 2 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Khải làm phản chiếm cứ châu, Trưởng sử Lý Tắc đánh dẹp (…)Thiên Giản năm thứ 15 (năm 516) (…) tháng 11 (…) Thứ sử Giao Châu Lý Tắc chém Nguyễn Tông Hiếu làm phản, đưa đầu về Kiến Khang”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Ất Dậu (505). (Lương, Vũ đế, năm Thiên Giám thứ 4). Tháng 2, mùa xuân. Thứ sử Giao Châu nhà Tề là Lý Khải chiếm giữ Giao Châu, chống lại nhà Lương, bị trưởng sử Lý Tắc giết chết.
Lý Khải thay Đăng Chi làm thứ sử. Khải thấy nhà Lương mới được nhà Tề truyền ngôi vua cho, bèn giữ Giao Châu, chống lại nhà Lương. Đến đây, Lý Tắc đem quân giết Lý Khải. Nhà Lương dùng Lý Tắc làm thứ sử Giao Châu.
Lời cẩn án - Lý Khải, Sử cũ chép lầm là Lý Nguyên Khải.
Năm Bính Thân (516). (Lương, năm Thiên Giám thứ 15). Tháng 11, mùa đông. Thứ sử Giao Châu nhà Lương là Lý Tắc đánh dư đảng của Lý Khải là bọn Nguyễn Tôn Hiếu, chém được Tôn Hiếu, dẹp yên được đất Giao Châu. Nhà Lương tha hết tội cho tất cả người theo đảng làm loạn ở Giao Châu.
Lời chữa - Tôn Hiếu: Sử cũ chép lầm là Tôn Lão.
Năm Quý Mão (523). (Lương, năm Phổ Thông thứ 4). Nhà Lương chia đất Giao Châu, đặt ra Ái Châu.
Theo Sử ký của Ngô [Thì] Sĩ, từ đời Hán trở về sau, cho đơn vị châu kiêm quản các quận. Suốt đời Lục triều1 vẫn theo như thế, hễ gọi là Giao Châu tức là lỵ sở của thứ sử, thống lĩnh cả Thái thú bảy quận; các quận thú không được gọi là châu.
Lời chữa - Ái Châu: Tức là đất quận Cửu Chân”.
Chúng ta không biết chính xác thì Lý Khải làm Thứ sử châu Giao khi nào, nhưng chắc chắn là ông có làm Thứ sử vì cả Lương thư và Tư trị thông giám đều ghi nhận.  Năm 502 nhà Lương lên thay nhà Nam Tề, theo tôi việc này đã tác động trực tiếp tới sự kiện Lý Khải chiếm châu làm phản. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng: Khải thay Đăng Chi, K W Taylor cũng đồng ý với điều này! Và vì Khải thay Chi nên việc Khải làm phản được cho là có nguyên nhân từ việc nhà Lương chưa có uy đức gì ? Thế nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng Lý Khải muốn chiếm châu là vì ý muốn tự chủ. Như Taylor viết trong Việt Nam khai quốc Lý Khải vốn là người địa phương, tôi cũng đồng ý với giả thuyết này, vì nếu là người phương bắc được cử sang làm Thứ sử Giao Châu, thì chắc chắn là Hán sử sẽ chép lại ngày tháng. Nhưng sử phương bắc lại không có ghi chép gì về ông nên rất có thể họ không biết gì về Khải. Thời điểm năm 494 Đăng Chi đang làm thứ sử, tuy rằng có chiếu lệnh cho 3 vị khác làm Giao Châu Thứ sử nhưng các vị này quả thực chỉ nhận chức trên danh nghĩa và như thế thì thực quyền ở châu Chi vẫn nắm. Hơn nữa chiếu lệch của triều đình được ban bố ở phương bắc, chưa chắc đã được truyền đến phương nam, do vậy Chi không những nắm thực quyền ở châu mà còn danh chính ở vị trí Thứ sử. Chi có hướng tự chủ nhưng về bên ngoài vẫn quy thuận triều đình. Do vậy mà khi nhà Nam Tề mất, danh chính của Đăng Chi cũng không còn và đây là thời điểm cho một cuộc binh biến thay đổi châu Giao là hợp lý.
Câu hỏi là: Thế lực nào ở châu Giao có khả năng làm việc này? Tôi đang nghĩ đến gia tộc họ Lý của Trường Nhân và Thúc Hiền đã từng làm chủ Giao Châu cách đó 20 năm. Như chúng ta biết, tại thời điểm Thúc Hiền vào triều, sức mạnh có họ Lý vẫn còn y nguyên, thân tín của Hiền có thể đã lui về giữ đất cũ của tổ tiên, làm hào trưởng một vùng. Trong trường hợp Lý Khải là người bản địa thì vì sao phương bắc lại bãi nhiệm một Thứ sử có chính sách quy thuận triều đình bằng một người bản địa khác? Tôi cho rằng dưới triều đại nhà Nam Tề, Khải không được làm Thứ sử, nhưng đến khi Nam Tề mất, Lý Khải đã hợp binh, nhân sự kiện này, làm cuộc binh biến tại Giao Châu, phế Đăng Chi, nắm giữ châu Giao, xưng là Thứ sử, nhà Lương dựng nghiệp, ban bố khắp nơi, Khải không chịu quy thuận nên bắc triều nhìn nhận hành động ấy là chiếm châu làm phản, năm 505 Khải bị Trưởng sử là Lý Tắc chém. Vì nhà Lương mới dựng, hai mối đe doạ cấp thiết ở phía nam là Trần Bá Chi tại Giang Châu và Lưu Quý Liên tại Ích Châu, cũng như chiến tranh xảy ra với Bắc Nguỵ vào năm 503, do vậy mà chưa thể sắp đặt được Giao Châu nên Lý Tắc làm Trưởng sử phải từ thời Phục Đăng Chi. Bản thân Phục Đăng Chi là người bản địa thì khả năng cao Lý Tắc cũng là người bản địa. Nhưng nếu Lý Tắc và Lý Khải là người bản địa lại cùng họ Lý, thì có khi nào cùng họ hàng không? Nếu vậy thì vì sao lại sát hại nhau? Lý Tắc là người có chính sách quy thuận bắc triều và ngay sau khi giết Lý Khải vị Trưởng sử này được nhận chức Thứ sử, ông nắm giữ Giao Châu một thời gian dài, tới khi Tiêu Tư sang thay, trong thời gian giữ chức Thứ sử Giao Châu, có Nguyễn Tôn Hiếu làm phản và bị vị Thứ sử này giết, Tôn Hiếu là người bản địa, do vậy mà Taylor nhìn nhận thời gian này, châu Giao diễn ra sự xung đột giữa các thế lực địa phương. Nếu như Lý Khải làm Thứ sử dưới thời Nam Tề thay cho Phục Đăng Chi, thì chức Trưởng sử của Lý Tắc có khả năng là do Khải cân nhắc, nếu vậy 2 người này phải có mối quan hệ tốt đẹp, như thế việc xung đột giữa 2 người là rất khó giải thích. Có khi nào sau những năm tháng thăng trầm, họ Lý ở châu Giao đã lớn mạnh và phân tách thành các gia tộc khác nhau, cứ những vùng lãnh thổ khác nhau. Hoặc có khi nào, việc bất tuân ra mặt nhà Lương của Lý Khải không phải là một chính sách ngoại giao khôn ngoan, có thể làm tổn hại tới sự độc lập của Giao Châu nên họ Lý đã bày ra kế sách này để lừa gạt phương bắc, thành thử họ đã gửi về kinh sư đầu giả của Lý Khải và tất nhiên với việc ấy, Lý Tắc là người sáng giá nhất (trong mắt bắc triều) để ngồi vào cái ghế Thứ sử Giao Châu.
Lương thư (Diêu Tư Liêm người đời Đường) chép: “Niên hiệu Đại Đồng thứ 7 (năm 541) (…) tháng 12, Lý Bôn ở Giao Chỉ đời đời là Hào hữu (Hào trưởng) làm quan bất đắc chí. Có Tinh Thiều, là người giỏi về từ chương, đến (kinh đô) xin tuyển làm quan, Thượng thư Lại bộ là Sái (Thái) Tốn cho rằng họ Tinh trước không có ai làm quan, cho giữ chức Quảng Dương môn lang. Thiều lấy làm nhục. Bôn cùng với Thiều trở về làng xóm, mưu nổi loạn. Gặp khi Vũ lâm hầu Tiêu Tư tàn bạo, hà khắc, mất lòng dân chúng. Lúc này, Lý Bôn đang là Giám quân ở Đức châu (châu Cửu Đức), liền liên kết với hào kiệt ở các châu cùng nhau làm phản. Tiêu Tư đưa hối lộ cho (Lý) Bôn, chạy trốn về Quảng Châu. Nhà vua bèn sai Tiêu Tư cùng Thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, Thứ sử Tân châu là Lư Tử Hùng đem quân sang đánh. Tư là con của (Tiêu) Khôi (…). Niên hiệu Đại Đồng thứ 11 (năm 545) (…) Mùa hè tháng 5, Lương Vũ đế sai Thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu đi đánh dẹp Lý Bôn, cho Trần Bá Tiên giữ chức Tư mã, lệnh cho Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột dẫn quân hội họp tại Tây Giang. Bột biết quân lính sợ đi xa đánh trận, liền dụ dỗ (quân lính), khéo léo nói với Dương Phiêu dừng quân không tiến nữa. Phiêu tập hợp các tướng lĩnh đến hỏi kế sách. Trần Bá Tiên nói: ''Giao Chỉ nổi loạn, tội đáng trách ở các ông tôn thất, vì thế khiến cho một số châu hỗn loạn, tùy ý bắt bớ, giết chóc người nhiều năm. Thứ sử Định Châu muốn cầu an trước mắt, không nghĩ được kế lớn. Tiết hạ (chi Dương Phiêu) là người phụng mệnh đi dẹp yên kẻ có tội, phải nên bất chấp sống chết, sao có thể dừng lại không tiến được. Như thế sẽ khiến cho kẻ địch phấn khích mà làm tiêu diệt uy phong của quân ta''. Nói xong, Trần Bá Tiên dẫn đoàn quân của mình xuất phát đầu tiên. Dương Phiêu cho Trần Bá Tiên làm tiên phong. Đến Giao Châu, Lý Bôn dẫn ba vạn quân kháng cự, bị đánh thua ở Chu Diên, sau lại bị đại bại ở cửa sông Tô Lịch. Lý Bôn phải trốn đến thành Gia Ninh, các quân lính bao vây thành. Tiêu Bột là con của Tiêu Bính (…). Niên hiệu Trung Đại Đồng thứ 1 (năm 546) (...) Mùa thu, tháng 7, Nhâm Dần, Lý Bôn lại đưa 2 vạn tướng sĩ từ trong động Khuất Liêu (Lão) ra đồn trú tại hồ Điển Triệt, đóng hàng loạt các chiến thuyền, chật kín trong hồ. Quân sĩ (của Bá Tiên) sợ hãi, dồn ứ ở cửa hồ, không dám tiến. Trần Bá Tiên nói với các tướng lĩnh: ''Quân ta sang đây đã lâu ngày, tướng sĩ đều mỏi mệt, hơn nữa lại là quân cô không có cứu viện, lại đã vào sâu trong đất tâm phúc của người ta, nếu đánh một trận không thắng, khó lòng bảo toàn mạng sống. Nay ta nhân giặc (chỉ quân Lý Bôn) đã mấy lần tháo chạy, lòng người chưa được ổn định, (chúng) lại là đội quân Di, Lão ô hợp, rất dễ tiêu diệt. Chính giữa lúc này cùng nhau quyết chiến một phen để giành chiến thắng. Vô cớ dừng lại, thời cơ sẽ đi qua mất''. Các tướng đều im lặng không ai hưởng ứng. Đêm hôm đó, nước sông dâng lên đến 7 trượng, tràn vào hồ. Bá Tiên thúc giục quân lính thừa cơ tiến vào, quân lính đánh trống reo hò cùng tiến. Quân của (Lý) Bôn đại bại, lẩn vào trong động Khuất Lão”.
Lương thư chép: “Niên hiệu Đại Đồng năm thứ 7 (năm 541) mùa xuân, tháng Giêng. Năm đó, Thổ nhân Giao Châu là Lý Bôn tiến đánh Thứ sử Tiêu Tư, Tiêu Tư phải hối lộ (cho Lý Bôn) mới về được Việt châu (...). Niên hiệu Đại Đồng năm thứ 8 (năm 542) mùa xuân, tháng 3, sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, Thứ sử La Châu là Ninh Cự, Thứ sử An Châu là Lý Trí, Thứ sử Ái Châu là Nguyễn Hán, cùng nhau đi chinh phạt Lý Bôn ở Giao Châu (...). Niên hiệu Đại Đồng năm thứ 9 (năm 543) mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp đánh phá Đức Châu, tiến đánh Lý Bôn. Tướng của Bôn là Phạm Tu lại đánh tan vua Lâm Ấp tại Cửu Đức, vua Lâm Ấp thua chạy (...). Niên hiệu Thái Thanh năm thứ 2 (năm 548) tháng 3, ngày Kỷ Mùi, động Khuất Lão chém được Lý Bôn, chuyển thủ cấp về Kinh sư”.
Trần thư (Diêu Tư Liêm người đời Đường) chép: “Đầu đời Đại Đồng, Tân Du hầu Tiêu Ánh làm Thái thú Ngô Hưng, rất quý trọng Cao Tổ (chỉ Trần Bá Tiên), thường nhìn Cao Tổ nói với liêu thuộc: người này đường đường làm tướng triển vọng to lớn''. Đến khi Tiêu Ánh giữ chức Thứ sử Quảng Châu, Cao Tổ là Trung trực binh Tham quân, trấn giữ theo phủ. Tiêu Ánh sai Cao Tổ chiêu tập sĩ nhân lên đến nghìn người, vẫn giao cho Cao Tổ là Giám quân của quận Tống Long... Trước đây, Vũ lâm hầu Tiêu Tư làm Thứ sử Giao Châu vì tham tàn mất lòng dân chúng. Thổ nhân là Lý Bôn liên kết hào kiệt mấy châu đồng thời làm phản. Vua sai Thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, Thứ sử Tân châu là Lư Tử Hùng đem quân sang đánh. Bọn Quýnh không tiến quân ngay, đều bị trị tội ở Quảng Châu.
Mùa đông năm đó, Tiêu Ánh chết. Năm sau, nhà vua làm lễ tang đưa về kinh đô, đến núi Đại Dũ, có Chiếu cho nhà vua (Trần Bá Tiên) làm Tư mã Giao Châu kiêm lĩnh Thái thú Vũ Bình cùng Thái thú Dương Phiêu đi đánh dẹp phương nam. Nhà vua chiêu mộ nhiều người dũng cảm và khí giới tinh nhuệ. Dương Phiêu mừng nói: Có thể thắng được giặc chính là Trần tư vũ, giao cho làm Kinh lược. Nhà vua đưa quân lính xuất phát từ Phiên Ngung (Quảng Đông). Khi đó Tiêu Bột là Thứ sử Định Châu đem quân hội tụ tại Tây Giang, Bột biết quân sĩ sợ đi chiến đấu, ngấm ngầm dụ dỗ (binh lính), khéo léo nói với Dương Phiêu (dừng chân không tiến nữa). Dương Phiêu tập trung các tướng lĩnh hỏi mưu kế. Nhà vua (Trần Bá Tiên) nói: Giao Chỉ nổi loạn, tội đáng trách ở tôn thất, vì thế khiến cho một số châu hỗn loạn, tùy ý bắt bớ, giết chóc người nhiều năm. Thứ sử Định Châu muốn cầu an trước mắt, không nghĩ được kế lớn. Ông là người phụng mệnh đi dẹp yên kẻ có tội, phải nên bất chấp sống chết, sao có thể dừng lại không tiến được. Như thế sẽ khiến cho kẻ địch phấn khích mà làm tiêu diệt uy phong của quân ta. Nói xong, Trần Bá Tiên thúc giục quân lính của mình đánh trống hò reo xuất hành.
Tháng 6 năm thứ 11 (545) quan quân đến Giao Châu. Quân của Lý Bôn vài vạn người lập thành trại đóng ở cửa sông Tô Lịch để chống lại. Dương Phiêu cho Trần Bá Tiên làm tiên phong vây hãm. Lý Bôn vào địa giới Khuất Lão lập trại, cho đóng nhiều thuyền chiến, chật kín trong hồ. Quân sĩ (của Bá Tiên) sợ hãi, dồn ứ ở cửa hồ, không dám tiến. Trần Bá Tiên nói với các tướng lĩnh: ''Quân ta đã già, tướng sĩ đều mỏi mệt, giằng dai nhiều năm, e không phải kế sách hay. Hơn nữa lại là quân cô, không có cứu viện, lại vào sâu trong đất tâm phúc của người ta, nếu đánh một trận không thắng, khó lòng bảo toàn mạng sống. Nay ta nhân giặc (chỉ quân Lý Bôn) đã mấy lần tháo chạy, lòng người chưa được ổn định, (chúng) lại là đội quân Di, Lão ô hợp, rất dễ tiêu diệt. Chính giữa lúc này cùng nhau quyết chiến một phen giành chiến thắng. Vô cớ dừng lại, thời cơ sẽ đi qua mất''. Các tướng đều im lặng không ai hưởng ứng. Đêm hôm đó, nước sông dâng lên đến 7 trượng, tràn vào hồ, nước chảy xiết mạnh. Bá Tiên thúc giục quân lính thừa cơ tiến vào, quân lính đánh trống reo hò cùng tiến. Quân của (Lý) Bôn đại bại, lẩn vào trong động Khuất Lão. Chém được Lý Bôn trong hồ, truyền đưa thủ cấp về Kinh sư. Năm đó là năm Thái Thanh thứ nhất (547).
Anh trai của Lý Bôn là Thiên Bảo trốn vào đất Cửu Chân cùng với Lý Thiệu Long thu thập hơn hai vạn quân lính giết Thứ sử Đức Châu là Trần Văn Nhung, tiến quân bao vây Ái Châu. Nhà vua lại đem quân đánh dẹp, được phong làm Trấn viễn tướng quân, Đốc hộ Tây Giang, Thái thú Cao Yếu, phụ trách mọi việc quân của 7 quận”.
Trần thư chép: “Đỗ Tăng Minh tên tự là Hoằng Chiếu, người Quảng Lăng, Lâm Trạch... Khi Thổ hào Giao Châu là Lý Bôn làm phản, đuổi đánh Thứ sử Tiêu Tư, Tư chạy về Quảng Châu. Nhà vua lệnh cho Tử Hùng và Thứ sử Cao Châu Tôn Quýnh đi dẹp Bôn. Khi đó vào mùa xuân, cỏ cây đã sinh sôi, chướng khí đang thịnh, Tử Hùng xin đợi mùa thu sẽ đi dẹp Bôn, Thứ sử Quảng Châu là Tiêu Du hầu Tiêu Ánh không cho, Tiêu Tư lại thúc giục thêm, bọn Tử Hùng bất đắc dĩ phải tiến quân. Đến Hợp Phố, số chết chiếm đến 6, 7 phần 10, quân lính lại sợ ra trận nên tan vỡ tán loạn, ra lệnh cấm cũng không được, bọn Tử Hùng đành phải dẫn số quân còn lại lui về. Tiêu Tư dâng bản khải lên vua cho rằng Tử Hùng cùng Tôn Quýnh thông đồng với giặc, dừng lại không tiến, Lương Vũ đế ban sắc (bọn Tử Hùng) phải chết ở Quảng Châu”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình [phủ] Long Hưng. Tổ tiên là người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn, trở về Thái Bình. Bấy giờ bọn thú lệnh tàn bạo hà khắc, Lâm Ấp cướp phá ngoài biên, vua dấy binh đánh đuổi được, xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên .
Tân Dậu, năm thứ 1 [541], (Lương Đại Đồng năm thứ 7). Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư, vì hà khắc tàn bạo, mất lòng người. Vua vốn con nhà hào trưởng, thiên tư lỗi lạc, làm quan không được vừa ý. Lại có người là Tinh Thiều giỏi từ chương từng đến [kinh đô nhà Lương] xin được chọn làm quan. Thượng thư bộ Lại nhà Lương là Sái Tôn cho rằng họ Tinh trước không có ai hiển đạt, nên chỉ bổ cho chức Quảng Dương môn lang. Thiều lấy làm nhục, trở về làng, theo vua mưu việc dấy binh. Vua bấy giờ làm chức Giám quân ở châu Cửu Đức , nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng. Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Diên phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo về. Tiêu Tư biết việc, đem của đến hối lộ cho vua, rồi chạy về Quảng Châu. Vua ra chiếm giữ châu thành (tức là Long Biên).
Nhâm Tuất, năm thứ 2 [542], (Lương Đại Đồng năm thứ 8). Mùa đông, tháng 12, vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng sang xâm chiếm. Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa xuân đương bốc, xin đợi đến mùa thu. Bấy giờ Thứ sử Quảng Châu là Tân Dụ hầu Hoán không cho, Vũ Lâm hầu cũng thúc giục. Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết đến 6, 7 phần, quân tan rã mà về. Tiêu Tư tâu vu [với vua Lương] rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi, đều bị buộc phải tự tử.
Quý Hợi, năm thứ 3 [543], (Lương Đại Đồng năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức.
Giáp Tý, [Thiên Đức] năm thứ 1 [544], (Lương Đại Đồng năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là
Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Năm Giáp Tí (544). (Lý, Nam Việt đế Bôn, năm Thiên Đức thứ 1; Lương, năm Đại Đồng thứ 10). Tháng giêng, mùa xuân. Lý Bôn tự xưng là Nam Việt đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, tên nước là Vạn Xuân.
Lý Bôn nhân thắng quân địch, tự xưng đế, đặt niên hiệu gọi tên nước là Vạn Xuân, có ý mong xã tắc lâu dài đến muôn đời; dựng điện Vạn Xuân để làm chỗ triều hội.
Lời chữa - Vạn Xuân: Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử triều Tống, huyện Long Biên có đài Vạn Xuân. Đài này của Lý Bôn ở Giao Chỉ làm năm Đại Đồng triều Lương. Nay ở xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, có hồ Vạn Xuân, còn gọi là đầm Vạn Phúc. Vậy điện Vạn Xuân có lẽ ở đấy. Đặt ra trăm quan. Dùng Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ”.
Thời Lương Vũ Đế cải cách hành chính trong nước, miền Giao - Quảng được chia tách, đặt quận huyện. Năm 541 Tiêu Tư đang làm Thứ sử Giao Châu, những người tài giỏi ở Giao Châu như Tinh Thiều, Lý Bôn không được trọng dụng, Tư lại tham lam hà khắc do đó Lý Bôn đã khởi binh, liên kết với các hảo trưởng, những người biết đến gồm có Tinh Thiều, Phạm Tu và Triệu Túc. Tư phải chạy về phương bắc (Việt Châu, Quảng Châu). Bôn chiếm giữ Giao Châu.
Có một điểm khác biệt khá lớn giữ sử bắc và sử nam. Hán sử thì không đề cập việc Lý Bôn xưng đế, lập quốc hiệu Vạn Xuân trong khi sử Việt thì lại đồng nhất trong việc ghi chép này. Thế nhưng sử Việt, những bộ ghi chép gần nhất với sự kiện cũng cách quá xa, tuy nhiên lại có một nguồn tham khảo khác, mà Hán sử không có, đó là nguồn tư liệu dân gian, thế nhưng nguồn tư liệu này rất khó để đánh giá độ xác tín. Hán sử không ghi chép, nhưng rõ ràng những sử gia phương bắc ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tâm thế tự tôn. Do đó thật khó để xác định sự kiện xưng đế lập nước quốc hiệu của Lý Bôn. Tôi cho rằng với những chiến thắng lớn trước cả thế lực phương bắc và phương nam, việc xưng đế cũng hoàn toàn có thể. Có một câu hỏi ở đây là: Thời của Lý Thúc Hiền về cơ bản là độc lập với phương bắc và bản thân vị Thứ sử này cũng có ý đồ độc lập, vậy ông có xưng đế hay không? Như chúng ta biết, Thúc Hiền đã tự ý chia cắt lãnh thổ, cống nạp thiếu, ít. Nếu như Giao Châu được tách ra khỏi lãnh thổ phương bắc, thì có lý gì Thúc Hiền vẫn xưng là Thứ sử? Khi châu Giao trở thành lãnh thổ độc lập, không còn là một phần của lãnh thổ phương bắc, thì hẳn Thúc Hiền (người đứng đầu) phải xưng danh thế nào đó, để dẫu không ngang hàng với hoàng đế phương bắc thì cũng không thể nằm trong hệ thống tước phẩm do hoàng đế bắc triều sắp xếp được.
Lý Bôn được cho là có tổ tiên từ phương bắc, sinh sống ở Giao Chỉ từ nhiều đời, luôn là hào trưởng một vùng. Bôn được cho làm Giám quận ở Đức Châu, châu Đức là châu mới thành lập thời Lương Vũ Đế, tách ra từ Cửu Đức. Đức Châu có lẽ là vùng đất khó quản lý, dân bản địa bất tuân triều đình. Việc Bôn được làm Giám quận, lại là hào trưởng, có thể kêu gọi các hào trưởng, thì thực thế lực của Bôn rất mạnh. Lý Bôn có quan hệ gì với anh em Lý Trường Nhân hay Lý Khải, Lý Tắc không? Họ đều là thổ nhân Giao Chỉ, đều là những người có thế lực và đều mang họ Lý. Dù có hay không nhưng rõ ràng họ Lý đã mang đến sự độc lập cho Giao Châu một khoảng thời gian dài với những cái tên: Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiền, Phục Đăng Chi, Lý Khải, Lý Tắc, Lý Bôn, Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử. Dẫu có những thời điểm bị gián đoạn bởi những hoạt động quân sự của phương bắc tại châu Giao, song về cơ bản những hoạt động này không làm mất đi tính độc lập. Thời kỳ độc lập này khác hẳn với thời kỳ tự trị trước đó, ở thời kỳ tự trị, những điều động nhân sự ở phương bắc có ảnh hưởng khá lớn tới châu Giao, thế nhưng ở thời kỳ độc lập này, những cất nhắc của bắc triều không có ý nghĩa gì, châu Giao hoàn toàn tự quyết vấn đề nhân sự, việc thông qua bắc triều chỉ là mang tính hình thức và cuối cùng. Châu Giao vẫn “xin” phương bắc là bởi chính sách ngoại giao và cũng là nhận thức tư tưởng độc lập vẫn đang ở mức độ phôi thai, chưa rõ ràng, rõ rệt như thời kỳ sau này.
Tính độc lập biểu hiện rõ nét hơn khi xảy ra xung đột giữa bắc triều và phương nam, khi phương nam đề bạt, phương bắc gạt đi thì việc chiếm giữ châu, bất tuân xảy ra. Đó chính là biểu hiện của độc lập. Biểu hiện này rõ ràng hơn khi Tiêu Tư được phương bắc cử làm Thứ sử Giao Châu, việc này chính là lời tuyên bố của bắc triều về quản lý châu Giao và nó được đáp trả bằng một hành động khác (khởi binh tiến đánh chiếm giữ châu Giao) và một tuyên bố khác (lập quốc đặt niên hiệu) mà bắc triều đã cố lờ đi. Chúng ta nên nhìn nhận sự kiện Lý Bôn xuất binh đánh đuổi Thứ sử Tiêu Tư dưới góc nhìn của một cuộc chiến bảo vệ sự độc lập của vùng lãnh thổ, chứ không phải là một cuộc nổi dậy đánh đuổi một thứ sử tham lam hà khắc. Rõ ràng là có một sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức độc lập của dân tộc ở thời kỳ này.
Sau cuộc nam tiến của Trần Bá Tiên, gánh nặng được đặt lên vai của người anh họ Lý Thiên Bảo và Lý Thiệu Long. Họ Lý vẫn tiếp tục cự giữ vùng Cửu Chân và sau này là toàn bộ châu Giao.   

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

GIẢ THUYẾT VỀ BỘ LỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG

Những phát hiện của khảo cổ học đang cho thấy ngày càng chắc chắn nguồn gốc Trống Đồng tại Việt Nam, đồng thời việc giải mã những ý nghĩa của các hoa văn trên trống đồng cũng có những bước tiến.
Trống đồng là một loại nhạc cụ gõ bằng đồng hiện diện tại vùng Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc, xuất hiện từ thời đại đồ đồng. Nó không chỉ có chức năng nhạc khí mà còn có những chức năng khác như làm biểu tượng cho quyền lực, tôn giáo. Trống thường thuộc về những người thủ lĩnh và là biểu tượng của quyền lực.
Tại Phương Tây, đã có dấu vết rằng người ta đã biết về trống đồng từ năm 1682 và đáng chú ý nhất là nghiên cứu (về sự phân loại) của nhà khảo cổ học người Áo Franz Heger.
Tại nước ta, người giải mã thông điệp trên trống đồng tạo ra nguồn cảm hứng cho những nhà nghiên cứu khác, là Đa Minh Lương Kim Định, tác giả (của Việt Lý Tố Nguyên) đã thấy triết lý của người Việt trong trống. Tác giả (của Việt Nam văn minh sử) Lê Văn Siêu phát hiện ra trống đồng là bộ lịch cổ. Đi xa hơn, tác giả (của Người Việt - chủ nhân của kinh Dịch và chữ vuông) Viên Như cho biết trống là cuốn kinh Dịch.
Chúng ta sẽ đưa ra giả thuyết, giải mã cho những hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ.
Tài liệu: Trống đồng Ngọc Lũ
Vào khoảng 1893 - 1894, trống được tìm thấy ở xã Như Trác, huyện Nam Xang (phủ Lý Nhân, Hà Nam) sau được đem về cúng vào đình làng Ngọc Lũ, để khi có hội thì dùng. Năm 1902 nhân cuộc đấu xảo ở Hà Nội, trống được đem ra trưng bày. Viện Viễn Đông Bác Cổ bèn xuất 550 đồng bạc Đông Dương mua lại và lưu trữ ở Hà Nội.
Trống còn tương đối nguyên vẹn, có một lớp pa-tin màu xanh ngả xám. Trống có hình dáng cân đối, mặt trống hơi tràn ra ngoài tang trống. Trống có đường kính 79cm, cao 63cm.Thân trống có 3 phần: Phần trên phình ra gọi là tang, nối liền với mặt trống; phần giữa thân trống hình trụ tròn thẳng đứng; phần chân hơi loe thành hình nón cụt. Có bốn chiếc quai chia làm hai cặp gắn vào tang và phần giữa trống, được trang trí hình bện thừng. Trống có hai loại hoa văn là hoa văn hình học và hoa văn người, động vật và đồ vật.
Hoa văn trên mặt trống
Chính giữa mặt trống là hình ngôi sao nổi 14 cánh. Xen giữa các cánh sao là những hoạ tiết hình tam giác. Từ trong ra ngoài có tất cả 16 vành hoa văn đồng tâm bao bọc lấy nhau. Các vành 1, 5, 11 và 16 là những hàng chấm nhỏ. Các vành 2, 4, 7, 9, 13 và 14 là những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Vành 3 là những chữ   gãy khúc nối tiếp. Vành 12 và 16 là văn răng cưa. Vành 6, 8 và 10 là vành có hình người, động vật được xếp xung quanh ngôi sao và ngược chiều kim đồng hồ.
Hình người: Người có thể đang mặc váy dài, có hai vạt tỏa ra hai phía, vừa đi vừa múa, có người tay cầm rìu, có người thổi kèn, có người cầm giáo, cán giáo có trang trí lông chim. Hoặc có thể người đang quay mặt về phía nhà cầu mùa, xõa tóc, mặc váy hay có đôi trai gái đang cầm chày giã vào một chiếc cối, đầu chày có trang trí lông chim. Hình nhà: có hình nhà liên quan đến nghi lễ tôn giáo, có mái hình cung, hai đầu là hai trụ đứng để chắn phên. Hoặc có nhà hình tháng nóc cong lên như hình thuyền, hai đầu có hình chim mắt to, hai bên có cột chống đỡ. Nóc nhà có hai con chim đậu, một con trong giống hình chim công, một con trông giống hình gà trống.
Vành 8 gồm hai nhóm, mỗi nhóm có 10 con hươu cách nhau bằng hai tốp chim bay, một tốp 6 con và một tốp 8 con. Cứ một con hươu đực thì đến một con hươu cái. Vành 10 gồm 36 con chim, 18 con chim đậu và 18 con chim đang bay. Chim bay là loại chim mỏ dài, có mào, đuôi và chân dài, mình gầy thuộc loại cò, sếu hoặc vạc; chim đậu có nhiều loại. Con thì mỏ ngắn vênh lên, con thì mỏ dài chúc xuống, phần đông là chim ngậm mồi. Các con chim đậu đều có đuôi ngắn.
Ngoài những hoa văn trên, ở rìa mặt trống có một số vết lõm, đó là dấu vết của những con kê còn để lại khi đúc trống.
Hoa văn ở thân trống
Phần trên cùng của tang trống là đoạn tiếp giáp với mặt trống có 6 vành hoa văn hình học, các vành 1 và 6 là những đường chấm nhỏ thẳng hàng, vành 2 và 5 là văn răng cưa, đỉnh quay về hai phía có những chấm nhỏ xem kẽ, vành 3 và 4 là hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song.
Tiếp theo đoạn này là hình 6 chiếc thuyền, chuyển động từ trái sang phải, xen giữa các thuyền là hình chim đứng. Chim có từ 1 đến 3 con. Đứng giữa thuyền là người chỉ huy cầm trống đang điều khiển. Mũi thuyền có từ 1 đến 2 người tay cầm vũ khí như giáo hoặc rìu chiến, đó là những thủy binh đánh gần. Mỗi thuyền đều có một người cầm lái đầu đội mũ lông chim cao, tay lái có trang sức lông chim. Trên sàn thuyền có một người bắn cung, không đội mũ lông chim mà búi tóc, đó là những thủy binh đánh xa. Ngoài ra, trên khoảng giữa hai thuyền có một con chó đứng nghểnh mõm lên phía sàn giống như chó săn. Phần dưới của tang trống là ba vành hoa văn hình học. Chân trống không có trang trí.
Tài liệu: Trống đồng Sông Đà (trống Moulié)
Trống thuộc về viên quan lang người Mường vùng sông Đà thuộc tỉnh Hòa Bình. Năm 1889, trống được mang trưng bày tại cuộc đấu xảo quốc tế ở Paris và sau đó không được trở về Việt Nam nữa.
Trống còn tương đối nguyên vẹn, mặt và thân trống có nhiều vết sẹo, đường kính mặt là 78cm, chiều cao là 61cm. Hoa văn trang trí, hình dáng và kích thước tương tự như trống Ngọc Lũ I và Hoàng Hạ.
Hoa văn tại mặt trống
Chính giữa mặt trống có hình ngôi sao nổi 14 cánh, xem kẽ các cánh sao là những họa tiết trang trí kiểu lông công. Bao quanh ngôi sao là 15 vành hoa văn, gồm hai loại: hoa văn hình học và hình khắc người, động vật và vật.
Về hoa văn hình học, ngoài những hoa văn tương tự như hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ I như các chấm nhỏ thẳng hàng, chữ gãy nối tiếp, vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến song song, văn răng cưa, còn có thêm một vành gồm hai đoạn hồi văn xen giữa với hai đoạn văn xoắn ốc hình quả trám kèm theo vòng tròn chấm giữa.
Vành có 18 hình chim, gồm 16 hình chim bay, giống với hình chim ở vành 9 của trống Hoàng Hạ và hai chim đứng.
Hoa văn ở thân trống
Phía trên của tang trống có một băng hoa văn hình học gồm 6 vành: hai vành 1 và 6 là những đường chấm nhỏ, các vành 2 và 5 là văn răng cưa, hai vành 3, 4 là vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến.
Dưới băng hình học này là hình 6 chiếc thuyền, xen giữa các thuyền có hình một chim đứng. Đây là loại chim cổ cao, chân giống con chim hạc. Cứ hai chiếc thuyền thì lại có một con chim đứng. Mỗi thuyền đều có 5 người, mũ trên đầu họ đều có hình đầu chim.
Bên dưới những chiếc thuyền này là một băng hoa văn hình học, gồm 3 vành: một vành hoa văn vòng tròn có chấm giữa nằm giữa hai đường chấm nhỏ. Trống có hai đôi quai kép trang trí văn thừng. Chân trống không có trang trí.
Nhận xét:
Việc trống đồng sông Đà, vành có 18 hình chim gồm 16 hình chim bay và 2 hình chim đứng liền nhau (có diện tích bằng với diện tích của 1 hình chim bay) cho thấy: Nghệ nhân làm trống ngay từ đầu có ý định chạm khắc 18 hình chim bay nhưng do sơ ý đã chia thành 17 khoảng trống do đó thiếu 1 khoảng trống. Người nghệ nhân này đã khắc phục sai sót bằng cách chạm khắc 2 hình chim đứng ở khoảng trống số 17 để đảm bảo đủ 18 hình chim. Như vậy rõ ràng con số 18 (thông qua số lượng hình chim) phải mang thông điệp nào đó chứ không phải là việc chạm khắc ngẫu nhiên.
Thêm nữa, tại vành 8 của trống đồng Ngọc Lũ có 2 nhóm hươu (mỗi nhóm gồm 10 con) và 2 nhóm chim bay (nhóm có 6 con và nhóm có 8 con). Nếu chỉ đơn thuần là hoa văn trang trí thì 2 nhóm chim thường có số lượng bằng nhau khi đó mới đảm bảo tính thẩm mỹ, nhưng đằng này lại có sự sai khác về số lượng khiến cho tính cân đối bị mất đi, do vậy chỉ có thể kết luận, việc phân chia này là sự cố ý của nghệ nhân.
Kết luận: các hoa văn trên trống đồng (Ngọc Lũ) không chỉ đơn thuần mang tính trang trí mà nó còn là một thông điệp. Nhưng thông điệp này có thể là gì? Giả thuyết rằng: Đó là bộ lịch của người Việt cổ.
Tài liệu: Lịch đoi của người Mường
Lịch được phát minh ở rất nhiều các nền văn hóa, trong đó có nền văn hóa Hán. Lịch được tính theo mặt trăng (âm lịch) hoặc mặt trời (dương lịch) hoặc cả mặt trăng và mặt trời (âm dương lịch). Trong quá trình tiếp xúc với nền văn hóa Hán, người Việt đã tiếp thu nguyên lý của Hán lịch, đồng thời có sự điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh. Hán lịch là loại âm dương lịch, đó là loại lịch tính theo tuần trăng nhưng có sự điều chỉnh thời gian theo mặt trời, việc điều chỉnh thời gian ấy hình thành tháng nhuận. Hán lịch một năm có 12 tháng, mỗi tháng có 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ). Chu kỳ của Hán lịch là 60 năm.
Trước khi tiếp thu và sử dụng lịch âm dương của người Hán, người Việt cổ có lịch không? Trong bài Đi tìm cuốn lịch của người Việt cổ của tác giả Chu Văn Khánh viết:
“GS Hoàng Xuân Hãn cho rằng: “Nay không thấy dấu tích gì giúp ta biết cách xếp đặt ngày tháng của dân Lạc Việt xưa. Nhưng đoán rằng “văn hoá trống đồng” của nước Văn Lang chắc đã dùng năm 12 tháng, tháng lần lượt 29, 30 ngày, cũng không hẳn là vô lý. Tuy ở vùng nhiệt đới, khí nóng lạnh đến cực để làm giới cận cho thời tiết, nhưng gió mùa, nước lũ khá điều hoà, cũng đủ gợi kỳ hạn của năm”. Nhưng đó cũng chỉ là phỏng đoán mà chưa có cứ liệu gì minh chứng.
Nhà nghiên cứu sử học Bùi Huy Hồng đã từng tìm cách giải mã lịch tính trên trống đồng Hoàng Hạ thông qua cách đo bóng nắng trên mặt trống, song cũng không tìm thấy cấu trúc của cuốn lịch xưa.
Trong cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Lê Mạnh Thát đã dành một mục với nhan đề “Lịch pháp Việt Nam” để tìm cuốn lịch của người Việt xưa. Ông căn cứ vào 10 truyện trong cuốn Lục độ tập kinh có ghi chép các thông tin về lịch để dựng lại cấu trúc lịch cổ. Theo ông: “hệ thống lịch chia năm ra 360 ngày, rồi phân bổ thành bốn mùa, mỗi mùa gồm ba tháng, mỗi tháng có 30 ngày cùng với việc dùng hệ 7 ngày làm tuần là một di sản của lịch pháp thời Hùng Vương còn được bảo lưu trong Lục độ tập kinh qua 10 truyện”. [nhưng] Thực ra đây là cấu trúc của một loại lịch Ấn Độ cổ đại. [lược một đoạn] Vậy tìm cuốn lịch của người Việt cổ xưa ở đâu?”.
“Đồng dao Việt Nam có bài về thời gian trăng mọc:
Mồng một lưỡi trai/ Mồng hai lá lúa/ Mồng ba câu liêm/ Mồng bốn lưỡi liềm/ Mồng năm liềm giật/ Mồng sáu thật trăng/ Mồng bảy thượng huyền/ Mười rằm trăng náu/ Mười sáu trăng treo/ Mười bảy sảy giường chiếu/ Mười tám rám trấu/ Mười chín đụn dịn/ Hăm mươi giấc tốt/ Hăm mốt nửa đêm/ Hăm hai hạ huyền/ Hăm ba gà gáy/ Hăm bốn ở đâu/ Hăm nhăm ở đấy/ Hăm sáu đã vậy/ Hăm bảy làm sao/ Hăm tám thế nào/ Hăm chín thế ấy/ Ba mươi chẳng thấy/ Mặt mày trăng đâu?
Bài ca dao này không phản ánh lịch âm dương du nhập của Trung Hoa vì nguyên tắc định ngày đầu tháng (ngày sóc) trong lịch Trung Hoa là ngày không trăng chứa thời điểm giao hội, còn ngày mồng một trong bài ca dao trên lại là ngày có trăng non (Mồng một lưỡi trai). Điều này được khẳng định một lần nữa bằng câu “Tối như đêm ba mươi”, nghĩa là ngày cuối tháng mới là ngày không trăng. Mồng một trong bài ca dao ấy thực chất tương ứng với ngày mồng hai trong âm dương lịch. Vậy bài ca dao này phản ảnh cuốn lịch nào?
Chúng tôi bắt gặp ở người Mường Bi (huyện Tân Lạc, Hoà Bình) cũng có một bài ca dao tương tự: 
[lược một đoạn] Ngày một bằng lá thai (lá cỏ tranh)/ Ngày hai bằng lá ngả (lá công chít)/ Ngày ba lưỡi liềm/ Ngày bốn trăng sáng quầng/ Ngày năm giữa tháng/ Ngày sáu đóng dấu đồi/ Ngày bảy mọi vật đều ngủ say trăng mới lên/ Ngày tám trẻ khóc vào ban đêm trăng mới lên/ Ngày chín con diều hâu gọi trăng lên.
Bài ca dao này phù hợp với cuốn lịch cổ truyền của người Mường, gọi là sách Đoi (tiếng Mường đọc là Khách Đoi) hay còn gọi là Lịch Tre. Trong bài “Lịch Tre của người Mường” trên tạp chí Văn hoá dân gian số 5 (77) năm 2001, tôi đã công bố những nhận định sơ bộ ban đầu về cách tính lịch cổ truyền của người Mường và cơ bản khôi phục diện mạo của cuốn lịch này. Có thể tóm tắt như sau:
Cuốn lịch Mường được khắc đầy đủ trên 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên đó ghi các ký hiệu ngày, tháng và các hiện tượng tự nhiên như: ngày mưa, ngày bão; các hiện tượng xã hội như: ngày có khách, ngày đi kiếm cá, ngày săn thú. Một ngày chia thành 16 giờ, mỗi giờ tương ứng với 1,5 giờ dương lich. Người ta không xác định giờ bằng công cụ nhân tạo mà xác định rất linh hoạt thông qua các hiện tượng tự nhiên như: gà gáy, mặt trời mọc, tang tảng sáng. Điều lý thú là ngày không phải bắt đầu từ nửa đêm, bình minh, hay hoàng hôn như các loại lịch khác trên thế giới mà là thời điểm trước bình minh: gà gáy. Tháng phù hợp với tuần trăng, nên có tháng đủ 30 ngày và tháng thiếu 29 ngày. Một tháng chia thành ba tuần, gọi là tuần Cây, tuần Lôồng và tuần Cối tương ứng với thượng tuần, trung tuần và hạ tuần trong lịch âm dương phản ánh chu kỳ chợ phiên truyền thống. Mỗi tuần có 10 ngày, nếu tháng thiếu tuần cuối có 9 ngày. Năm thường có 12 tháng, năm nhuận có thêm 1 tháng. Tôi đồng ý với ông Kiều Bá Mộc cho rằng từ “Lôồng” được bảo lưu và biến âm thành từ “Mồng” dùng để chỉ 10 ngày đầu tháng trong lịch âm dương ngày nay của người Việt”.
“Cách tính Lịch Tre cổ truyền đã bị mai một, nhưng chắc chắn trước khi có lịch âm dương họ đã có cách tính riêng của mình. [lược một đoạn] Bóc tách từng lớp bụi mờ thời gian, chúng ta nhận thấy trong Lịch Tre của người Mường có những điểm gạch nối với những mảnh vỡ của cuốn lịch Việt cổ còn lại trong ca dao, tục ngữ. Đó là, đầu tháng là ngày có trăng non, cách gọi 10 ngày đầu tháng là “Mồng”. [lược một đoạn] Như vậy, nếu Lịch Tre có từ trước khi cộng đồng chung Việt-Mường chia tách, cũng có nghĩa nó là tài sản chung mà tổ tiên người Việt, người Mường đã sáng tạo nên.
Kiều Bá Mộc đã sưu tầm tại Mường Bi (Tân Lạc, Hoà Bình) một truyền thuyết có liên quan đến nguồn gốc của cuốn Lịch Tre. Truyện kể rằng:
Vào đời Hùng Vương dựng nước, nhà vua có lần dạo thuyền trên sông, do sơ ý mà để rơi một viên ngọc quý. Nhiều người thợ lặn được gọi đến, song không một ai tìm ra. Nhà vua bèn triệu tất cả các đạo sĩ nổi tiếng trong nước để dò tìm viên ngọc, nhưng đều vô hiệu. Một hôm có một thổ lang Mường Bi, tiếng tăm nổi cồn trong ngoài mường xin yết kiến nhà vua. Sau khi xem quẻ bói bằng chân gà, thổ lang bình tĩnh tâu rằng.
- Cúi xin bệ hạ cứ yên tâm. Viên ngọc quý của Người theo thần được biết, không thể nào mất được. Nó đang đợi giờ tốt để trở về với nhà vua.
Vua tỏ lời cảm ơn thổ lang, nhưng lòng dạ vẫn phân vân nghi hoặc.
Bước sang ngày thứ sáu kể từ khi thổ lang Mường Bi gieo quẻ, vào buổi sáng có người dân chài đem dâng vua một con chép to, vừa bắt được ở dưới sông. Nhà vua vẫn trong tâm trạng không vui, vì chưa có tăm hơi gì về viên ngọc quý. Mãi đến chiều tối, người làm bếp của vua mổ thấy trong bụng cá một viên ngọc sáng rực, vội tâu báo cho vua hay. Tìm ra viên ngọc, nhà vua mừng khôn xiết. Không quên công người báo điểm tốt, nhà vua cho gọi thổ lang Mương Bi lại, gia thưởng nhiều châu báu ngọc ngà, nhưng thổ lang Mường Bi đều từ chối. Ông chỉ xin nhà vua gia ân một điều để cho dân vùng thổ lang cai quản ngày thì lui một ngày, và tháng lại tiến sớm hơn ba tháng. Thấy việc đó có nhiều ý nghĩa, nhà vua ưng thuận liền cho lập đàn tế cáo trời đất chứng giám.
Từ đó, người Mường ở Mường Bi lập lịch và giữ mãi về sau này”. Và
“Như đã trình bày ở trên, nguyên tắc ngày lui, tháng tiến là cách tính lịch bằng phương pháp đối chiếu với lịch âm dương, nó chỉ xuất hiện sau khi lịch Trung Hoa được du nhập vào nước ta và người Mường đã tiếp nhận, sử dụng nó song song với Lịch Tre. Cách lý giải theo truyền thuyết là nguyên tắc đối chiếu xuất hiện từ thời Hùng Vương hoàn toàn không hợp lý và chắc chắn rằng truyền thuyết này xuất hiện vào thời kỳ muộn khi mà cách tính Lịch Tre cổ truyền đã bị mai một và trở thành hoá thạch”. Và
“Trong sử thi “Đẻ đất đẻ nước” đã dành một chương nói về việc đặt ra lịch, đó là chương “Chia năm chia tháng”. [lược một đoạn] [nhưng] Nguồn tư liệu trên không đưa ra một thông tin gì khả dĩ về thời điểm xuất hiện của Lịch Tre. [lược một đoạn] Xét về mặt lịch pháp, Lịch Tre là một loại lịch nguyên thuỷ, bởi nó dựa vào việc quan sát trăng, sao trực tiếp để tính lịch. So với lịch âm dương Trung Hoa, Lịch Tre chưa có một hệ thống tính toán chặt chẽ dựa vào các thuật toán và không thể tính toán trước được cho các năm. Bởi vậy nó không thể nảy sinh sau khi mà người ta tiếp nhận lịch Trung Hoa. Hay nói một cách khác, người ta không bao giờ sáng tạo ra cái lạc hậu hơn những cái cùng loại đã và đang có”.
Tiểu kết, chúng ta có một vài tóm tắt như sau:
- Các nhà nghiên cứu đã đề xuất những bộ lịch được cho là của người Việt cổ tuy nhiên chưa thể đưa đến kết luận cuối cùng.
- Căn cứ vào bài đồng dao tác giả Chu Văn Khánh phát hiện ra bài đồng dao không mô tả lịch của Trung Hoa.
- Trong khi đó có những dấu vết cho thấy xuất hiện mối quan hệ giữa bộ lịch cổ của người Mường (lịch Đoi) với những mảnh vụn trong văn hóa Việt.
- Cuối cùng có đủ cơ sở về nhân chủng, ngôn ngữ, văn hóa để xác định: Lịch Đoi là bộ lịch chung của tổ tiên người Việt – Mường.
- Lịch Đoi là sản phẩm và được tổ tiên người Việt – Mường sử dụng theo một cách riêng có trước khi tiếp xúc với Hán lịch. Khi tiếp xúc lịch Trung Hoa người Việt đã đối chiếu với lịch Đoi khiến cho cách tính lịch Tre riêng có bị mai một và thất truyền.
- Trước những ưu thế của Hán lịch và Tây lịch, lịch Đoi của người Mường bị ngoại hóa, còn trong cộng đồng người Việt thì nó chỉ còn là những mảnh vụn sót lại trong nền văn hóa mà không đủ để nhận diện.
Nhận xét:
Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý vài điểm quan trọng sau: Thông qua sự tồn tại của nguyên tắc ‘ngày lùi, tháng tiến’ cho chúng ta biết sự giống nhau và khác nhau giữa lịch đoi của người Mường với lịch âm dương của người Hán. Ngoài những điểm khác nhau (mang tính chất chi tiết) thì về cấu trúc cơ bản, 2 bộ lịch là giống nhau. Cả 2 bộ lịch đều lấy 1 năm gồm 12 tháng, lấy tháng có 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ). Năm có tháng nhuận. Điểm khác nhau là lịch đoi lùi 1 ngày trong khi tháng thì tiến. Việc chia tháng theo tuần ở lịch Đoi và thêm tiết khí trong tháng ở lịch Trung Hoa cũng là đặc điểm riêng có, tuy nhiên nó không làm thay đổi cấu trúc của các quãng thời gian mà chỉ làm chi tiết thêm mà thôi.
Tôi cho rằng: Sự giống nhau cơ bản về cấu trúc khoảng quãng thời gian giữa lịch Đoi và lịch âm dương Trung Hoa không phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là khi chúng có khoảng thời gian tiếp xúc với nhau rất dài. Có thể ban đầu lịch Đoi không có cấu trúc như chúng ta thấy bây giờ, mà có sự sai khác tương đối. Nhưng do tiếp xúc với lịch âm dương của người Hán, tổ tiên người Việt – Mường đã cải tiến lịch Đoi trên cơ sở lịch Trung Hoa, vì thế mà diện mạo như chúng ta thấy ngày nay của lịch Đoi có cấu trúc tương đối giống (nếu không muốn nói là rất giống) với âm dương lịch của Trung Quốc.
[Một manh mối nữa, mà chúng ta không thể không xem xét, đó là: Liệu rằng có sự tồn tại mối liên hệ giữa nguyên tắc “ngày lùi tháng tiến” với ngày đầu tháng (ngày có trăng non); ngày cuối tháng (ngày không trăng) trong bài đồng dao không? Nếu chúng ta giả sử một kịch bản diễn ra như sau: Khi tổ tiên người Việt - Mường tiếp thu âm dương lịch của người Hán nhưng để phù hợp với hoàn cảnh hoặc vì một lý do nào đó, mà cần phải cải biên do đó đã dẫn đến việc lấy ngày có trăng non làm ngày đầu tháng (trong khi lịch của người Hán, ngày đầu tháng là ngày sóc – ngày không trăng). Sau khi đã cải biên, bản sao (nhưng không giống hoàn toàn) được sử dụng rộng rãi và tuỳ vào từng không gian, dân tộc mà bản sao này được nhận thức khác nhau. Đối với người Việt thì nhận thức thể hiện thông qua bài đồng dao, còn với người Mường thì nhận thức được thể hiện thông qua nguyên tắc “ngày lùi, tháng tiến”. Do vậy bài đồng dao của người Việt và nguyên tắc “ngày lùi tháng tiến” của người Mường chẳng qua cũng chỉ là: Hai phương pháp khác nhau để đối chiếu giữa bản gốc (lịch âm dương của người Hán) với bản sao (lịch đoi của người Mường và lịch âm dương của người Việt). Tất nhiên đây cũng chỉ là một giả sử và không có căn cứ cho giả sử này].
Như vậy tổ tiên người Việt - Mường đã tạo ra bộ lịch Đoi để sử dụng trong đời sống sinh hoạt xã hội tuy nhiên việc lịch Đoi có thời gian tiếp xúc rất dài và có cấu trúc giống với âm dương lịch của Trung Hoa (được chứng tỏ qua sự tồn tại của nguyên tắc “ngày lùi tháng tiến”) nên không thể không đặt câu hỏi nghi vấn: Lịch Đoi được cải tiến những gì trên cơ sở lịch âm dương của người Hán hay diện mạo ban đầu tự nhiên của lịch Đoi như thế nào?
Chúng ta sẽ cố gắng lượm lặt những mảnh vụn còn sót lại trong nền văn hoá Việt để phục dựng lại phần nào đó bộ lịch và xa hơn nữa là tìm dấu vết của bộ lịch này trên trống đồng Ngọc Lũ.
Trong bài đồng dao của người Việt: Mồng một lưỡi trai/ Mồng hai lá lúa/ Mồng ba câu liêm/ Mồng bốn lưỡi liềm/ Mồng năm liềm giật/ Mồng sáu thật trăng/ Mồng bảy thượng huyền/ Mười rằm trăng náu/ Mười sáu trăng treo/ Mười bảy sảy giường chiếu/ Mười tám rám trấu/ Mười chín đụn dịn/ Hăm mươi giấc tốt/ Hăm mốt nửa đêm/ Hăm hai hạ huyền/ Hăm ba gà gáy/ Hăm bốn ở đâu/ Hăm nhăm ở đấy/ Hăm sáu đã vậy/ Hăm bảy làm sao/ Hăm tám thế nào/ Hăm chín thế ấy/ Ba mươi chẳng thấy/ Mặt mày trăng đâu? Và câu nói dân gian “Tối như đêm 30”.
Cho chúng ta biết trong bộ lịch của người Việt cổ, ngày cuối tháng mới là ngày không trăng, lịch của người Mường cũng tương tự. Để ý thấy trong bài đồng dao của người Việt có sự xuất hiện của từ “mồng”. Tác giả Kiều Bá Mộc cho rằng từ “mồng” là biến âm của từ “lôồng” dùng để chỉ 10 ngày đầu tháng. Một tháng chia thành ba tuần, gọi là tuần Cây, tuần Lôồng và tuần Cối, phản ánh chu kỳ chợ phiên truyền thống. Mỗi tuần có 10 ngày nếu tháng thiếu tuần cuối có 9 ngày. Như vậy trong lịch Đoi của người Mường, 10 ngày tạo thành nhóm và việc sử dụng từ “mồng” (chỉ được dùng với 10 ngày từ ngày 1 đến ngày 10) trong lịch của người Việt cũng gợi ý chúng ta tồn tại đơn vị nhóm gồm 10 ngày. Trong bài đồng dao ngoài những ngày (từ ngày 1 đến ngày 10) là đặc biệt vì có sự xuất hiện của từ “mồng” đi kèm, thì những ngày còn lại không có gì đáng chú ý. Lịch của người Mường sử dụng thuật ngữ “tuần” cũng cho thấy (nhấn mạnh) vai trò của nhóm đơn vị 10 ngày (bằng 1 tuần). Như vậy, chúng ta lưu ý tới ngày không trăng, ngày trăng non và nhóm đơn vị 10 ngày liên tục trong lịch của người Việt cổ.
Tài liệu: Trống đồng Hoàng Hạ
Trống được tìm thấy năm 1937 tại xóm Nội, thôn làng Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (Hà Nội ngày nay). Trống có đường kính mặt là 79cm, chiều cao là 61,5cm. Trống bị long mặt, rỉ gần khắp mặt và cả một phần thân trống. Hoa văn trang trí, hình dáng và kích thước tương tự như trống Ngọc Lũ.

Hoa văn tại mặt trống

Chính giữa mặt trống có hình ngôi sao nổi 16 cánh, xem kẽ các cánh sao là những họa tiết trang trí kiểu lông công. Bao quanh ngôi sao là 15 vành hoa văn, gồm hai loại: hoa văn hình học và hình khắc người, động vật và vật.
Về hoa văn hình học, ngoài những hoa văn tương tự như hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ như các chấm nhỏ thẳng hàng, chữ gãy nối tiếp, vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến song song, văn răng cưa, còn có thêm vành hoa văn hình xoắn ốc và vòng tròn đồng tâm ở vành thứ 7 từ trong ra ngoài.
Về hình khắc người và động vật thì có vành hươu nai, chim bay xem kẽ. Vành số 9 của trống Hoàng Hạ chỉ có 14 con chim bay. Đó là những hình chim mỏ dài, đuôi và chân dài, có mào, không có những hình chim đứng ngậm mồi.
Rìa mặt trống có 30 lỗ nhỏ cách đều nhau, là dấu vết con kê trên khuôn đúc trống.

Hoa văn ở thân trống

Bố cục trang trí và hình hoa văn giống như trống đồng Ngọc Lũ. Trên tang trống, ngoài các vành hoa văn hình học, cũng có hình 6 chiếc thuyền, xen giữa các thuyền là những hình chim có từ 2 đến 4 con. Về trang sức, tất cả thuyền trưởng cầm trống, vũ sĩ và người cầm lái đều đội mũ lông chim khá cao. Trống có hai đôi quai kép trang trí văn bện thừng. Chân trống không có hoa văn.
Nhận xét:
So sánh giữa trống đồng Ngọc Lũ với trống đồng Hoàng Hạ thì nhận thấy: Trống đồng Ngọc Lũ có chạm khắc hoa văn gồm 2 nhóm chim (14 con) và 2 nhóm hươu (20 con) ở vành 8, trong khi trống đồng Hoàng Hạ không có, thay vào đó là 29 hình tròn – cong liên tục. Các trống sông Đà, Bản Thôm, Quảng Xương cũng không có vành chạm khắc nào giống với vành số 8 của trống Ngọc Lũ, thậm chí là trên các trống này còn không thấy sự xuất hiện của vành chạm khắc (phán đoán là) mang chức năng của vành số 8 trên trống Ngọc Lũ và vành có 29 hình tròn cong liên tục trên trống Hoàng Hạ. Do vậy có thể đặt ra giả thuyết rằng: Vành số 8 trên trống đồng Ngọc Lũ là vành được thêm vào để ghi chú,  giải thích cho các vành hoa văn khác (hoa văn ban đầu). Ở đây chúng ta lại thấy sự xuất hiện của nhóm đơn vị gồm 10 con hươu.
Tại vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trên trống đồng Hoàng Hạ theo chiều ngược kim đồng hồ lần lượt gồm: Hình 4 người đánh trống đồng; hình 6 người hoá trang; hình nhà có một người; hình 2 người đang giã; hình nhà có nhiều người; hình 4 người đánh trống đồng; hình nhóm 6 người hoá trang; hình nhà có một người; hình 2 người đang giã; hình nhà có nhiều người. Chúng ta thấy rằng tính cân xứng là rất cao và có 10 nhóm hình. Tại vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trên trống đồng Ngọc Lũ theo chiều ngược kim đồng hồ lần lượt gồm: Hình 4 người đánh trống đồng; hình nhóm 6 người hoá trang; hình nhà có một người; hình 3 người; hình nhà có nhiều người; hình 4 người đánh trống đồng; hình 7 người hoá trang; hình nhà có một người; hình 3 người; hình nhà có nhiều người. Chúng ta thấy rằng tính cân xứng đã bị mất đi và cũng có 10 nhóm hình. Sự phá vỡ tính cân đối trên trống đồng Ngọc Lũ cho thấy sự cố tình của nghệ nhân trong việc tạo ra nó. Tuy vậy chúng ta vẫn biết được rằng vành chạm khắc cảnh sinh hoạt có thể vẫn biểu hiện nhóm đơn vị gồm 10 hình. Thực vậy, nhóm 3 người trên trống đồng Ngọc Lũ gồm 1 người gọi chim và 2 người đang giã, có thể được tách thành 2 hình khi đó nhóm đơn vị sẽ gồm 12 hình chứ không phải 10, tuy nhiên vì trên trống Hoàng Hạ nhóm đơn vị chắc chắn gồm 10 hình, lại thêm đó việc chạm khắc thêm 1 hình người gọi chim ngay cạnh hình 2 người đang giã có tính đối xứng rất cao (ở cạnh 2 hình người đang giã vốn có tính đối xứng nay lại được chạm khắc vào bên cạnh mỗi hình ấy 1 hình người gọi chim giống hệt nhau nên vẫn đảm bảo tính đối xứng) trong khi không cần thiết (vì các hình khác đã được chủ động làm sai khác đi, đành chấp nhận mất tính đối xứng để đảm bảo tính thông điệp) gợi ý chúng ta rằng: Hình thêm vào này (hình người gọi chim) với mục đích làm phong phú nội dung đời sống sinh hoạt, chứ không phải mang một thông điểm nào đó. Do đó vẫn có thể xếp hình 1 người gọi chim và hình 2 người đang giã vào thành 1 hình, vì thế mà vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trên trống đồng Ngọc Lũ cũng như Hoàng Hạ, đều là nhóm đơn vị gồm 10 hình. Nhận định này được củng cố khi trên vành 8 (vành có chức năng giải thích cho các vành hoa văn khác) có 2 nhóm hươu mà mỗi nhóm gồm 10 con. Như vậy những dấu vết đều gợi ý cho chúng ta là hoa văn chạm khắc cảnh sinh hoạt ở vành 6 của trống đồng Ngọc Lũ nên hiểu là nhóm gồm 10 hình.
Nếu chúng ta gạch nối giữa nhóm gồm 10 hình với nhóm gồm 10 ngày “mồng” thì chúng ta có được: Cảnh sinh hoạt của 10 ngày “mồng” trên trống đồng. Theo đó giả sử rằng: Mồng 1 - Lễ cầu (hình nhà 1 người); Mồng 2 - Giã gạo (hình 3 người); Mồng 3 - Tại gia (hình nhà nhiều người); Mồng 4 - Hội trống (hình 4 người đánh trống); Mồng 5 - Đi săn (hình 6 người hoá trang); Mồng 6 - Lễ Cầu (hình nhà 1 người); Mồng 7 - Giã gạo (hình 3 người); Mồng 8 - Tại gia (hình nhà nhiều người); Mồng 9 - Hội trống (hình 4 người đánh trống); Mồng 10 - Đi săn (hình 7 người hoá trang). 
Cảnh sinh hoạt thường ngày thì rất nhiều không thể chạm khắc hết được, nên những chạm khắc ở trên trống đồng là những cảnh sinh hoạt tương đối cơ bản trong đời sống và những cảnh sinh hoạt cơ bản này (phải) có tính chu kỳ do đó chúng ta phán đoán rằng: mồng tiếp theo (hay 10 ngày mồng tiếp theo) các hoạt động sinh hoạt cũng sẽ diễn ra lặp lại như giả sử. Chúng ta tạm gọi 10 ngày mồng là tuần. [1 tuần = 1 mồng, 1 mồng = 10 ngày (hay 10 ngày mồng), ngày 1 là mồng 1; ngày 10 là mồng 10]
Trong xã hội cổ xưa chúng ta bắt gặp nhiều sự xuất hiện của tín ngưỡng phồn thực, hình ảnh rõ ràng nhất là cặp nam nữ đang giao hoan trên thạp đồng Đào Thịnh. Tại vành 8 của trống Ngọc Lũ, chúng ta thấy cứ 1 con hươu đực được xen kẽ với 1 con hươu cái, đây có thể là sự tiếp nối của tín ngưỡng ấy. Và vì vành 8 là vành được tạo thêm nên nó được xem như là lời chú giải cho các vành khác, do vậy biểu hiện tín ngưỡng phồn thực qua hình ảnh hươu đực, hươu cái ở vành 8 là lời giải thích cho hình chạm khắc nào đó ở vành mô tả cảnh sinh hoạt. Chúng ta để ý thấy không có hình ảnh nào trong hình chạm khắc cảnh sinh hoạt có liên quan rõ ràng tới tín ngưỡng phồn thực như hình nhà có nhiều người, nhưng do tính đa thông tin (vì thế mà không thể chắc chắn) nên khó có thể kết luận hình nhà nhiều người đang mô tả sự giao hoan. Có một thông tin khác mà chúng ta có thể chấp nhận là có liên quan tới tín ngưỡng phồn thực, đó là sự tăng lên của số lượng người trong 2 hình: Đi săn. Hình đi săn mồng 5 chỉ có 6 người nhưng hình đi săn mồng 10 có thêm 1 người là 7 tuy nhiên người thứ 7 này nhỏ hơn so với những 6 người còn lại. Đây có thể là hình ảnh thể hiện mối quan hệ với tín ngưỡng phồn thực tuy nhiên bản thân hình ảnh ấy không chỉ dừng lại là sự biểu hiện của tín ngưỡng phồn thức (nếu có) mà nó có thể còn mang nhiều thông điệp nữa.
Nếu giả sử của chúng ta là đúng: Tức là tồn tại quãng đơn vị thời gian có tính chu kỳ bao gồm 10 ngày mồng (tương ứng với 1 tuần) thì thời gian có tính chu kỳ (nếu có) lớn hơn hoặc nhỏ hơn đơn vị tuần sẽ như thế nào? Chúng ta thấy tại vành 10 có 36 con chim trong đó có 18 con chim bay và 18 con chim đậu. Con số 18 (thường là chim bay) xuất hiện trên nhiều trống đồng, đặc biệt là trống đồng sông Đà gợi ý cho chúng ta về tính chu kỳ tuy nhiên trên trống đồng Hoàng Hạ thì chỉ có 14 con chim bay (trùng với 14 tia sáng mặt trời trên trống đồng Ngọc Lũ). Nếu con số 18 có tính chu kỳ thì đó là chu kỳ của cái gì? Vành số 10 là vành cuối cùng chạm khắc nhóm hoa văn người, động vật nên nếu có thì nó sẽ thể hiện chu kỳ ở mức độ rộng nhất của thời gian. Nó có thể là chu kỳ của năm không? Giống như 1 giáp (60 năm) trong lịch của người Hán nếu vậy thì trên trống Ngọc Lũ là chu kỳ 18 (hoặc 36) năm nhưng như vậy thì phải có thông tin về năm, thông tin này nếu có tôi cho rằng nó nên nằm từ vành số 6 trở đi. Nó khó có thể nằm trên vành số 6 vì việc 1 vành hình khó có thể mang (biểu hiện) 2 thông tin (đơn vị) trong cùng hệ thống trường hợp này là thời gian. Nó cũng khó mà nằm ở vành 7 và 9 vì như thế sẽ rất khó để người xem biết được trong khi đây là quãng thời gian quan trọng. Vành số 8 tôi cho rằng nó là vành chú giải hơn là vành chứa thông tin của quãng thời gian độc lập nào đó nên quãng thời gian năm khó mà nằm trên vành này. Như vậy từ vành 6 tới vành 10 chúng ta có 2 vành là: Vành 6 và vành 10 mang thông tin khả dĩ về quãng thời gian độc lập. Trong khi vành 6 đã thể hiện quãng thời gian 10 ngày mồng (quãng thời gian tuần) và nếu vành 10 thể hiện quãng thời gian có tính chu kỳ của năm (gồm 18 hoặc 36 năm) thì không tìm thấy dấu vết của quãng thời gian năm nghĩa là có sự đứt quãng về đơn vị thời gian hay không tìm thấy dấu vết hoá thạch của “loài trung gian” giữa đơn vị tuần và chu kỳ của năm. Đơn vị trung gian ấy có thể là tháng, năm hoặc một đơn vị thời gian nào đó đã mất. Sự đứt quãng này gợi ý chúng ta rằng: Nếu kết luận vành 10 là thể hiện của chu kỳ gồm 18 (hoặc 36) năm sẽ dẫn đến sự không vững chắc và không rõ ràng. Do vậy mà vành 10 phải thể hiện quãng thời gian ít hơn chu kỳ của năm nhưng nhiều hơn tuần (10 ngày mồng). [Chúng ta cũng đã đặt câu hỏi tới quãng thời gian lớn hơn tuần (10 ngày mồng) nó có thể là tháng, năm hoặc quãng thời gian nào đó mà ngày nay không còn. Quãng thời gian rộng hơn tuần này nếu có thì nó cũng nằm từ vành 6 trở ra]. Tôi phán đoán nó thể hiện năm thời gian!
Chúng ta có tuần gồm 10 ngày, chúng ta lại có chu kỳ thời gian là 36, vậy nếu liên hệ 2 thông tin này thì chúng ta có: 10 x 36 = 360 ngày (36 tuần). Tôi cho rằng 36 con chim ở vành 10 của trống đồng Ngọc Lũ là thể hiện 36 tuần (mỗi tuần gồm 10 ngày) và đó chính là độ dài thời gian của 1 năm (1 năm có 360 ngày). So với dương lịch là ít hơn 5 ngày 6 giờ.
Tại vành 6 mồng 5 – đi săn, trong hình 6 người có 1 người đi đầu cầm ngọn giáo có mũi đâm xuống, tương ứng với nó ở vành 8 là con hươu đầu tiên trong nhóm 10 con hươu và tương ứng với nó là con chim đang bay ở vành số 10. Nếu chúng ta lấy cây giáo làm điểm bắt đầu thì: Nhóm 10 con hươu ở vành số 8 tương ứng gọn gàng với 10 con chim (5 con chim bay, 5 con chim đậu) ở vành số 10; 6 con chim ở vành số 8 tương ứng không gọn gàng với 6à7 con chim (3 con chim đậu, 3à 4 con chim bay) ở vành số 10; 10 con hươu ở vành số 8 tương ứng không gọn gàng với 11à12 con chim (6 con chim đậu, 5à6 con chim bay) ở vành số 10; 8 con chim ở vành số 8 tương ứng gọn gàng với 8 con chim (4 con chim bay, 4 con chim đậu) ở vành số 10. Như vậy là trong 4 điểm giao giữa các nhóm chim bay và hươu ở vành số 8 tương ứng với 36 con chim ở vành số 10 thì có 3 điểm giao gọn gàng và 1 điểm giao không gọn gàng. Nếu chúng ta gọi 4 nhóm chim và hươu ở vành số 8 là lời chú giải cho 36 con chim ở vành số 10 thì chúng ta sẽ có 4 quãng thời gian trong 1 năm, tôi cho rằng nó rất có thể là quãng thời gian của 4 mùa. Vì tiết khí thời điểm giao giữa mùa đông và mùa xuân không quá rõ ràng nhất, nên có thể nó tương ứng với điểm giao không gọn gàng. Lần lượt tượng tự chúng ta có giao của 3 điểm gọn gàng còn lại với giao của các mùa. Vậy thì mùa đông có trong khoảng 6à7 tuần (khoảng 60-70 ngày); mùa xuân có trong khoảng 11à12 tuần (khoảng 110-120 ngày); mùa hạ có khoảng 8 tuần (khoảng 80 ngày); mùa thu có khoảng 10 tuần (khoảng 100 ngày).
Như vậy cuốn lịch trên trống đồng Ngọc Lũ: 1 năm được chia thành 4 mùa và 36 mồng, mỗi mồng gồm 10 ngày.
Trong các trống đồng thì tâm trống luôn là hình ảnh của mặt trời, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng đó là biểu tượng của tín ngưỡng thờ mặt trời tuy nhiên những tia sáng phát ra từ mặt trời lại có số lượng khác nhau. Trống Hoàng Hạ có 16 tia mặt trời, trống Ngọc Lũ và trống sông Đà có số lượng bằng nhau và bằng 14 tia, trống Khai Hoá và trống Bản Thôm có số lượng cùng bằng 12 tia, trống Quảng Xương chỉ có 8 tia. Xem xét các hình khắc trên các trống, đặc biệt là chạm khắc cảnh sinh hoạt, thì chúng ta dễ dàng nhận ra giữa các hoa văn có những nét tương đồng do đó mà rất có thể khi đúc trống các nghệ nhân đã tham khảo những khuân mẫu của các trống trước đó vì thế mà những nội dung trong các hoa văn về cơ bản giống nhau rất cao. Thế nhưng những tia sáng từ mặt trời ở tâm trống thì lại liên tục khác nhau, có vẻ như tia sáng ở mỗi trống đồng có một ý nghĩa khác nhau, chứa những thông điệp khác nhau. Chúng ta cũng đã thấy vai trò của con số 18 trong tâm thức của nền văn hoá trống đồng, phần lớn con số 18 được thể hiện qua số lượng chim bay ở vòng ngoài cùng. Việc phải khắc chạm 2 con chim đậu do chia số lượng ô thiếu trên trống đồng sông Đà là bằng chứng vững chắc nhất về sự tồn tại ý nghĩa (có thật) của con số 18, thế nhưng trên trống Hoàng Hạ thì lại không hề tìm thấy dấu vết của con số 18 nào cả? Số lượng chim bay là 14. Lời giải thích hợp lý cho hiện tượng này có thể là: Mỗi một trống đồng mang những thông điệp nhất định, các thông điệp này có thể giống nhau hoặc khác nhau ở một số trống đồng, không phải mọi trống đồng đều có thông điệp giống nhau. Do đó mà bản thân những hình chạm khắc cảnh sinh hoạt tuy là cùng mô típ, cùng tham khảo khuân mẫu nhưng ở mỗi trống đồng lại có sự thay đổi không nhiều để cho phù hợp với thông điệp mà trống đồng đó mang. Chúng ta thấy rằng ở trống Quảng Xương có 6 con chim bay trong khi phần lớn các trống khác có 18 con chim bay, đặc biệt là trống Ngọc Lũ có tới 36 con chim, do 6 và 18 đều có bội là 36 nên có thể đó (con số 36) mới là con số đúng để tìm thông điệp, trong các trống đồng thì con số 18 (con chim bay) chiếm là phần lớn.
Trong trường hợp của trống Ngọc Lũ thì cứ sau một năm, lịch trống đồng sẽ thiếu so với dương lịch (ngày nay) là 5 ngày 6 tiếng vậy nên ở năm thứ 2 sẽ có thêm 1 mồng và vẫn thiếu 12 tiếng do đó sau 4 năm sẽ thiếu 1 ngày nên ở năm thứ 40 thì có thêm tới 2 mồng, khi ấy không còn dư thiếu so với lịch dương nữa. Việc cứ 2 năm có thêm 1 mồng nữa có lẽ liên quan tới con chim bay và con chim đậu trong 36 con chim, như được thể hiện trên trống đồng thì con chim bay và con chim đậu giống 1 cặp hơn là 2 con riêng lẻ hay gợi ý cho chúng ta rằng 2 năm sẽ thành 1 nhóm. Chủ nhân của trống đồng có biết tới mồng nhuận hay không? Chắc chắn là có vì họ quan sát mùa và trăng là có thể biết được. Tuy nhiên tôi cho rằng họ dễ dàng nhận biết được mồng nhuận ở năm thứ 2 và có ít nhất 1 dấu hiệu trên trống đồng thể hiện điều này nhưng tôi cũng ngờ rằng họ không biết đến sự tồn tại của mồng nhuận sau 40 năm vì sự sai khác là rất nhỏ và cần rất nhiều năm (khoảng 40 x 30 x 3 = 360 năm) để nhận biết ra nó, hơn thế nữa tôi không nhận thấy dấu vết nào của chu kỳ 40 năm trên trống đồng Ngọc Lũ.
Khó khăn lớn nhất vẫn chỉ là những tia sáng phát ra từ mặt trời ở tâm trống, có lẽ chúng ta phải chấp nhận rằng: ở mỗi trống đồng khác nhau, những tia sáng này mang những ý nghĩa khác nhau, có lẽ chỉ có thế mới giải thích được sự khác nhau rất lớn về số lượng tia sáng. Những tia sáng này có thể chỉ số tháng trong 1 năm (loại tia có số lượng 12) nó cũng có thể là số thị tộc, ở thời điểm của nền văn hoá trống đồng thì cơ cấu xã hội vẫn là chế độ thị tộc, bộ lạc. Trống đồng trước hết là trống, nhưng trong quá trình sử dụng, trống đồng còn mang thêm nhiều chức năng khác, như thể hiện đời sống xã hội của thị tộc, chứa đựng những thông tin, tri thức quan trọng của xã hội và cũng thể hiện quyền uy của người tù trưởng, người đứng đầu thị tộc hoặc bộ lạc. Với ý nghĩa đó, trống đồng cũng góp phần thể hiện cơ cấu quyền lực trong xã hội thông qua số tia sáng, người đứng đầu thị tộc sở hữu trống đồng có thể không có tia sáng nào, chỉ là hình tròn trên mặt trống. Trong khi những tổ chức lớn hơn thị tộc, gồm nhiều thị tộc là bộ lạc, những bộ lạc này tuỳ theo lịch sử phát triển mà có số lượng thị tộc khác nhau và người đứng đầu bộ lạc, vị tù trưởng này sẽ đúc trống đồng có số tia sáng bằng với số lượng thị tộc của bộ lạc ấy.
Trong trường hợp của trống Ngọc Lũ, số lượng tia sáng là 14, con số này khó có thể là số tháng được, nó có thể là số lượng thị tộc trong bộ lạc mà người tù trưởng đứng đầu không? Có thể lắm! Tuy nhiên do rằng nếu như trống Ngọc Lũ mô tả về ngày tháng, thì số tia sáng cũng nhiều khả năng là cùng mang ý nghĩa đó, trong các quãng thời gian mà chúng ta biết tới thì các hình hoa văn khắc trên trống đồng đã thể hiện gần hết chỉ còn có thời gian trong 1 ngày là chưa có đề cập gì và nếu có thì cả chu kỳ trăng tròn. Liệu rằng 14 tia sáng này có thể hiện 14 giờ trong 1 ngày hay không? Như chúng ta đã nói, vành 8 là sự chú thích cho các vành khác và lần này còn số 14 tia sáng mặt trời được chú thành nhóm 6 và nhóm 8 con chim, nghĩa là 14 tia sáng không thể hiện con số 14 mà là thể hiện con số 6 và con số 8, thế nhưng con số 6 và con số 8 có ý nghĩa gì? Trống đồng sông Đà cũng có 14 tia sáng giống tương đối với trống Ngọc Lũ, số lượng người hoá trang trong vành chạm khắc cảnh sinh hoạt cũng được chia thành nhóm 6 người và nhóm 8 người, nhưng vậy con số 14 chắc chắn nên hiểu là con số 6 và con số 8. Tuy nhiên khi sang trống Ngọc Lũ thì nhóm 8 người trong vành khắc cảnh sinh hoạt lại biến thành 7, ở trống Hoàng Hạ thì có 2 nhóm, mỗi nhóm có 6 người, trong khi số lượng tia sáng là 16, như vậy ở trống Hoàng Hạ, số lượng người hoá trang (12) không còn tương ứng với số tia sáng, trống Ngọc Lũ cũng vậy, số người hoá trang là 13 trong khi số tia sáng là 14, như vậy số người hoá trang đã không còn mang ý nghĩa giải thích cho số tia sáng ở trống Hoàng Hạ và Ngọc Lũ, nó đã mang một ý nghĩa khác. Đối với trống sông Đà có lẽ nhóm 6 người và nhóm 8 người trong vành khắc cảnh sinh hoạt vẫn còn là sự giải thích chi tiết cho số tia sáng mặt trời. Tuy rằng ở trống Ngọc Lũ hình người hoá trang trên vành 6 không còn giữ chức năng là lời giải thích cho số tia sáng mặt trời như ở trống sông Đà nhưng việc chú giải cho số tia sáng ở tâm trống được chuyển cho một hình chạm khắc khác đảm nhiệm và chúng ta biết phải tìm hình chạm khắc đó nằm ở đâu, nó nằm trên vành có chức năng giải thích cho các vành hoa văn khác và đó là hình 6 con chim và 8 con chim trên vành số 8. Chúng ta thấy rằng nhóm 6 người và nhóm 8 người trên trống sông Đà còn được chia nhỏ thành 4 nhóm, 2 nhóm 4 người và 2 nhóm 3 người. Nếu như số tia sáng mặt trời chỉ đơn giản là thể hiện số lượng thị tộc của bộ lạc thì có lẽ không cần phải thể hiện một cách chi tiết như vậy do đó chúng ta có thể nghĩ sự chi tiết này là thể hiện một cái gì đó cần sự phức tạp như số giờ trong 1 ngày chẳng hạn. Một ngày có thể được chia là ban đêm và ban ngày, nếu như thời gian của ngày là 8 thì thời gian của đêm là 6 và ngược lại nếu như thời gian của ngày là 6 thì thời gian của đêm là 8, tuy theo mùa, nhưng tổng thời gian của ngày là bằng nhau và bằng 14. Người Việt có câu “đêm tháng năm chưa nằm đã sáng” là để chỉ đêm ngắn ngày dài và “ngày tháng mười chưa cười đã tối” là để chỉ ngày ngắn đêm dài. Nhóm 6 con chim ở vành 8 tương ứng với mùa đông, thể hiện ngày ngắn đêm dài trong khi nhóm 8 con chim ở vành 8 tương ứng với mùa hè, thể hiện ngày dài đêm ngắn. Như đã biết 1 ngày dễ dàng được nhận biết thành ban ngày và ban đêm, rồi ban ngày thì cũng dễ dàng nhận ra sáng và chiều, ban đêm thì cũng dễ dàng nhận ra tối và khuya, do đó dễ dàng chia ngày thành 4 quãng thời gian lớn như được thể hiện trên trống sông Đà. Chúng ta để ý thấy rằng tương ứng gọn gàng với 2 nhóm hươu, mỗi nhóm 10 con ở vành 8 là 2 nhóm tia sáng, mỗi nhóm gồm 4 tia ở trung tâm trống và tương ứng gọn gàng với 2 nhóm chim 6 con và 8 con ở vành 8 là 2 nhóm tia sáng, mỗi nhóm gồm 3 tia ở trung tâm trống. Việc xác định giờ người Việt cổ có lẽ dựa trên các hiện tượng tự nhiên hoặc đặc tính của các loài động vật do đó mà việc xác định có lẽ chỉ mang tính tương đối.
Một lưu ý nữa là: trên trống đồng sông Đà chỉ có 2 con chim trên vành chạm khắc cảnh sinh hoạt trong khi ở trống đồng Hoàng Hạ con số là 10, còn trên trống Ngọc Lũ con số chỉ là 5. Con số 5 này có thể là số ngày thiếu mà người Việt cổ nhận biết được sau nhiều năm quan sát giữa việc lấy 1 chu kỳ gồm 36 mồng với sự sai lệch về mùa, chỉ cần sau khoảng 6 năm là có thể nhận biết được dấu hiệu của sự lệch về mùa. Nhưng đâu là dấu hiệu chỉ ra rằng con số 5 (con chim) là thể hiện của 5 ngày dư thừa? Có lẽ là do thứ nhất đó là sự trùng hợp và thứ hai là do 5 con chim này nằm trên vành thể hiện quãng thời gian ngày.
Hiện tượng trăng tròn là một hiện tượng chắc chắn sẽ gây nhiều ấn tượng cho người Việt cổ và theo chu kỳ thì khoảng 29,5 ngày trăng lại tròn nghĩa là sau khoảng 29 hoặc 30 ngày thì trăng sẽ lại tròn tuy nhiên con số 29 và 30 được thể hiện như thế nào trên trống đồng? Như đã biết trên trống sông Đà có 2 nhóm người hoá trang có tổng là 14 trong khi trống Hoàng Hạ có 2 nhóm người hoá trang với tổng là 12 người, tuy nhiên ở mỗi trống các con số lại mang những ý nghĩa khác nhau, ở trống Ngọc Lũ thì đặc biệt hơn, đúng ra thì nó (số lượng người hoá trang) phải cùng mang ý nghĩa như trên trống sông Đà, song trên trống Ngọc Lũ ý nghĩa của con số này (con số 14 thể hiện ở số lượng tia sáng mặt trời) đã được thể hiện ở nhóm 6 con chim và 8 con chim. Vậy thì đúng ra sẽ không cần nhóm người hoá trang nữa hoặc nhóm người này ở đây là với một ý nghĩa khác, số lượng người hoá trang đã có sự thay đổi, ở nhóm đáng lẽ là 8 người thì bây giờ chỉ còn có 7 người và điều đặc biệt là người thứ 7 này khá nhỏ so với những người còn lại. Nếu hiểu đây là người được thêm vào thì không phải không có cơ sở khi đó nó có ý nghĩa là tháng nhuận nghĩa là tháng thứ 13 sau 12 tháng trong năm. Nhưng ở đây tôi muốn đề cập tới chiều ngược lại nghĩa là người này mang ý nghĩa bớt đi, nếu chúng ta cho rằng trống Ngọc Lũ là biến thể trên cơ sở của trống Hoàng Hạ về nhóm người hoá trang thì đó đúng là thêm vào, nhưng nếu chúng ta nhìn trên cơ sở của trống sông Đà thì nó lại mang ý nghĩa bớt đi, mà ở đây có vẻ như trống Ngọc Lũ có tự dạng giống với trống sông Đà hơn là trống Hoàng Hạ! Vậy nếu đây là người có ý nghĩa bớt đi thì chúng ta phải hiểu các con số này ra sao? Để ý thấy rằng nếu tính cả người nhỏ này thì (ban đầu vốn có) số lượng người hoá trang của 2 nhóm là: 6 + 7 = 13; trong khi nếu không tính người nhỏ này (bớt đi) thì số lượng người hoá trang của 2 nhóm là: 6 + 6 = 12. Một điều khá trùng hợp là: Tổng số 1 nhóm hươu và 1 nhóm chim là 16 và tổng số 1 nhóm hươu và 1 nhóm chim còn lại là 18. Khi chúng ta đem 1 nhóm hươu cộng 1 nhóm chim ở vành 8 cộng với tổng số lượng người hoá trang ở vành 6 ta được (một cách có chủ ý): 16 + 13 = 29 và 18 + 12 = 30. Đây có thể hiểu là số ngày trong tháng, cũng là số ngày mà trăng tròn trong các tháng khác nhau của năm. Có một điều khá đặc biệt nữa, đó là người hoá trang ở vị trí cuối cùng trong nhóm 6 người ở vành 6 khác với những người hoá trang còn lại, trang phục mà người này mặc kín, không có những khe hở như những người khác, thêm nữa lại có 1 thanh gậy và 1 nửa hình elip, kiến ta liên tưởng tới cái đèn lồng, từ đó gợi ý chúng ta người này có thể là tượng trưng cho ngày tối, tức là ngày không có trăng và theo như dân gian thì đó là ngày cuối tháng, ngày 29 hoặc 30.
Như vậy là chúng ta đã tìm thấy được hầu hết các dấu vết của 1 bộ lịch trên trống đồng Ngọc Lũ, nói chính xác hơn là các hình khắc trên trống Ngọc Lũ gợi ý về một cuốn lịch, nghĩa là nó chỉ có tính gợi ý, chứ không thể chắc chắn nó là một bộ lịch. Vẫn còn một số vẫn đề chưa rõ ràng tuy nhiên do vấn đề ấy không ảnh hưởng nhiều tới mục đích của chúng ta nhưng tôi vẫn xin nói đến, đó là: Tôi vẫn tin rằng trống đồng là biểu tượng của tù trưởng, của thị tộc, do đó mà quyền uy của tộc trưởng và thị tộc phải được biểu hiện trên trống tuy nhiên tôi không thấy nó được biểu hiện như thế nào trên trống đồng? Chỉ còn 2 thông tin trên trống đồng Ngọc Lũ là chưa khai thác đó là hình thuyền trên thân trống, đó là hình chạm khắc của thuyền chiến, có thể hình chạm khắc ấy thể hiện tình trạng của thị tộc, cũng như uy quyền của người tù trưởng. Và thông tin còn lại là số lượng vòng tròn đồng tâm trên mặt trống, ở mỗi trống số lượng vòng tròn đồng tâm này khác nhau, liệu rằng số lượng vòng tròn có thể nào là biểu tượng quyền uy của người tù trưởng, người tù trưởng là trung tâm và số lượng vòng tròn là số lượng mà chịu sự cai trị của ông. Tôi vẫn còn chút nghi ngại về con số 3 và số 4 được thể hiện bằng số lượng người hoá trang trên trống sông Đà và hiểu nó là sự thể hiện số giờ trong ngày. Thời gian trong một ngày được người Việt cổ tính ra sao, tôi vẫn chưa tìm hiểu kỹ, chỉ phán đoán con số 14 là thể hiện của nó mà thôi, những dấu hiệu chứng tỏ điều này khá là mờ nhạt, trong bài viết có tên Lịch Tre của người Mường của tác giả Chu Văn Khánh có đề cập tới việc người Việt cổ chia ngày thành 16 “tiếng” trên căn cứ vào các hiện tượng tự nhiên, tiếc rằng hiện tôi chưa được tham khảo bài viết chi tiết và thú vị ấy.
Tóm lại: Chúng ta đã tìm hiểu về bộ lịch của người Việt cổ trên trống đồng Ngọc Lũ và những gì chúng ta có thể đưa ra ghi nhớ là:
- 1 năm có 36 mồng, 1 mồng có 10 ngày, 1 ngày có 14 tiếng.
- 1 năm có 4 mùa
- 1 năm có 360 ngày và dư 5 ngày
- 2 năm có 1 mồng nhuận
- 29 hoặc 30 ngày có 1 lần trăng tròn và 1 lần không trăng
Vẫn còn một khó khăn nữa mà chúng ta cần đề cấp đến ở đây là: Sắp xếp thời gian như thế nào trên trống đồng Ngọc Lũ đây?
Nếu lấy người cầm giáo trong nhóm 6 người hoá trang làm điểm giao và lấy người mặc áo đen cầm lồng đèn cũng trong nhóm 6 người làm điểm cuối của tuần trăng thì ta thấy tháng bắt đầu từ người nhỏ trong nhóm 7 người hoá trang rồi tính ngược kim đồng hồ lần lượt hết 7 người, tiếp theo sẽ tính vòng xuôi kim đồng hồ từ con chim trong nhóm 6 con rồi tới con hươu nhóm 10 con, khi tới con hươu cuối thì tính tiếp từ người cầm giáo rồi lần lượt tới người mặc áo đen và cầm đèn. Tháng tiếp theo thì bắt đầu từ người đứng trước người nhỏ rồi tính ngược kim đồng hồ lần lượt hết 6 người sau đó tính từ con hươu trong nhóm 10 con, tính ngược kim đồng hồ, rồi đến con chim nhóm 8 con lần lượt tới hết, khi tới con chim cuối cùng thì tính tiếp từ người cầm giáo và xuôi kim đồng hồ tới người cầm đèn và mặc áo đen. Đối với mồng thì có lẽ sẽ lấy con chim bay trong nhóm 36 con chim ở vành 10 tương ứng với người cầm giáo để tính thời điểm bắt đầu, nó tương ứng với đầu mùa hè, mồng 1 lấy nhà cầu mùa (hoặc sinh hoạt tôn giáo) trước người cầm giáo để tính.
Tóm lại chúng ta đã tìm ra những dấu vết của một bộ lịch của người Việt cổ trên trống đồng Ngọc Lũ, nhưng dù sao cũng chỉ dừng lại ở gợi ý, giả thuyết để cho những dấu vết này rõ ràng hơn chúng ta sẽ còn phải tìm hiểu thêm về trống đồng, nhất là về vai trò của bộ lịch ấy trong đời sống sinh hoạt xã hội.