Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

BÀN VỀ THÂN THẾ CỦA NHÂN HUỆ VƯƠNG TRẦN KHÁNH DƯ



1. Sau khi tách khỏi đoàn quân của Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 28 tháng 10 âm lịch (04/12/1287) Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đi Khâm Châu. Ngày 12 tháng 11 (17/12/1287) Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp xuất phát từ Khâm Châu. Ngày 15 tháng 11 (20/12/1287) Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp qua cửa sông Vạn Ninh (Móng Cái). Nhân Đức hầu Trần Da phục binh tại Lãng Sơn (Móng Cái) toan đánh phía sau địch. Ô Mã Nhi biết, lệnh ban đêm vây núi Lãng Sơn, sáng ngày sau tấn công. Nhân Đức hầu buộc rút [Trận đầu Đại Việt chết đuối vài trăm người, mất vài chục chiếc thuyền] Ô Mã Nhi thừa thắng, đuổi theo. Giao chiến ở Song Môn. Rồi tiến vào cửa An Bang (Quảng Yên) [Trận An Bang, Đại Việt chết 2 ngàn quân, mất 60 thuyết] [Tổng thiệt hại của Đại Việt tại các trận Lãng Sơn, Song Môn, An Bang là 4 ngàn quân, hơn 100 thuyền. Như thế tại trận Song Môn, Đại Việt chết hơn một ngàn người, vài chục thuyền]
- Sau khi qua cửa An Bang, Ô Mã Nhi theo sông Bạch Đằng tiến về phía Vạn Kiếp, hội cùng Thoát Hoan vào ngày 28 tháng 11 (02/01/1288). Ngày 03 tháng 12 (07/01/1288) Thoát Hoan tiến đến Tứ Thập Nguyên, sai Ô Mã Nhi đem quân cướp lương thực của dân. Ngày 29 tháng 12 (02/02/1288) Thoát Hoan tấn công Thăng Long. Ngày 04 tháng 01 (06/02/1288) Trấn Nam vương sai Ô Mã Nhi đem thủy quân ra biển kiếm đoàn vận lương của Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi theo cửa Đại Bàng đến Tháp Sơn, giao chiến với ngàn thuyền Đại Việt, phá được. Đến cửa An Bang không thấy thuyền vận lương của Trương Văn Hổ nên trở về Vạn Kiếp [dựa theo Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Trần Nhân Tông con người và tác phẩm, An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Nguyên sử]
Nguyên sử chép: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm trước đi đến Đồn Sơn, gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ tiến đánh quân hai bên bị giết cũng tương đương nhau. Đến biển Lục Thủy [Đông Nam Quảng Yên] thì thuyền địch dần nhiều thêm (Văn Hổ) liệu rằng không thể địch nổi, nhưng thuyền nặng không thể chạy được, bèn đánh chìm gạo thóc xuống biển, rồi chạy đến Quỳnh Châu” [Bản dịch của Châu Hải Đường]
Toàn thư chép: “Ngày 30 [tháng 12] thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh vào Vạn Kiếp (…) Khi ấy, thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi thượng hoàng được tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói với trung sứ: "Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn". Trung sứ theo lời xin đó. Kháng Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến [Khánh Dư] đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều. Lập tức sai chạy ngựa mang thư về báo. Thượng hoàng tha cho tội trước không hỏi đến”.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm viết: “Toàn thư cũng chép trận Vân Đồn vào tháng 12 tuy không rõ ngày nhưng lại chép sau một sự kiện khác vào ngày 30 tháng 12 âm lịch. Chú ý là năm đó tháng 12 âm lịch không có ngày 30 (…) Tin thất trận về đến triều có lẽ vào khoảng cuối tháng 11 và khi sứ giả của Thánh Tông đến chỗ Khánh Dư thì vào đầu tháng 12. Chiến thắng Vân Đồn hẳn là vào đầu tháng 12 chứ không phải là cuối tháng 12”.
Toàn thư chép: “Ngày 28 [tháng 11] Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Toàn đem thủy quân đánh ở vụng Đa Mỗ giặc chết đuối rất nhiều, ta bắt sống 40 tên và thu được thuyền ngựa, khí giới đem dâng”.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm viết: “Chúng tôi cho rằng Nhân Đức hầu Trần Da và Nhân Đức hầu Toàn là một người (…) Có lẽ trận Lãng Sơn chép trong An Nam chí lược và trận Đa Mô chép trong Toàn thư là một trận, tuy tài liệu của Lê Trác thì nói địch thắng, còn Toàn thư thì nói quân ta thắng (...) Toàn thư chép trận Đa Mô vào ngày 28 tháng 11, có thể đấy là ngày Nhân Đức hầu đem dâng tù binh và chiến lợi phẩm, cũng là ngày triều đình được tin chiến thắng”.
Sách Trần Nhân Tông con người và tác phẩm của tác giả Lê Mạnh Thát viết: “Trận thủy chiến Đa Mỗ do Nhân Đức Hầu Toàn chỉ huy cũng là trận Lãng Sơn của An Nam chí lược và trận cửa An Bang cũng chỉ là một mà thôi. Tuy nhiên thời điểm xảy ra đã được ghi khác nhau. An Nam chí lược ghi ngày 11, Nguyên sử ghi ngày 15, còn ĐVSKTT thì ghi ngày 28. Những khác nhau này là do truyền tải tư liệu có sai sót, hoặc thông tin không chính xác. Điểm đáng chú ý hơn nữa là bên nào cũng cho mình thắng trong trận này cả”. 
Tân Nguyên sử chép: “Năm Chí Nguyên 24 [1287] theo Trấn Nam vương đánh An Nam, trao chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, đeo hổ phù, chở lương đến Tùng Bách loan, đón đánh, giặc thua chạy. Vương bàn bãi binh, lấy Văn Hổ đi đoạn hậu, toàn quân mà về”.
- Nguyên sử chép “kinh ngọc sơn, song môn, an bang khẩu”. An Nam chí lược chép “phục binh lãng sơn”. Toàn thư chép “Đa Mỗ loan”. Loan ( ) là vịnh biển, khuỷu sông, chỗ nước hõm vào. Rõ ràng là Nguyên sử và An Nam chí lược không hề dùng Loan khi chép về Ngọc Sơn. Bên cạnh đó là thông tin không thống nhất giữa Toàn thư với Nguyên sử về bên chiến thắng, lại thêm Toàn thư chép rất rõ rằng ngày 28 tháng 11 phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Trần Tuyền đem thủy quân đánh ở loan Đa Mỗ, từ đó tôi cho rằng Đa Mỗ không phải là Lãng Sơn. Sau khi thua ở Mũi Ngọc, Nhân Đức hầu rút lui và tham gia nhiều trận đánh khác. Tân Nguyên sử có chép đến loan Tùng Bách, mà Trương Văn Hổ phá được giặc, nên rất có thể Tùng Bách tương ứng với Đồn Sơn trong Nguyên sử.
- Qua những ghi chép về các trận thủy chiến Lãng Sơn, Song Môn, An Bang của An Nam chí lược và Nguyên sử cũng như ghi chép của Toàn thư về việc Trần Khánh Dư đánh thất lợi khiến thượng hoàng phải sai trung sứ đến xiềng giải về kinh. Cho thấy Ô Mã Nhi giành lợi thế rõ rệt trước Nhân Huệ vương. Thủy quân phương bắc vừa đánh vừa tiến trong vòng 13 ngày (15/11-28/11) đã hội được với Trần Nam vương thì tôi cho rằng trận đánh tại loan Đa Mỗ do Nhân Đức hầu thống lĩnh không thể xảy ra trước khi Ô Mã Nhi hội quân tại Vạn Kiếp. Trận Trần Tuyền đánh kiến giặc chết đuối rất nhiều cũng không thể xảy ra vào ngày 28 tháng 11 được, vì thời điểm đó các cánh quân phương bắc đã hội, Thoát Hoan lệnh cho quân lính đi đánh chiếm các khu vực lân cận. Nên tôi cho rằng ngày 28 tháng 11 Nhân Đức hầu đem quân trấn giữ tại loan Đa Mỗ và Trần Tuyền không nhận lệnh từ vua mà hoàn toàn chủ động. Nói cách khác, cuộc chiến mà Nhân Đức hầu khiến giặc chết đuối rất nhiều phải diễn ra vào tháng 12, lại thêm chiến trường mà Trần Da tham dự là trên biển do đó tôi cho rằng trận Đa Mỗ là cuộc chiến với đoàn lương của Văn Hổ.
Thứ nhất những ghi chép của Toàn thư về trận Vân Đồn do Nhân Huệ vương thống lĩnh có sai lệch, cụ thể như tháng 12 không có ngày 30 và trận đánh chìm thuyền lương của Văn Hổ diễn ra vào đầu tháng 12.
Thứ hai trận đánh kiến giặc chết đuối rất nhiều của Nhân Đức hầu mà Toàn thư chép phù hợp với trận đánh ở biển Lục Thủy trong Nguyên sử và cũng phù hợp với trận đánh tại Vân Đồn của Trần Khánh Dư.
Thứ ba trận Vân Đồn mang tính bước ngoặt của cuộc chiến, nhưng An Nam chí lược lại không chép đến Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, nếu cho rằng Lê Tắc không biết thì không đúng, vì ngài biết trận Lãng Sơn mà Trần Da chỉ huy.
Nên từ đó, tôi cho rằng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chính là Nhân Đức hầu Trần Da.
Toàn thư chép: “Nhâm Ngọ [1282] Mùa đông tháng 10, vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu. Lấy Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân. Lần trước, quân Nguyên vào cướp, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân sơ hở đánh úp quân giặc. Thượng hoàng khen ông có trí lược, lập làm Thiên tử nghĩa nam. Sau đó, đánh người Man ở vùng núi, thắng lớn, được phong làm Phiêu Kỵ đại tướng quân. Chức Phiêu Kỵ tướng quân nếu không phải là hoàng tử thì không được phong. Vì Khánh Dư là Thiên tử nghĩa nam cho nên mới có lệnh đó. Rồi từ trật hầu thăng mãi đến tử phục thượng vị hầu, quyền chức phán thủ. Sau Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thuỵ. Bấy giờ Hưng Vũ Vương Nghiễn vì là con trai Quốc Tuấn, được lấy công chúa Thiên Thuỵ, lại công đánh giặc. Vua sợ phật ý Quốc Tuấn, mới sai người đánh chết Khánh Dư ở Hồ Tây, nhưng lai dặn chớ đánh đau quá, để không đến nỗi chết. Ít lâu sau xuống chiếu đoạt hết quan tước, quân tịch thu tài sản không để lại cho một chút gì. Châu Chí Linh vốn là của riêng của Thượng tướng Trần Phó Duyệt, nên Khánh Dư mới giữ lại được. Khánh Dư lui về ở Chí Linh, cùng bọn hèn hạ làm nghề bán than.
Lúc đó, thuyền vua đỗ ở bến Bình Than, nước triều rút, gió thổi mạnh, có chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo quan thị thần: "Người kia chẳng phải là Nhân Huệ Vương đó sao". Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì kịp. Quân hiệu gọi: "Ông lái ơi, có lệnh vua triệu". Khánh Dư trả lời: "Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu". Quân hiệu trở về tâu thực như thế. Vua bảo: "Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá [đến gặp vua]. Vua nói: "Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùngcực rồi". Bèn xuống chiếu tha tội cho ông. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua. Đến đây, tháng 10, lại cho Khánh Dư làm Phó tướng quân. Nhưng rốt cuộc Khánh Dư cũng không sửa đổi được những lỗi lầm cũ”.
- Như ghi chép của Toàn thư thì Trần Khánh Dư có công trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ năm 1257 nên được lập làm thiên tử nghĩa nam. Sau Nhân Huệ vương thông dâm với vợ của Hưng Vũ vương Nghiễm là công chúa Thiên Thụy nên bị mất quan tước, tài sản, bổng lộc phải làm nghề bán than tại Chí Linh. Tháng 10/1282 Trần Nhân Tông ngự ra Bình Than, bàn kế chống giặc, thấy Khánh Dư cơ cực liền xuống chiếu tha tội, phục quan tước, ban phó tướng quân, sau giữ quyền quyết trên biển, thế rõ ràng rất ưu ái.
- Xem thêm tước hiệu và tên, thấy rằng Huệ ( ) có nghĩa là điều tốt, ơn huệ. Khánh ( ) có nghĩa là mừng, chúc mừng. Dư ( ) có nghĩa là thừa ra. Như thế Nhân Huệ vương là thể hiện tước hiệu được ban từ ân huệ của vua và Trần Khánh Dư là thể hiện việc thừa niềm vui mừng của người được ban tước hiệu. Sách sử chép những trường hợp tương tự như Ngự sử trung tướng Lê Tần được ban Bảo Văn hầu Lê Phụ Trần năm 1258 và Kiến Đức hầu Trần Trọng được ban Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng năm 1285.
- Nên tôi cho rằng vốn ngài là Nhân Đức hầu Trần Da vì có tội bị tịch thu tài sản, bắt làm thứ dân nhưng sau được phục tước Nhân Huệ vương, cảm kích trước ân điển của vua Trần Nhân Tông nên ngài tự đổi sang tên Khánh Dư để thể hiện việc vui mừng rất lớn ấy, Ngô sử gia thu thập cả thông tin chính sử và dân truyền để soạn Toàn thư thành ra cho chúng ta thông tin về 2 nhân vật Nhân Đức hầu Trần Tuyền và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư nhưng thực chất chỉ là một người.
Bài Địa vị An Nam chí lược trong kho tàng lịch sử Việt Nam của tác giả Hồ Bạch Thảo viết: “Sau đây là bản dịch về hai cuộc xâm lăng, riêng những chữ trong ngoặc do người dịch thêm vào (…) Ngày 11 tháng Một, cánh quân thủy ra quân trước, tới cửa biển Vạn Ninh, tướng giặc là Nhân Đức hầu Trần Da [Trần Khánh Dư] phục binh tại núi Lãng Sơn định đánh tập hậu”.
2. Bài Giải mã vấn đề Thân Thiệu Thái / Vũ Tỉnh - Thân Cảnh Phúc / Vũ Thành của tác giả Khổng Đức Thiêm viết: “Vũ Thành không hề tồn tại trong lịch sử triều Trần; Vũ Thành chính là hiện thân của Thân Cảnh Phúc trước đó mấy trăm năm và là đặc hữu của triều đại nhà Lý”.
- Tôi sẽ cố gắng bóc tách những thông tin lịch sử được tích hợp trong truyền thuyết về Vũ Thành. Văn bản được sử dụng là sách Truyền thuyết dân gian người Việt của Viện nghiên cứu văn hóa.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Truyện Vũ Thành. Vua Lý Huệ Tông tuổi đã cao rồi mà vẫn chưa sinh được hoàng tử nào, bèn truyền ngôi cho người con gái cả là công chúa Lý Chiêu Hoàng, người con gái thứ hai gả cho quan thị phó vương tả bộc xạ Vũ Tỉnh. Lý Huệ Tông mất, Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh”.
- Thứ nhất theo sách sử Lý Huệ Tông tuổi chưa cao. Toàn thư và Việt sử lược chép rằng Lý Chiêu Hoàng là con gái thứ.
- Thứ hai theo Toàn thư và Việt sử lược thì con gái đầu của Huệ Tông được gả cho Trần Liễu và con gái thứ được gả cho Trần Cảnh nhưng theo An Nam chí lược thì Cảnh lại lấy người em vợ.
- Thứ ba đối chiếu với truyền thuyết thì Vũ Tỉnh lấy con gái thứ của Huệ Tông, theo An Nam chí lược người em vợ rất có thể là công chúa Thuận Thiên, do đó đặt giả thuyết Vũ Tỉnh chính là ánh xạ của Trần Liễu.
- Nói thêm về chữ Tỉnh. Truyện Việt Tỉnh trong Lĩnh Nam chích quái viết rằng “Việt Tỉnh ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh”. Đỗ Tử Vi thời Trần có thơ rằng: “Việt Tỉnh thê lương, thảo sắc thu - Tích lưu sự khứ sử nhân sầu” để cảm thán cho chàng Thôi Vỹ không biết đã đi đâu. Tôi cho rằng tên Tỉnh của Tả bộc xạ từ Việt Tỉnh mà ra, còn việc ngài mang họ Vũ thì có nguồn cơn từ người con trai.
Bản thần tích tại làng Thọ Lão, xã Thọ An, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây viết: “Càn Vương đang nằm nghỉ ở chính cung (…) không bệnh mà tự nhiên hoá (…) hai ông Tuấn Công và Thành Công làm biểu dâng lên, nhà vua nghe tin đích thân ngự giá tới cung làm lễ (…) Tuấn Công, Thành Công đều đã phương trưởng. Họ tài giỏi mưu trí, dũng lược hơn người, triều đình đều khen ngợi, nên được nhà vua trao cho chức hành khiển (…) Mông Cổ đến xâm lược, nhà vua trao lại cho Tuấn Công làm Hưng Đạo Đại vương tiết chế các doanh thủy, bộ. Trao cho Thành Công chức An Vương Phó lĩnh tả tướng quân”.
Toàn thư chép: “Bính Thìn [1256] Mùa thu tháng 7, Vũ Thành vương Doãn đem cả nhà trốn sang nước Tống. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Bính bắt lại đưa trả cho ta (Doãn là con Yên Sinh Vương do Hiển Từ sinh. Yên Sinh có hiềm khích với vua, đến khi Hiển Từ mất, bị thất thế, nên trốn sang nước Tống). Vua thưởng vàng lụa cho Bính. Do đấy việc giữ phòng quan ải càng thêm nghiêm ngặt”.
- Theo như Toàn thư thì con trai của Trần Liễu có tên là Doãn, tước vương hiệu là Vũ Thành. Như chúng ta giả thuyết: Vũ Tỉnh là Trần Liễu mà con trai của Vũ Tỉnh có tên trùng khớp với tên hiệu của con trai Trần Liễu. Rất thú vị đúng không ? Theo tôi tiến trình xảy ra như sau: vì kiêng tên cúng cơm nên dân gian chỉ gọi Vũ Thành vương, lâu dần tước vương bị rụng nên chỉ còn Vũ Thành.
- Ngoài tước hiệu Vũ Thành vương, giống như Yên Sinh vương, Trần Doãn có nhiều tước hiệu trong đó không loại trừ An Thành vương. Vùng Thọ Lão đã tách tước hiệu nên có An vương Trần Thành. Trường hợp thần tích làng Thọ Lão là minh chứng khả dĩ cho việc biến đổi chữ Thành từ tước hiệu sang tên riêng.
- Sự kiện thổ quan châu Tư Minh là Hoàng Bính bắt được Doãn gợi ý về tuyến đường di chuyển của Vũ Thành vương từ Vũ Ninh, Lục Ngạn, Thành phố Lạng Sơn, Tư Minh. Lại thêm, thân phụ của Vũ Thành có tên là Tỉnh, rất có thể vốn bắt nguồn từ Việt Tỉnh nên tôi cho rằng ấp phong của Trần Doãn tại châu Vũ Ninh. Có thể vì kiêng tên húy của Trần Liễu nên dân gian đã lấy tên địa danh nổi tiếng để gọi thay, nhưng vẫn giữ lại thông tin về mối quan hệ giữa ánh xạ của Yên Sinh vương là Vũ Tỉnh với triều Lý thông qua hôn nhân.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Truyện Vũ Thành. Vũ Thành kết duyên với người con gái thôn Giáp, xã Hả Hộ là Giáp Thị Tuấn (…) Vũ Thành mộng thấy một ông lão ban cho một chữ Thiệt (  -  cái lưỡi. Lưỡi dùng để nói) nhìn kỹ thì thấy chữ ấy thiếu một nét trên đầu (chữ Thiệt thiếu nét phẩy trên đầu thì biến thành chữ Cổ - ). Nhà Nguyên xâm lược, phong Vũ Thành làm tri hiệu đầu thượng tướng”.
Bài Người anh ruột Trần Thủ Độ tên thật là gì của tác giả Lê Hải Nam viết: “Nhân Thành hầu Trần Duyệt là con của Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ (theo An Nam chí lược) vậy có thể sinh khoảng năm 1216 (không là con trưởng vì con trưởng được phong vương, còn con thứ đều phong hầu theo lệ nhà Trần). Do nhà Trần rất kiêng tên húy nên chắc chắn không có ai dám trùng tên với Trần Duyệt cả. Vậy mà trong Toàn thư có một người họ nhà vua là Trần Phó Duyệt giữ chức thượng tướng. Vậy chắc Trần Duyệt của An Nam chí lược cũng là Trần Phó Duyệt của Toàn thư mà thôi. Trần Duyệt có tước Nhân Thành hầu, mà Trần Phó Duyệt có họ hàng với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Quan hệ dòng tộc giữa Nhân Thành hầu Trần (Phó) Duyệt và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư ra sao, có phải cha con không, sẽ nói trong bài khác khi có dịp” [dẫn theo sách Long Hưng - Đất phát nghiệp vương triều Trần của tác giả Đặng Hùng]
Toàn thư chép: “Bính Dần [1266] Tháng 3, mở khoa thi chọn học trò, Ban đỗ kinh trạng nguyên Trần Cố, trại trạng nguyên Bạch Liêu (…) Liêu người Nghệ An, tính thông minh nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng một mạch. Bấy giờ, thượng tướng Quang Khải coi Nghệ An, Liêu làm môn khách mà không làm quan”.
- Trên tôi có đưa ra giả thuyết Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư vốn là Nhân Đức hầu Trần Da. Khi Ngô sử gia soạn Toàn thư đã sử dụng chính sử nên chúng ta có thông tin về Trần Tuyền, đồng thời lại sử dụng cả dân truyền nên chúng ta có thêm thông tin về Trần Khánh Dư, mà rất có thể bao gồm cả thông tin về mối quan hệ giữa Nhân Huệ vương với thượng tướng Trần Phó Duyệt. Toàn thư không chép mối quan hệ cụ thể giữa Trần Phó Duyệt với Trần Khánh Dư. Mối quan hệ cha con là do người đời sau diễn giải.
- Chữ ( ) có âm Hán Việt là: Duyệt, Thuyết, Thuế. Cả 3 đều có nghĩa là nói, giảng. Việc này làm chúng ta liên tưởng tới chữ Thiệt trong truyện Vũ Thành. Lại thêm, Toàn thư cho biết Trần Phó Duyệt giữ chức thượng tướng mà Vũ Thành cũng giữ chức thượng tướng. Theo Toàn thư thì năm 1266 Quang Khải đã giữ chức thượng tướng nên Trần Phó Duyệt nếu có giữ chức thượng tướng thì phải trước năm 1266, nói cách khác cuộc kháng chiến chống quân phương bắc do Vũ Thành thống lĩnh phải vào năm 1257.
Bài Các công chúa của vua Trần Thái Tông của tác giả Bùi Văn Tam viết: “Dân binh của Vũ Thành giỏi đánh du kích”.
Toàn thư chép: “Đinh Tỵ [1257] Tháng 9, xuống chiếu lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn (…) Đinh Sửu [1277] Mùa xuân tháng 2, vua thân chinh đánh người Man, Lạo ở động Nẫm Bà La [Phủ lộ Bố Chính] bắt sống bộ đảng hơn 1.000 người giải về”.
- Theo như Toàn thư thì năm 1257 Hưng Đạo vương tham gia cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, theo thần tích làng Thọ Lão thì An Thành vương cũng tham gia. Trung Dũng hầu Vũ Thành rất giỏi đánh du kích, thông tin này làm chúng ta liên tưởng tới sự kiện trong Toàn thư chép về Trần Khánh Dư như sau “Lần trước quân Nguyên vào cướp, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân sơ hở đánh úp quân giặc” và An Nam chí lược chép về Trần Tuyền như sau “Nhân Đức hầu Trần Da phục binh tại Lãng Sơn toan đánh mặt sau”.
- Toàn thư cho biết sau lần đánh úp quân Mông Cổ, Trần Khánh Dư được thượng hoàng khen lập làm Thiên tử nghĩa nam, sau đánh giặc Man được phong làm Phiêu kỵ đại tướng quân. Ghi chép của Toàn thư từ năm 1257 đến năm 1284 có duy một lần triều đình đánh giặc Man vào năm 1277, cuộc chiến tại Bố Chính do đích thân Trần Thánh Tông thống lĩnh, lại thêm Toàn thư mục năm 1277 chép là “động” còn mục năm 1282 chép là “vùng núi” nên rất có thể sau trận năm 1277 Trần Khánh Dư được phong Phiêu kỵ đại tướng quân.
- Rõ ràng việc thượng hoàng nhận làm Thiên tử nghĩa nam phải diễn ra trước năm 1277 nên thượng hoàng có thể là Trần Thái Tông, cũng có thể là Trần Thánh Tông. Nếu là Trần Thái Tông thì người được nhận có thể là Trần Phó Duyệt nhưng nếu là Trần Thánh Tông thì người được nhận phải là Trần Khánh Dư.
- Theo Toàn thư thì Trần Khánh Dư từ tước hầu thăng mãi lên thượng vị hầu, quyền chức Phán thủ. Cũng lại theo Toàn thư mục năm 1287 chép Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Tuyền. Như thế có thể khẳng định, Trần Khánh Dư giữ chức Phán thủ, tước Thượng vị hầu.
Bài Trần Khánh Dư có lập công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất năm 1258 hay không của tác giả Trần Nhuận Minh viết: “Như vậy năm đánh úp giặc Nguyên 1258, Trần Khánh Dư bao nhiêu tuổi ? Nếu năm đó 18 tuổi, Trần Khánh Dư làm tướng, thì ông sinh năm 1240, mà mất năm 1339 thì ông thọ 99 tuổi (1240 - 1339). Trẻ nhất cũng phải như Trần Quốc Toản 16 tuổi, thì Trần Khánh Dư sinh năm 1242, mà mất năm 1339 thì ông thọ 97 tuổi (1242 - 1339). Các tướng thời Trần (do ốm mà mất) như Trần Liễu thọ 40 tuổi (1211 - 1251) Trần Quang Khải thọ 53 tuổi (1241 - 1294) Trần Quốc Tảng thọ 61 tuổi (1252 - 1213). Khó lòng tin được Trần Khánh Dư đã sống đến 97 hay 99 tuổi, trong khi sử ghi vị tướng thọ nhất ở thời Trần là Trần Nhật Duật chỉ đến 77 tuổi”.
Bài Bí ẩn năm sinh Trần Khánh Dư của tác giả Nguyễn Văn Toàn viết: “Nếu như chúng ta đã xác định được Trần Khánh Dư sinh vào năm 1241 thì ông sẽ sống thọ 98 tuổi (tức 99 tuổi tính theo tuổi âm lịch).  Điều này phù hợp với cuộc đời của ông vì từ khi lập công trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất năm 1258 đến năm mất 1339” [Xin xem thêm bài viết để rõ các lập luận của tác giả]
Toàn thư chép: “Kỷ Tỵ [1269] Tháng 9, phong Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang làm Vọng Giang phiêu kỵ đô thượng tướng quân”.
- Qua sự kiện Nhân Huệ vương tư thông với công chúa Thiên Thụy tôi cho rằng Trần Khánh Dư trạc tuổi với Hưng Vũ vương Nghiễn nên người được thượng hoàng nhận làm Thiên tử nghĩa nam là Trần Phó Duyệt và vì chỉ hoàng tử mới được phong nên kiêm thêm chức Phiêu kỵ tướng quân. Qua ghi chép của Toàn thư mục năm 1287 là “Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Tuyền” chúng ta thấy có đầy đủ các thông tin như tên húy Tuyền, tước thượng vị hầu, tên hiệu Nhân Đức, chức Phán thủ nên nếu như Trần Tuyền giữ thêm chức Phiêu kỵ đại tướng quân thì rất có thể Ngô sử gia sẽ chép lại.
Toàn thư chép: “Đinh Dậu [1237] Lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vợ của Hoài Vương Liễu, anh vua, làm hoàng hậu Thuận Thiên. Giáng Chiêu Thánh làm công chúa. Bấy giờ Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên đã có mang Quốc Khang 3 tháng. Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực bàn kính với vua là nên mạo nhận lấy để làm chổ dựa về sau, cho nên có lệnh ấy. Vì thế, Liễu họp quân ra sông Cái làm loạn (...) Mậu Thân [1248] Tháng 6, hoàng hậu Thuận Thiên băng, truy tôn là Hiển Tử Thuận Thiên hoàng thái hậu (…) Đinh Hợi [1287] Ngày 24 [tháng 11] lệnh cho cấm quân giữ ải Lãnh Kinh. Hưng Đức hầu Quán đem quân đón đánh, dùng tên tẩm thuốc độc bắn giặc chết và bị thương rất nhiều. Giặc lui về đóng ở ải Vũ Cao”.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Truyện Sự tích Doãn công dẹp giặc Tô Định. Ngài là con đức Cao Nguyên công (…) ngày mồng 6 tháng 2 năm Canh Dần [1230 - người viết] giờ Dần, sinh ra ngài, diện mạo khác thướng, đặt tên là Doãn công (…) Khu Bảo Tháp, trang Đông Cứu, huyện Gia Bình, phủ Thuận An có thầy dạy học là Nguyễn Tín công (…) lưu hai mẹ con Doãn công ở nhà [nhận làm con nuôi] Nguyễn công có người con gái là Đào nương bèn gả cho Doãn công làm vợ (…) Hai vợ chồng Doãn công lập dinh trại ở khu Bảo Tháp và đi chiêu mộ quân dân ở các quận huyện được hơn 2 vạn người. Khu Hương Vinh thuộc trang Đông Cứu có Trương Quán công là bậc anh hùng cũng kết đảng được ngàn người, tình nguyện theo giúp Doãn công (…) Doãn công phụng mệnh cùng các tướng đem quân đến thành Lạng Sơn chống cự (…) hơn một năm không phân thắng bại (…) bèn trở về khu Bảo Tháp (…) ngài hóa ngày 20 tháng 7”.
- Sách Truyền thuyết dân gian người Việt giới thiệu 2 truyện về nhân vật Doãn công có nội dung giống nhau. Truyện Doãn công Đào nương không chép về cuộc chiến giữa Doãn công với Mã Viện cũng như ngày hóa của ngài, nhưng có giới thiệu về quê ngài miền Tam Đái, đạo Sơn Tây. Thêm khác biệt nữa là mẹ ngài có họ tên Đào Thị Đức và gia cảnh bần hàn nên phải lưu lạc tới Gia Bình. Thú vị là cha ngài mang họ Nguyễn! Như vậy là trong 2 truyện, thông số Họ có tính thay đổi, trong khi Tên lại cố định.
- Truyện cho biết năm sinh của ngài là Canh Dần, tôi muốn chú thích rõ thêm là năm 1230. Thượng sĩ ngữ lục cho biết Hưng Ninh vương Trần Tung sinh năm 1230 và ngài là đệ nhất tử của Khâm Minh Từ Thiện vương Trần Liễu, chứ không phải là trưởng tử. Truyện cũng cho biết thêm, ngài hóa vào tháng 7, sự kiện làm liên tưởng việc Trần Doãn trốn sang phương bắc.
- Sự kiện mẹ con Doãn công lưu tại nhà Nguyễn công làm liên tưởng tới việc Thuận Thiên công chúa bị ép phải làm hậu của Thái Tông Trần Cảnh. Trên chúng ta có giả thuyết rằng người nhân sơ hở đánh tập hậu quân Mông Cổ năm 1258 là thượng tướng Trần Phó Duyệt. Tôi đặt thêm giả thuyết Trần Phó Duyệt là Vũ Thành vương Trần Doãn. Nếu vậy thì vào tháng 7/1256 Doãn có ý định trốn sang phương bắc thì vào năm 1257 sao có thể cùng triều Trần chống giặc ? Nếu không thể thì làm sao được ban Thiên tử nghĩa nam ?
- Sau khi làm loạn vào năm 1236, những người theo Trần Liễu đều bị giết, Trần Tung thì không rõ hành trạng, Trần Quốc Tuấn thì gửi công chúa Thụy Bà nuôi và Trần Doãn rất có thể theo mẹ là công chúa Thuận Thiên về kinh thành, nên cũng giống như Tĩnh Quốc Khang, Trần Doãn được nhận làm Thiên tử nghĩa nam. Toàn thư chép rằng khi Hiển Từ mất, bị thất thế nên trốn sang phương bắc, nhưng công chúa mất năm 1248, trước khi Vũ Thành vương vượt biên 8 năm, lại thêm anh em của Trần Doãn không thấy ai có ý định trốn sang phương bắc. Nên thất thế cần hiểu là Vũ Thành vương không trụ nổi tại kinh thành, buộc phải trở về đất cũ của cha, khi tình hình chiến sự nóng dẫn, vốn có thiên kiến với triều Trần, Doãn lén trốn sang đất Tống.
- Trong các con của Trần Liễu, do là con của Thuận Thiên nên Trần Doãn có những đặc ân hơn các anh em khác, ngài sinh cùng năm với Hưng Ninh vương, nhưng vốn là con của công chúa nên tuy ngài ít hơn vài tháng nhưng vẫn là trưởng tử. 
Đại Nam nhất thống chí chép: “Sông Bài ở cách huyện Nghiêu Phong 4 dặm về phía đông nam, có tên nữa là sông Cát Nương Kỹ Vĩ, nguồn từ sông Bồi và sông Tranh thuộc huyện Yên Hưng, chảy về phía nam hợp với nhau, chảy 2 dặm đến xã Phù Long, có một chi khác từ phía tây nam chảy đến đổ vào, lại chảy 11 dặm về phía đông đến cửa biển Nghiêu Phong, Sông này có hạt trai, năm Gia Long thứ 6 [1807] thường sai quan thuê người huyện Giáp Sơn trấn Hải Dương lặn mò trai (…) lại sai lấy nước giếng Cổ Loa ở Bắc Ninh để rửa, quả nhiên sắc hạt trai trong sáng (…) Xét Đại Thanh nhất thống chí: trong biển Vân Đồn châu Tĩnh Yên có hạt châu (...) Hòn Ba Áng ở phía đông huyện, lưng núi có động, trong động có thạch nhũ tủa xuống, trông như hình vẽ, cảnh trí dễ yêu (...) Huyện Nghiêu Phong cách phủ 35 dặm về phía tây nam, đông tây cách nhau 129 dặm, năm bắc cách nhau 12 dặm, phía đông ra biển đến dương phận Vạn Ninh 7 dặm, phía tây đến dương phận 2 huyện Nghi Dương và An Dương tỉnh Hải Dương 7 dặm, phía nam đến biển 3 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Yên Hưng 9 dặm (...) Cửa Lục cách huyện Hoành Bồ 17 dặm về phía đông nam, hai bên bờ đều là núi đất chân đá, phía trên lên đến sông Tứ Xuyên, cách tỉnh thành một ngày đường thủy (…) Sử chép năm Trùng Hưng thứ 4 [1288] Phó tướng Vân Đồn là Trần Khánh Dư đánh thuyền lương của tướng Nguyên là Trương Văn Hổ ở biển Lục (…) tức là chỗ này (…) Huyền Hoành Bồ đông tây cách nhau 90 dặm, năm bắc cách nhau 74 dặm, phía đông đến địa giới châu Tiên Yên 65 dặm, phía tây đến địa giới châu Yêu Hưng 25 dặm, phía nam đến biển 9 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Yên Bác tỉnh Lạng Sơn 65 dặm”.
Toàn thư chép: “Canh Tý [1300] Quốc Tuấn lại sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát quái cửu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Nhân Huệ Vương Khánh Dư viết bài tựa cho sách ấy”.
- Toàn thư chép sau khi có chiếu đoạt hết quan tước, tịch thu tài sản Trần Khánh Dư trở về Chí Linh vốn là của riêng Trần Phó Duyệt. Sự kiện này khá thú vị, Nhân Huệ vương thông dâm với con dâu của Trần Quốc Tuấn, bị xử tội chết nhưng trời không nỡ nên thoát, nhưng Trần Khánh Dư lại về sống tại Chí Linh, cũng là bản doanh của Hưng Đạo vương. Lại thêm, qua việc Nhân Huệ vương viết bài tựa cho sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư do Trần Quốc Tuấn soạn thì không thấy oán thù giữa Trần Khánh Dư và người thân của Hưng Vũ vương.
- Lệ nhà Trần, các vương hầu ở ấp phong, được phép lập binh, thu thuế nhưng chịu sự giám sát của Thăng Long. Trần Thủ Độ làm tới thống quốc thái sư, dự triều chính mà vẫn phải lưu tại Quắc Hương, các hoàng tử như Trần Quốc Khang lưu tại Diễn Châu, Trần Quang Khải lưu tại Lạc Đạo. Nên Trần Phó Duyệt và Nhân Huệ vương không thể lưu tại kinh sư được.
- Vào thời điểm Trần Khánh Dư thông dâm với Thiên Thụy hẳn là ngài còn trẻ, như thế nếu Khánh Dư có ấp phong rất có thể do thừa tự. Nhưng nếu Toàn thư chép đúng là biên thu hết tài sản, phế mọi chức tước thì Nhân Huệ vương cũng không thể giữ lại được châu Chí Linh, trừ khi tại thời điểm có chiếu, Chí Linh vẫn đang thuộc sở hữu của Trần Phó Duyệt, thế nhưng Toàn thư chép rất rõ là “Chí Linh châu bản Thượng tướng Trần Phó Thuyết vật, cố Khánh Dư bảo yên”. Như thế vào thời điểm có chiếu, châu Chí Linh đã thuộc sở hữu của Trần Khánh Dư rồi.
- Mùa đông tháng 10 năm 1282 Trần Nhân Tông ngự ra Bình Than, đóng tại vũng Trần Xá để họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu, đồng thời lấy Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân. Bình Than là đoạn sông Lục Đầu chảy qua huyện Chí Linh tỉnh Hải Hưng. Châu Vũ Ninh [Quế Võ, Bắc Ninh] tiếp giáp Bình Than.
- Toàn thư mục năm 1287 có chép sự kiện Trần Quốc Tuấn giao hết công việc biên thùy cho Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Khánh Dư. Rõ ràng là cả Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương đều rất tin tưởng Nhân Đức hầu. Nhưng mà trận đánh úp quân Mông Cổ năm 1257 được thực hiện bởi tài năng của Trần Phó Duyệt, chứ không phải của Nhân Huệ vương. Vậy thì trên cơ sở nào mà Trần Tuyền được tin tưởng ?
Toàn thư chép: “Bính Thân [1296] Nhân Huệ Vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu”.
Minh Tông Trần Mạnh có thơ về Trang trại của Nhân Huệ vương như sau: “Mấy dãy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót / Một chiếc gối nằm khềnh ở xa triều đình và thành thị / Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hóa của vua / Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi / Tiếng suối chảy lặng lẽ vì nước triều ít dâng lên / Bóng cây đường thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập / Mũi rồng đâu có giống mỏ chim / Xin chớ thả thuyển lênh đênh trên Ngũ Hồ xa xôi” [Đào Phương Bình - Nam Trân dịch nghĩa]
Toàn thư chép: “Giáp Thân [1284] Hưng Vũ Vương Nghiễn, Minh Hiến Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hung Đạo Vương để chống quân Nguyên”.
- Truyện cũng chép về anh hùng Trương Quán, người theo Doãn công đánh giặc. Nếu Doãn công là Vũ Thành vương thì Trương Quán rất có thể là Hưng Đức hầu, người đem quân đánh quân Nguyên tại khu vực Đáp Cầu [Thành phố Bắc Ninh] Toàn thư có chép việc Hưng Đạo vương lệnh cho các con trai đốc suất quân tại các ấp phong đến hội tại Vạn Kiệp, như thế rõ ràng binh pháp nhà Trần là tướng nào chỉ huy đội quân lập từ ấp phong của tướng đó và chiến trường tham dự thường tại ấp phong, nhưng đồng thời cũng hiệp thông để nghênh chiến.
- Nên rất có thể Trần Khánh Dư thống lĩnh quân đội riêng chứ không phải từ đạo quân của triều đình hoặc của Hưng Đạo vương. Sự kiện chép ngày 24 tháng 11 là chép gộp 2 sự kiện gồm: vua lệnh cho cấm quân tới giữ ải Lãnh Kinh và Hưng Đức hầu đem quân đánh quân Nguyên. Tôi cho rằng, Trần Quán cũng có quân đội riêng, không lệ thuộc vào triều đình hay Trần Quốc Tuấn.
- Rất có thể ấp phong Bài Áng của Nhân Huệ vương mà Toàn thư chép năm 1296 thuộc huyện Nghiêu Phong, bên kia biển là Vân Đồn. Như thế có khả năng trước khi cuộc chiến Việt Nguyên xảy ra, ấp phong của Trần Khánh Dư tại Nghiêu Phong - Vân Đồn, chứ không phải Chí Linh.
- Tôi cho rằng Trần Khánh Dư tuy mang tội nhưng vẫn có ấp phong và thuộc hạ, chứ không phải là kẻ bán than hèn hạ. Nói thêm về bài thơ nôm Bán than vẫn tương truyền là của Trần Khánh Dư, nhưng theo cuốn Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án thì là của một bậc di thần của chúa Nguyễn.
3. Bia Thần đạo công chúa Phụng Dương khắc: “Công chúa được 7 người con (…) Người thứ 2 là Văn Túc vương Đạo Tái (…) lấy con gái Tĩnh Quốc đại vương, là công chúa Bảo Tư (…) Cháu có 13 người, 7 trai 6 gái. Công chúa Chân Từ (…) lấy con trái Phán thủ thượng vị Vũ Ninh hầu tên là Chiểu”.
Toàn thư chép: “Ất Dậu [1285] Ngày 12 [tháng giêng] giặc đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, bắt được quân của ta, thấy người nào cũng thích hai chữ Sát Thát bằng mực vào cánh tay, chúng tức lắm, giết hại rất nhiều”.
- Bia Phụng Dương có nhắc đến Vũ Ninh hầu, chắc đây là vị thượng hầu có ấp phong tại châu Vũ Ninh, vị thượng hầu còn giữ chức Phán thủ, như thế là đồng tước đồng chức với Trần Khánh Dư. Con trai Chiểu [Dịch giả Đinh Khắc Thuân để là Thiệu] lấy cháu của công chúa Phụng Dương, tôi cho rằng thân phụ của Chân Từ là Văn Túc vương Đạo Tái.
- Trần Quang Khải sinh năm 1241, thì Đạo Tái sinh khoảng 1260. Trần Quốc Tuấn kết hôn với Thiên Thành năm 1251 vậy Hưng Vũ vương sinh khoảng 1255, nên Vũ Ninh hầu sinh vào khoảng từ 1250 đến 1260. Nói cách khác Hưng Vũ vương, Nhân Huệ vương, Vũ Túc vương, Hưng Đức hầu, Vũ Ninh hầu cùng thế hệ. Toàn thư cho biết tháng 1/1285 quân Nguyên có đánh vào Vũ Ninh và rất có thể Vũ Ninh hầu đã chống giặc tại ấp phong.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Sự tích sứ quân Nguyễn Siêu. Tục truyền Nguyễn Nê (…) làm quan thời Tấn Vũ Đế [236-290] hàm Kiêu kỵ đại tướng quân, Đô thống quản, Bình Dương hầu (…) Nhân nước Nam có loạn, thừa lệnh vua tiến xuống (…) dựng bản doanh ở Thanh Quả [?] lấy Nguyễn Thị Mai làm vợ lẽ, lưu sống cả thảy 39 năm, sinh được 3 con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu (...) Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn [1269 - người viết] Bình Dương hầu tự nhiên không bệnh mà chết, hưởng 79 tuổi, các tướng Đỗ Hạo, Trần Mưu đưa thi hài về bắc quốc (…) Thời Ngô Vương Quyền phong Nguyễn Khoan làm Cầm hạt tướng quân, Nguyễn Thủ Tiệp làm Tứ Xuyên đô hộ, Nguyễn Siêu làm Thống lĩnh tướng quân”.
Cương mục chép: “Bính Dần [966] Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công giữ Tiên Du. Thủ Tiệp còn một tên hiệu nữa là Ba An quân, mình dài tiếng to, ai nghe thấy tiếng nói cũng phải giật mình, người ta gọi là Ông Sấm. Đến khi khởi binh, Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, đóng giữ huyện Tiên Du, sau lấy cả Vũ Ninh, tự xưng là Vũ Ninh vương, không rõ người ở xứ nào”.
Toàn thư chép: “Mậu Thìn [1269] Mùa xuân tháng giêng, vua từng nói với tôn thất rằng: "Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc ". Đến đây, xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau. Còn như trong các lễ lớn như triều hạ, tiếp tân, yến tiệc thì phân biệt rõ ngôi thứ, cấp bậc cao thấp. Vì thế, các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng”.
- Theo Cương mục thì sau khi thu phục được Lý Huy [Dương Huy] thứ sử châu Vũ Ninh, Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Vũ Ninh vương, Nguyễn sứ quân có tên hiệu khác là Ba An quân, tên tục gọi Lôi Công [Ông Sấm] Nguyễn Thủ Tiệp phong cho Nguyễn Quốc Khanh làm đại tướng quân.
- Truyện có chép đến tước hiệu Vũ Ninh hầu và Tứ Xuyên đô hộ. Cả 2 địa danh đều thuộc vùng đông bắc. Nên nếu Nguyễn Thủ Tiệp là hình ảnh của Vũ Ninh hầu thì Nguyễn Nê là hình ảnh của Vũ Thành vương.
- Truyện cho biết Nguyễn Nê là người đời Tấn Vũ Đế, như thế đến đời Ngô vương cũng khoảng 600 năm. Giải thích cho khó khăn, chúng ta cần biện đến Tấn Vũ Đế. Năm 251 Tư Mã Ý chết, con là Tư Mã Sư nắm triều chính, phế Tào Phương, lập Tào Mao. Năm 254 Tư Mã Sư chết, em là Tư Mã Chiêu nắm triều chính, giết Tào Mao, lập Tào Hoán [Ngụy Nguyên Đế] Năm 265 Tư Mã Chiêu cho con Tư Mã Viêm nối. Tháng 12 năm Ất Dậu [266] Tư Mã Viêm chính thức đại điển đăng cơ trở thành Tấn Vũ Đế.
- Tháng 12/1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Năm 1225 cùng là năm Ất Dậu. Nếu Trần Cảnh là Tư Mã Viêm, thì Trần Thừa là Tư Mã Chiêu, Trần Lý là Tư Mã Ý, Khoái hầu Trần Thẩm là Tư Mã Sư và Trần Liễu là Tư Mã Du. Sự trùng hợp là nguyên cớ để Nguyễn Nê được đưa vào bối cảnh thời Tấn Vũ Đế. Nếu Nguyễn Nê là Trần Doãn, mà Nê giữ chức Bình Dương hầu thì Tấn Vũ Đế cùng có người con tước hiệu Bình Dương công chúa.
- Truyện cho biết thêm Nguyễn Nê hưởng dương 79 tuổi, nhưng rõ ràng số liệu không chính xác, tuy nhiên truyện chép rất sử qua chi tiết “ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn”. Mậu Thìn tôi đặt giả thuyết là năm 1269, trước chúng ta có xác định Trần Doãn sinh năm 1230, tính ra khoảng 39 năm, vừa khéo bằng thời gian Bình Dương hầu giữ Thanh Quả. Sai lệch tuổi âm dương tôi cho rằng không đáng kể. Nếu Trần Doãn mất năm 1269 thì người đánh giặc Man Lạo ở Bố Chính là Trần Khánh Dư.
- Cũng khá là thú vị khi đúng năm 1269 vua Trần Thánh Tông ban chiếu thể hiện suy nghĩ tình cảm của mình đối với các vương hầu tôn thất, có khi nào lời chiếu bắt nguồn từ cái chết của Vũ Thành vương Trần Doãn không ?
Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Trương Phu Duyệt người Kim Đâu, huyện Thanh Miện, năm 30 tuổi đỗ chánh tiến sĩ khoa Ất Sửu [1505] đời Đoan Khánh, vâng mệnh đi sứ, làm đến thượng thư bộ lại. Mạc Đăng Dung cướp ngôi, bắt thảo chiếu. Duyệt trương mắt thét “thế là lẽ gì” rồi không chịu viết, nên bị bãi về làng, được khen tiết nghĩa”.
Toàn thư mục năm 1282 chép (      ) trong đó ( ) có âm Hán Việt gồm Phu, Phó, Phụ và  ) có âm Hán Việt gồm Duyệt, Thuyết, Thuế.
Khá thú vị! Có sự trùng tên giữa người thời Trần và người thời Lê sơ nhưng xưa nay trùng tên là chuyện thường ? Lại thêm, Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên hoàn thành năm 1479 chép từ năm 2879 Tcn đến năm 1427, rõ ràng là Trần Phó Duyệt nằm trong khoảng thời gian do Ngô sử gia soạn mà Trương Phu Duyệt là người cùng thời với Ngô Sĩ Liên. Không hẳn, vì bản khắc hiện đang có không phải là bản năm 1479 gồm 15 quyển. Toàn thư được nhóm Phạm Công Trứ khảo đính và biên soạn tiếp từ năm 1533 đến năm 1662 vào những năm Cảnh Trị (1663-1671). Những năm Chính Hòa (1680-1705) nhóm Lê Hy khảo đính và biên soạn tiếp từ năm 1663 đến năm 1675. Tuy rằng công việc khảo đính có khác nhau nhưng không thể phủ nhận sự can thiệp vào văn bản.
- Lại thêm, xem ghi chép của Việt sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) và Cương mục thì thấy các bộ sách khi chép về Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư rất giống Toàn thư trừ chi tiết quan trọng nhất, chính là về Trần Phó Duyệt! Cũng rất đáng nghi khi các bộ sách lớn chép gần như giống hoàn toàn với Toàn thư lại đều không chép về thượng tướng Trần Phu Thuyết ?

(Việt sử tiêu án - Bản dịch của Hội Việt Nam nghiên cứu liên lạc văn hóa Á Châu)



(Lịch triều hiến chương loại chí - Bản dịch của Viện sử học)
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Bản dịch của Viện sử học)
- Hiện người viết chưa đủ cơ sở để khẳng định về thượng tướng Trần Phó Duyệt trong Toàn thư nên tạm nêu ra sau sẽ bàn lại.
4. Nam ông mộng lục viết: “Vua thứ ba của họ Trần là Nhân vương (…) làm am sống ở ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử (…) chị ngài hiệu là Thiên Thụy, nhiều điều trái đạo đàn bà (…) nghe tin chị hấp hối, bèn xuống núi lại thăm”.
Toàn thư chép: “Nhâm Ngọ [1282] Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thuỵ. Bấy giờ Hưng Vũ vương Nghiễn vì là con trai Quốc Tuấn, được lấy công chúa Thiên Thuỵ, lại công đánh giặc. Vua sợ phật ý Quốc Tuấn, mới sai người đánh chết Khánh Dư ở Hồ Tây, nhưng lai dặn chớ đánh đau quá, để không đến nỗi chết”.
- Trần Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thụy nhưng theo như ghi chép của Toàn thư thì vào thời điểm xảy ra sự việc, công chúa Thiên Thụy có thể mới chỉ được hứa gả cho Hưng Vũ vương Nghiễm chứ chưa trở thành vợ chính thức.
- Chế độ nhà Trần cho phép trưởng công chúa không có giới hạn ấp thang mộc, lại thêm sự kiện Trần Quốc Tuấn với trưởng công chúa Thiên Thành và Trần Khánh Dư với trưởng công chúa Thiên Thụy, tôi cho rằng không đơn giản mang nghĩa cuộc tình trái ngang, mà rất có thể là cuộc tranh giành quyền lực giữa các gia tộc thông qua hôn nhân với trưởng công chúa.
Toàn thư chép: “Bính Thân [1269] Nhân Huệ Vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu. Người trong trấn kiện Khánh Dư tham lam thô bỉ. Hành khiển đem sự trạng tâu lên. Khánh Dư nhân đó tâu vua: "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ ". Vua không hài lòng, Khánh Dư bèn trở về. Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về, vì sợ ở lâu bị vua khiển trách (...) Nhâm Tý [1312] Mùa hạ tháng 5, dụ bắt được chúa Chiêm Thành Chế Chí đem về; phong em hắn là Chế Đà A Bà Niêm làm Á hầu trấn giữ đất ấy. Trước đó, Chế Chí sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài bí mật ước hẹn với hắn. Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn theo đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến. Lấy Đoàn Nhữ Hài làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước. Vua đến Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng. Nhân Huệ Vương đem quân đuổi theo. Nhữ Hài lập tức chạy thư tâu rằng: "Khánh Dư định cướp công vua". Vua giận lắm, sai bắt giám quân của Khánh Dư là Nguyễn Ngỗi đem chặt chân. Nhân Huệ sợ, đến ngự doanh tạ tội và nói rằng: "Thần sợ nó đến giữa biển lại đổi bụng khác, nên mới chặn đằng sau thôi" (...) Bính Thìn [1316] Mùa đông tháng 11, sai tể thần, tôn thất và các quan gặt ruộng tịch điền. Sai Nhân Huệ Vương Khánh Dư đi Diễn Châu xét duyệt sổ lính, sổ dân, lấy Nội thư hỏa chánh chưởng phụng ngự Nguyễn Bính làm phó. Xong việc về triều, Bính đem tiền bổng dâng nộp. Vua sai hữu ty nhận lấy. Có người hỏi: "Bính nộp tiền bổng mà bệ hạ nhận, thần chưa hiểu là cớ làm sao". Vua đáp: "Bính nộp tiền bổng là thành thực, nếu trẫm không nhận, thì hãm Bính vào tội dối trá, cho nên nhận lấy để tỏ rõ Bính không gian dối". Bính là cận thần của Thượng hoàng, tính người trong sạch thẳng thắn, năm trước đứng đầu hành nhân sang sứ nước Nguyên, trở về không mua thứ gì, Thượng hoàng khen ngợi, đặc cách ban thưởng 2 tư. Theo lệ cũ, những người đi sứ Nguyên về, mỗi người được ban tước 2 tư, người đứng đầu hành nhân trở xuống, mỗi người 1 tư. Bính là người trong sạch thẳng thắn nên được 2 tư (...) Đinh Sửu [1337] Sai Hưng Hiếu Vương dẹp người man Ngưu Hống. [Hưng Hiếu Vương] tiến quân vào trại Trịnh Kỳ, đánh tan quân man, chém tù trưởng của họ là Xa Phần. Quân trở về, quân sĩ đều được ban thưởng. Hưng Hiếu Vương viện dẫn việc Nhân Huệ Vương đi dẹp ấp Nam Nhung khi trước, xin thưởng cả những người giữ thuyền. Thượng hoàng nói: "Khánh Dư đi đánh Nam Nhung, từ Nghệ An đi bộ mấy ngày, đến sông Nam Nhung mới đục gỗ làm thuyền.Đó là giữ thuyền trong đất của giặc, chứ không phải là giữ thuyền ở Nghệ An.Người giữ thuyền lần này thì khác thế. Vả lại, có thưởng tất phải có phạt, thưởng phạt thường phải có cả. Nếu người giữ thuyền muốn nhờ ở chiến thắng để lấy thưởng, giả sử người đi đánh bị chết thì người giữ thuyền cũng chịu chết chăng". Hưng Hiếu trả lời: "Nếu không có người giữ thuyền, trong quân mà nghe tin giặc lấy mất thuyền thì quân sĩ liệu có giữ vững được không". Thượng hoàng nói: "Nếu vậy thì trước hết phả thưởng cho những người trong triều mới phải, vì nếu Kinh sư không yên thì quân sĩ có thể đi đánh giặc được không". Hưng Hiếu không trả lời được. Trong chiến dịch này, gia đồng của Hưng Hiếu là Phạm Ngải có lập chiến công (…) Kỷ Mão [1339] Nhân Huệ Dương Khánh Dư chết”.
- Xưa nay sách sử đều chép Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tham lam thô lậu, có phải không ? Sự kiện năm 1312 có thể hiểu theo 2 cách: trước là Trần Khánh Dư tham lập công, sau là Nhân Huệ vương sợ Chế Chí chạy mất. Sự kiện năm 1316 có thể đặt câu hỏi phó đoàn Nguyễn Bính đem tiền bổng dâng nộp, thế tiền bổng của trưởng đoàn Nhân Huệ vương thì sao ? Vì mục đích sách chép đến sự trong sạch thẳng thắn của Nguyễn Bính nên không chép đến Trần Khánh Dư là có thể hiểu được. Sự kiện Trần Khánh Dư xin thưởng cho cả người giữ thuyền, cũng có thể hiểu theo 2 cách: trước là Nhân Huệ vương tham lam, sau là Trần Khánh Dư rộng lượng (sợ anh em tâm tư) và Trần Minh Tông cũng cho là phải nên ban thưởng. Rất khó để đánh giá về vị tướng Trần Da. Trần Mạnh có 6 câu thơ khá thú vị: “Mấy dãy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót - Một chiếc gối nằm khểnh ở xa triều đình và thành thị - Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hóa của nhà vua - Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi - Mũi rồng đâu có giống mỏ chim - Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ Hồ xa xôi”. Nhân Huệ vương vui với việc câu cá hái củ và xin ngài chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ Hồ, xem ra ngài giống cư trần lạc đạo ?










Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

TRẦN TRIỀU NHÂN VẬT: TRẦN DI ÁI


1. Toàn thư chép: “Ất Dậu [1285] Tháng 3 (…) Thượng vị Văn Chiêu hầu [Trần] Lộng đầu hàng Thoát Hoan. Kế đó, Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem gia thuộc đầu hàng quân Nguyên”.
An Nam chí lược chép: “Trần Tú Viên cháu gọi An Nam quốc vương bằng bác, con của Vũ Đạo hầu (…) Năm sau [1336] trở về Hán Dương, Trấn Nam vương cưới người em gái [họ Trần] làm thứ phi, sinh được hai con (...) Trần Văn Lộng con của Nhân Thành hầu Trần Duyệt, cháu nội của quốc thúc thái sư Trần Thủ Độ, ở bản quốc phong tước Chương Hoài thượng hầu (…) Trần Kiện con của Tịnh Quốc vương, cháu nội của Thái Quốc vương, ở bản quốc được phong Chương Hiến thượng hầu (…) cưới nàng Quỳnh Huy con gái thái sư Chiêu Minh vương, sinh con là Mặc Hầu (…) chẳng may giữa đường tử nạn”.
An Nam truyện trong Nguyên sử chép: “Năm thứ 22 [1285] Người trong tôn tộc là Văn Nghĩa hầu, cùng cha là Vũ Đạo hầu, con là Minh Trí hầu, con rể là Chương Hoài hầu và Chương Hiến hầu (…) dẫn quân ra hàng (…) Bèn sai bọn Minh Lý Tích Ban đưa Chương Hiến hầu, Văn Nghĩa hầu cùng em là Minh Thành hầu (…) về triều”.
Trần Tú Viên thần đạo bi trong Chí Chính của Hứa Hữu Nhâm chép: “Họ Lý truyền 9 đời đến Long Hàn thì suy, loạn phản nhiều buộc chạy về Quy Hóa giang, ngoại thích Trần Thắng [Trần Thừa] cùng em họ là Trần Thẩm khởi hương binh bình loạn, giúp Long Hàn giữ nước, lấy Thắng làm thái úy, Thẩm làm Khoái Lộ hầu, Long Hàn mất con là Hạo Sảm nối ngôi, lấy con gái Chiêu Thánh làm vợ của con Thắng là Nhật Chiếu, Hạo Sảm chết Chiêu Thánh nối ngôi, được hơn một năm thì nhường cho chồng. Họ Trần được nước, truy hiệu Thắng làm Thái tổ, Thẩm làm An Quốc vương, con là Túc Kính làm Vũ Đạo vương, lấy con gái họ Trình sinh 3 trai, con trưởng húy là Tú Viên, tại bản quốc phong Văn Nghĩa hầu (…) Quang Bính chết con là Nhật Huyên không thỉnh tự lập, khi bị triệu thì cáo bệnh mà từ, rồi vời lại mới sai chú họ Di Ái đại diện vào triều, phong Di Ái làm An Nam quốc vương (…) Trấn Nam vương đem đại quân tiến vào biên giới (…) Vũ Đạo (…) xin hàng, dâng người con gái họ Lý cho vương, sau sinh ra vương tông”.
- Chi tiết Trần Thẩm được phong tước hiệu Khoái Lộ hầu giúp cho chúng ta hiểu rõ về sự kiện năm 1209 được chép trong Việt sử lược như sau: “mùa thu tháng 8, Thuận Lưu, Khoái vì việc Bỉnh Di chết mà đem thủy quân đến đánh kinh sư”. Trận đánh này do Trần Lý tổ chức, có Thẩm ở đất Khoái tham gia, trận này họ Trần thua, Trần Lý bị liệt hầu Cao Kha bắn chết. Tô Trung Từ thấy triều đình mạnh, liền trở giáo phản lại họ Trần, tấn công đất Khoái, cướp vương tử Sảm từ Hải Ấp, rồi nhờ thượng phẩm phụng ngự Đỗ Quang tấu xin với Cao Tông.


- Năm 1212 Minh tự ở Thuận Lưu là Trần Tự Khanh được ban tước hầu hiệu Chương Thành, mộ bia của Trần Tú Viên cho biết rằng khi Trần Thừa được giữ chức thái úy thì Trần Thẩm cũng được giữ tước hiệu Khoái Lộ hầu, mà theo Việt sử lược thì sau khi Trần Tự Khánh mất năm 1223 thì đến mùa xuân năm 1224 Thừa được giữ chức thái úy, như thế sau cái chết của Kiến Quốc vương, Trần Thẩm được giữ tước hiệu Khoái Lộ hầu, mà Thẩm lại là anh trai của Trần Thủ Độ, sự việc này củng cố cho giả thuyết: Trần Thừa đã liên kết với nhánh Trung Vũ vương để sát hại Chương Thành hầu.
2. Sự việc "Trần Thủ Độ giết [hết] tôn thất nhà Lý" được chép trong Toàn thư mục năm 1232. Chữ "hết" có lẽ đúng là chữ mà sử gia Ngô Sĩ Liên muốn dùng, bằng chứng chính là lời bàn của Ngô sử gia "Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa [Phan] Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm chép vào đây".

Thế nhưng trong bài Thử lật lại “vụ án” Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý thì nhà báo Hoàng Hải Vân đã "thử lật lại" nghi án Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý và cho rằng: không đủ bằng chứng để kết tội Trung Vũ vương. Tác giả Ngọc Thiên Hoa đã phản biện bài viết của nhà báo Hoàng Hải Vân qua bài Trần Thủ Độ: Công không tăng tội không giảm.
Sách Long Hưng. Đất phát nghiệp vương triều Trần của tác giả Đặng Hùng viết: “Có thể không có việc Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý, nhưng chắc chắn là có một số tôn thất (con cháu nhà Lý) đã chống lại Trần Thủ Độ và Vương triều Trần, nên bị Trần Thủ Độ tấn công và sát hại. Đó là trường hợp của Thiềm Hoa công chúa (…) Theo ông Nguyễn Văn Huyên trong bài Dấu tích Trần Thủ Độ trên đất Nam Hà. Căn cứ vào ba bản sắc phong thời Khải Định [1916-1925] ở đình Cả, thôn Thành Thị, xã Vụ Bản thì nơi đây trước là đất của vợ chồng công chúa Thiềm Hoa, được vua Lý cấp thái ấp cho. Thiềm Hoa công chúa đã cùng chồng là An Quốc đại vương chống lại Trần Thủ Độ”.
Trước hết là lời bàn trong Toàn thư. Qua lời bàn, chúng ta biết rằng Phan Phu Tiên không chép lại sự việc Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý. Nhưng rất có thể Phu Tiên bỏ sót hoặc không biết, tôi nghiêng về bỏ sót hơn, chứ việc lớn như vậy, thật khó để không biết lắm. Thế nhưng bỏ sót, thì xem ra cũng chưa ổn, vì bản thân Ngô sử gia biết thông tin Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý nhưng Sĩ Liên cũng chỉ dám chép "chưa chắc đã có thực, tạm chép vào đây". Tức là bản thân Ngô sử gia cũng đặt nghi ngờ về nguồn cung cấp thông tin, Sĩ Liên biết được thông tin, nhưng lại nghi ngờ thông tin, không biết đúng sai ra sao, nên cứ tạm ghi lại để kiểm chứng sau.
Sự nghi ngờ của Ngô sử gia không phải không có căn cứ, khi ông biết rõ rằng "thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng". Và chính Toàn thư mục năm 1268 chép: "Ngoại thích là Lý Cát phạm tội ngồi vào ngai vua ở điện Thiên An. Khi xét hỏi trị tội thấy hắn có chứng điên, bèn đánh trượng rồi tha". Trần Thủ Độ mất năm 1264, mà năm 1268 vẫn còn người họ Lý, thậm chí người này còn là ngoại thích [họ hàng bên vợ] của nhà Trần. Xem hành động "ngồi vào ngai vua" thì có vẻ như Cát là tôn thất của nhà Lý, vì tiếc nuối ngôi báu mà đã có hành động khá "lộ liễu" nhưng có lẽ vì là ngoại thích nên triều Trần niệm tình nên tha bằng cách bày cho trò "chứng điên" do đó chỉ bị đánh đòn.
Mục Tự sự trong An Nam chí lược của Lê Tắc chép rằng "Lúc đầu bản-quốc (An-nam) loạn lạc, cha mẹ, gia quyến ly tán, Tắc vào Trung-Châu, mười năm sau cưới Tôn-nữ họ Lý, con quốc-vương trước, làm vợ. Lý Tôn-nữ theo cha nuôi là Chương-Hoài-Hầu Trần-Tuyên-Uỷ hàng phụ Trung-Quốc". Trần Tuyên Ủy ở đây là tên khác của Trần Văn Lộng, mà cái thú vị nhất là theo mục Các vương hầu nội phụ trong An Nam chí lược thì "Trần Văn Lộng. Con của Nhân-Thành-Hầu, Trần-Duyệt, cháu nội của quốc-thúc thái-sư Trần-Thủ-Độ". Đúng là rất thú vị phải không ? Cháu nội của Trần Thủ Độ có 1 người con nuôi họ Lý và người con nuôi này là con của Quốc Vương trước. Vị này là ai thì tạm chưa bàn, nhưng chắc chắn vị này phải mang họ Lý thì con gái mới mang họ Lý. Trần Văn Lộng nhận người con gái này làm con nuôi thì xem ra mối quan hệ giữa dòng dõi Trần Thủ Độ có mối quan hệ khá tốt với tôn thất họ Lý.
Cuối cùng là qua Trần Tú Viên thần bi đạo, chúng ta biết rằng, cháu của Trung Vũ vương là Vũ Đạo hầu cũng có mối quan hệ rất tốt với người họ Lý, bằng chứng là ngài Vũ Đạo hầu đã dâng người con gái họ Lý cho Trần Nam vương. Rõ ràng là người họ Lý mà rất có thể là tôn thất vẫn còn sau khi Trung Vũ vương chết năm 1264.
3. Phụng Dương công chúa thần đạo bi minh tính tự viết: “Công chúa (…) tên được ban là Phụng Dương. Cha là tướng quốc thái sư, mẹ là phu nhân Tuệ Chân (…) Vua Thái Tông yêu quý, nuôi làm con, đến khi gả cho thượng tướng thái sư, vua xuống chiếu ban cho xe và quần áo như con gái vua (…) Công chúa được 7 người con, con trưởng mất sớm (…) bèn nuôi con quan nội hầu quốc công thay con (…) người thứ 2 là Văn Túc vương Đạo Tái (…) lấy con gái Tĩnh Quốc đại vương là công chúa Bảo Tư. Thứ nữa là Vũ Túc vương Đạo […] lấy công chúa Bảo Chân, con gái thứ 4 của vua Thánh Tông. Con gái lớn là công chúa Quỳnh Huy húy là Thụy Vương, 2 lần gả chồng đều không hòa hợp. Con gái thứ là công chúa Quỳnh Tư húy là Thụy Nhu, gả cho kiểm hiệu thái úy. Thứ nữa là công chúa Quỳnh Bảo húy là Thụy Ân, lấy con trưởng của Tĩnh Quốc đại vương là Nhân Quốc vương. Thứ nữa là công chúa Quỳnh Thái húy là Thụy Tư, làm vợ kế kiểm hiệu thái úy. Quỳnh Huy, Quỳnh Tư, Vũ Túc đều mất sớm (…) Năm Tân Mão niên hiệu Trùng Hưng [1291] công chúa mất táng tại thôn Độc Lập phủ Thiên Trường (…) Năm Quý Tị niên hiệu Hưng Long thứ 1 [1293] chồng là nguyên lão bốn triều, Bình chương quân quốc trọng sư, lập bia (…) Nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 [1822] khắc lại”.
Toàn thư chép: “Bính Tuất [1226] Mùa hạ tháng 5, phong em là Nhật Hiệu làm Khâm Thiên Đại Vương [khi ấy mới 2 tuổi] Quý Sửu [1253] Mùa hạ tháng 4, cho Khâm Thiên Đại Vương Nhật Hiệu làm thái úy (...) Giáp Tý [1264] Mùa xuân tháng giêng, thái sư Trần Thủ Độ chết [thọ 71 tuổi] truy tặng Thượng phụ thái sư Trung Vũ Đại Vương (...) Tháng 3, lấy Khâm Thiên Đại Vương Nhật Hiệu làm tướng quốc thái úy, nắm chung việc nước. Bấy giờ, vua cho Nhật Hiệu làm thái sư, nhưng Nhật Hiệu cố ý từ chối không nhận (…) Vua tuy cho, ông không nhận chức thái sư, nhưng lại ban thêm hai chữ tướng quốc thành tướng quốc thái uý (...) Ất Sửu [1265] Hoàng tử Đức Việp sinh (…) Mậu Thìn [1269] Mùa thu tháng 7, Tướng quốc thái úy Nhật Hiệu chết thọ 44 tuổi, truy tặng tướng quốc thái sư (...) Ất Dậu [1285] Mùa xuân tháng giêng, Hưng Đạo Vương bàn xin Thượng tướng thái sư Quang Khải chặn đánh cánh quân của Nguyên soái Toa Đô ở Nghệ An. Tháng 2, con thứ của Tĩnh Quốc Đại Vương Quốc Khang là thượng vị Chương Hiến hầu [Trần] Kiện và liêu thuộc là bọn Lê Trắc đem cả quân đầu hàng quân Nguyên (…) Toa Đô sai đưa bọn Kiện về Yên Kinh (…) Gia nô của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô bắn chết Kiện (...) Canh Dần [1290] Tháng 3, gia phong Tá Thiên Đại Vương Đức Việp làm Nhập nội Kiểm hiệu thái úy”.
(Sơ đồ nhánh Phụng Dương công chúa)
4. Sử gia người Nhật Bản là Yamamoto Tatsuro trong bộ An Nam sử nghiên cứu đã đồng nhất Quang Bính với Trần Thái Tông, Nhật Huyên với Trần Thánh Tông, Nhật Tôn với Trần Nhân Tông. Tác giả Lê Mạnh Thát trong sách Trần Nhân Tông con người và tác phẩm cho rằng: Quang Bính là Trần Thánh Tông, Nhật Huyên và Nhật Tôn là Trần Nhân Tông, Nhật Sủy là Trần Anh Tông, Nhật Khoáng là Trần Minh Tông.
Sách Trần Nhân Tông con người và tác phẩm của tác giả Lê Mạnh Thát có giới thiệu 22 văn kiện ngoại giao từ 4 nguồn là An Nam chí lược, Nguyên sử, Thiên Nam hành ký, Trần Cương Trung thi tập. Người đọc xin xem thêm bài Khảo biện về văn thư ngoại giao của Trần Nhân Tông và Văn thư ngoại giao thời Trần của tác giả Phạm Văn Ánh.
Tờ biểu tháng tư năm Chí Nguyên thứ 25 [1288] [Tác giả Phạm Văn Ánh cho rằng niên đại của bản đấu là không hợp lý. Nó đúng phải là năm 1289] viết: “Thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên, sợ hãi quên chết phục tội, dâng lời lên hoàng đế bệ hạ (…) Đại quân đã lắm lần chinh phạt, giết cướp lại nhiều. Anh em không kẻ hiền lương, dựng chuyện tâu sàm không ít. Trước đây, quốc thúc Di Ái rõ ràng trốn mất ở ngoài biên cảnh, bèn trở ngược vu cáo thần là đã làm việc chuyên giết. Lại người em giữa Ích Tắc tự đem mình đến trước đại quân xin vái đầu hàng. Ấy là muốn đến trước để lập công cho mình. Huống nữa là những người đến thay mà tâu bày, thì lại càng thêm ngoa dối”.
- Theo như tờ biểu thì Trần Nhật Huyên có người em giữa là Trần Ích Tắc và người chú là Trần Di Ái. Vậy Trần Nhật Huyên phải là Thánh Tông Trần Hoảng.
Tờ biểu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 [1293] viết: “Ngày lành tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn trăm vái, dâng lời (…) Bề tôi Nhật Tôn, đất nam ngồi giếng, mặt bắc ngóng sao, ba mươi năm chăm chăm khuyển mã, một tấc lòng rực rỡ trời cao, cúi bày gương vàng, luống mong cửa khuyết xem soi, xa dâng chén ngọc, sâu trông cửa ngọc đóng cất”. 
Tờ tâu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 [1293] viết: “Bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn kính cẩn quên chết cúi đầu trăm vái dâng lời (…) Như thế, bọn thần Nhật Tôn khôn xiết vui mừng, rất là hớn hở, tự bảo tội lỗi đầy trời của cha con thần mấy chục năm, đến ngày hôm nay đều được xóa sạch. Kẻ còn người mất thảy đều vái trời cha đất mẹ đã ban cho cái ơn sống lại (…) Nép mong hoàng đế bệ hạ với lòng cha mẹ, với lượng càn khôn, bao chứa đồ dơ, riêng ban lòng thương, nghĩ đến ông nội [tổ] của thần là bề tôi Quang Bính, lòng son qui thuận, hèn nhận sắc phong, để giúp cho thần Nhật Tôn nối được ơn xưa, lo làm chức cũng như cũ, trên để tỏ hết lòng thành thờ vua, dưới để hoàn thành chí nguyện tiên tổ”.
- Ngày 04 tháng 03 năm 1293 Trần Nhật Tôn dâng một tờ biểu và một tờ tấu. Qua những chi tiết như “ba mươi năm chăm chăm khuyển mã” “tội lỗi của cha con thần được xóa sạch” “kẻ còn người mất” thì Trần Nhật Tôn ở đây phải là Trần Nhân Tông. Và chi tiết “tổ của thần là bề tôi Quang Bính” như thế thì Quang Bính phải là Trần Thái Tông.
- Như vậy Quang Bính là Trần Thái Tông, Nhật Huyên là Trần Thánh Tông và Nhật Tôn là Trần Nhân Tông, đúng như Yamamoto giả thuyết, tuy nhiên quy chuẩn này luôn đúng với phương nam nhưng khi người phương bắc chép sử thì Quang Bính, Nhật Huyên, Nhật Tôn lại được sử dụng phức tạp hơn, thành ra có vài chỗ các tác giả phải nại tới việc chép nhầm của sử gia để giải thích.
Nguyên sử: “Họ Lý truyền qua tám đời đến Hạo Sảm thì Trần Nhật Cảnh là con rể Hạo Sảm bèn có được nước ấy (…) Mậu Ngọ [1258] tháng 2 Nhật Cảnh truyền ngôi cho con trưởng là Quang Bính (…) Năm thứ 2 [1261] phong Quang Bính làm An Nam quốc vương (…) Năm thứ 14 [1277] Quang Bính chết, người trong nước lập thế tử là Nhật Huyên” [Bản dịch của Châu Hải Đường]
- Theo Toàn thư thì năm 1258 Trần Thái Tông nhường ngôi cho Trần Thánh Tông để lên làm thượng hoàng và đến năm 1277 thì Trần Cảnh mất. Rõ ràng là thông tin trong Nguyên sử đã bất nhất, nếu Quang Bính là Thái Tông thì ghi chép năm 1258 là sai, nếu Quang Bính là Thánh Tông thì ghi chép năm 1277 là sai. Chúng ta biết rằng: đối với phương nam Quang Bính là Trần Thái Tông và Nhật Huyên là Trần Thánh Tông nên năm 1258 phải là: Quang Bính truyền ngôi cho Nhật Huyên. Nhưng hẳn người phương bắc không biết kỹ về chế độ thượng hoàng ở phương nam nên chuẩn theo khuân mẫu cha chết con nối thành ra Nhật Cảnh phải chết năm 1258 thì con là Quang Bính mới nối được và Quang Bính phải chết năm 1277 thì con là Nhật Huyên mới nối được. Tình thế của sử gia phương bắc bị cố định bởi 2 lần thay đổi ngôi đế vào năm 1258 và 1277. Riêng đối với chế độ cha chết con nối thì cần tối thiểu 3 người để thỏa mãn nhưng với chế độ thượng hoàng thì chỉ cần tối thiểu 2 người.
5. An Nam chí lược chép: “Tống tự. Qua năm Đinh Sửu hiệu Chí Nguyên [1277] vua Trần mất, thế tử không xin sắc mạng, mà tự lập làm vua, nên vua [Nguyên] sai thượng thư bộ Lễ là Sái Thung sang mời nhập triều, vua Trần mượn cớ có tật không đi, qua năm sau, lại lấy cớ có tật không đi, sai quốc thúc [thúc phụ - em trai ruột của cha] là Trần Di Ái sang triều kiến (...) Đại Nguyên chiếu chế. Lời chiếu trong năm Chí Nguyên thứ 18 [1281] Hồi trước, An Nam quốc vương Trần còn sống, ta thường lấy sáu điều khoản theo lệ cũ của tổ tông yên trị các nước phụ thuộc để ra lời dụ, nhưng ông ấy vẫn chưa làm đầy đủ thì mất, nay con không theo lệnh của triều đình mà tự lập lên làm vua, ta sai sứ thần qua triệu thì mượn cớ không đến chầu, nay lại thác ốm không đi, thật cố ý trái mệnh của ta, chỉ có thúc phụ là Di Ái vào bái yết (…) Lời chiếu năm Chí Nguyên thứ 23 [1286] Trước đây nước khanh là Trần đã chịu thuần phục, theo niên lệ cống hiến, mà không chịu thân hành vào chầu, nhân Trần Di Ái thúc phụ của ông ấy sang đây, ta giao việc nước An Nam cho y (...) Chiếu dụ cho thế tử nhà Trần năm Chí Nguyên thứ 28 [1291] Ta sai sứ thần qua mời thân sinh khanh qua chầu, rút cuộc không vâng lời, chỉ cho ông chú [em trai của ông nội][thúc phụ] qua thay mặt chầu triều, vì thân sinh khanh không vào chầu, nên ta phong cho người chú làm An Nam quốc vương” [Bản dịch của Viện Đại Học Huế 1961]
Nguyên sử. An Nam truyện chép: “Tháng 10 năm thứ 18 [1281] xuống chiếu rằng Quang Bính đã chết, con là Nhật Huyên không thỉnh mệnh mà tự lập, triều đình sai sứ sang vời, lại lấy cớ bệnh tật, chỉ lệnh cho chú [thúc] là Di Ái sang chầu nên triều đình lập Di Ái lên thay làm An Nam quốc vương (...) Tháng 2 [1286] xuống chiếu dụ quan lại và dân chúng An Nam, kể những tội ác của Nhật Huyên, nói rõ các việc giết hại thúc phụ Di Ái và không tiếp nhận Đạt lỗ hoa xích Nhan Thiết Mộc Nhi” [Bản dịch của Châu Hải Đường]
- Theo như những thông tin trên thì Trần Di Ái là chú ruột của Trần Thánh Tông.
An Nam chí lược chép: “Đại Nguyên phụng sự. Năm Chí Nguyên thứ 16 [1279] giữ sứ thần An Nam là Trịnh Đình Toản ở lại, rồi sai Sài Thung dẫn sứ thần Đỗ Quốc Kế về nước và dụ vua phải vào chầu, thế tử lấy cớ đau mà từ khước, Sài Thung lấy lễ trách, thế tử sợ, bèn khiến chú họ là Trần Di Ái thay mặt tới chầu, hoàng thượng lấy cớ thế tử có bệnh, bèn phong Di Ái làm An Nam quốc vương (...) Gia thế họ Trần. Đời thứ 3. Trần Hoảng (…) con thứ vua Thái vương (…) lúc cha mất, thế tử tự lập làm vua (…) Năm thứ 17 [1280] vua lại khiến Sài Thung đem chiếu thư qua dụ, thế tử sợ, khiến người chú [tùng thúc - chú họ] là Trần Di Ái thay mình vào chầu, bèn lập Di Ái làm An Nam quốc vương (…) Sứ thần các triều đại. Sứ thần thời Trần. Năm Canh Thìn, Chí Nguyên [1280] lại khiến Sài thượng thư đưa Đỗ Quốc Kế về và đưa chỉ dụ thế tử, thế tử sợ khiến tùng thúc Trần Di Ái vào chầu thay mình, Lê Trọng Đà làm phó”.
Trần Tú Viên thần đạo bi trong Chí Chính của Hứa Hữu Nhâm chép: “Quang Bính chết con là Nhật Huyên không thỉnh tự lập, khi bị triệu thì cáo bệnh mà từ, rồi vời lại, mới sai chú họ [tùng thúc] Di Ái đại diện vào triều, phong Di Ái làm An Nam quốc vương”.
An Nam chí nguyên chép: “Trần Thừa. Năm Chí Nguyên thứ 14 [1277] chết, tên thụy là Thái vương, ở ngôi 36 năm, con là Hoảng, lại có tên khác là Nhật Huyên, lên ngôi (…) Năm Chí Nguyên thứ 17 [1280] gặp lúc bấy giờ Sài Xuân lại sang dụ, vời Hoảng vào chầu, Hoảng bèn sai chú họ là Di Ái sang triều cận, vua Nguyên nhân đó lập Di Ái làm An Nam quốc vương” [Bản dịch của Hoa Bằng Huỳnh Thúc Trâm]
- Theo những thông tin trên thì Trần Di Ái là chú họ của Trần Thánh Tông.
An Nam chí lược chép: “Trương thượng thư hành lục. Tháng chạp năm Tân Mão, Chí Nguyên thứ 28 [1291] bắt đầu lên đường tới kinh đô (…) thế tử khi tới chỗ sứ quán, tự nói rằng: đương để tang vua cha, chỉ mặc áo vải đen, ăn đồ dưa rau, thọ giới 5 năm, nay mới được 2 năm 24 ngày (…) thế tử nói: nước tôi không tội lỗi gì mà gặp tai họa to tát, cứ theo lời chiếu của thiên tử, chuyến nào cũng kể tội giết hại quốc thúc, đuổi thiên sứ, chống cự với vương sư, đến nay vẫn chưa được tha tội, xét lại quốc thúc nhân đời tiên vương sai đi vào Trung Quốc chầu thiên tử (…) lúc bấy giờ, thiên tử phong quốc thúc làm vua An Nam, quốc thúc tự lấy làm sợ, rồi không biết đi đâu, không phải nước tôi dám giết, quốc thúc tự trốn đi miền Hải Nam”.
- Theo thông tin trên thì Trần Di Ái là quốc thúc của Trần Nhân Tông. Ghi chú số 13 trong bài Ghi chép của Sứ thần Nguyên về chuyến thăm nước ta năm 1292 của tác giả Hồ Bạch Thảo cho biết “Quốc thúc là chú của vua”. Tuy nhiên An Nam chí lược mục Trương thượng thư hành lục chép rằng “thái sư quốc thúc Chiêu Minh vương” và mục Các vương hầu nội phụ chép rằng “quốc thúc thống quốc vương thái sư Trần Độ”. Như vậy với Lê Tắc, quốc thúc vừa có thể là chú ruột nhưng cũng vừa có thể là chú họ.
Toàn thư chép: “Nhân Tông hoàng đế. Tân Tị [1281] Sai chú họ là Trần Di Ái [Trần Ải] và Lê Mục, Lê Tuân sang Nguyên. Nhà Nguyên lập Di Ái làm Lão hầu, cho Mục làm Hàn lâm học sĩ, Tuân làm Thượng thư, lại sai Sài Xuân đem 1000 quân hộ tống về nước. Xuân ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, Xuân dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu. Đến điện Tập Hiền, thấy chăng bày màn trướng, hắn mới chịu xuống ngựa (...) Nhâm Ngọ [1282] Mùa hạ tháng 4, bọn Trần Di Ái đi sứ về nước. Tháng 6, trị tội bọn phán thủ Trần Ải. Ải phải đồ làm khao giáp binh Thiên Trường, Lê Tuân phải đồ làm Tống binh”.
- Theo thông tin trên thì Trần Di Ái là chú họ của Trần Nhân Tông.
Cương mục chép: “Năm Nhâm Ngọ [1282] Lời cẩn án. Nay tham khảo sách Nguyên sử loại biên và Thiên nam hành kỷ chép về phần dụ, chiếu cũng nói rằng: “Tiếng là hâm mộ phong hóa Trung Quốc, mà thực ra chưa đến triều yết lần nào. Đến khi cho chú về tạm giữ nước ấy thì lại ngang nhiên kháng cự, làm việc chém giết một cách càn giỡ”. Cứ như thế thì khi Sài Xuân đem quân sang nước ta, đã bị quân ta đón đánh giết chết ở trên biên giới rồi, có lẽ nào lại đến cửa Dương Minh mà kiêu ngạo càn giỡ được nữa”.
- Theo như Cương mục thì sử cũ đã lầm lẫn sự kiện Sài Xuân vô lễ, ngạo mạn ở cửa Dương Minh và Di Ái là chú của vua An Nam.
Nhận xét:
- Có rất nhiều thông tin chép về Trần Di Ái tuy nhiên các thông tin ấy lại không thống nhất, sách đáng lý khả tín nhất là An Nam chí lược thì ở mỗi chỗ lại đưa ra một thông tin khác nhau.
- Xem Toàn thư thì dễ dàng nhận thấy là Ngô Sĩ Liên biết rõ về Trần Di Ái như: Di Ái còn có tên khác là Ải và phải làm khao giáp binh ở Thiên Trường. Như thế ghi chép của Toàn thư là có cơ sở. Tuy nhiên, rất có thể Ngô sử gia đã có những lầm lẫn như, Di Ái được phong làm An Nam quốc vương chứ không phải Lão hầu.
- Tôi cho rằng có 3 thông tin là vượt trội hơn gồm: Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 26 [1289] Trương thượng thư hành lục và Toàn thư. Trương thượng thư hành lục và Toàn thư đều chép Di Ái là chú của Trần Nhân Tông, tuy nhiên chúng ta có thể biện luận cho các ghi chép của 2 tài liệu này như sau:
- Thứ nhất là đối với Toàn thư, do sách chỉ chép rằng “khiển người chú thay mặt sang chầu” trong khi sự kiện này được chép trong kỷ của Trần Nhân Tông nên có thể hiểu người sai Di Ái sang chầu thay là Trầm Khâm. Các tờ biểu năm Chí Nguyên 15 [1278] và Chí Nguyên 20 [1284] chép những chi tiết “cô thần bẩm khí yếu đuối, mà đường sá thì khó khăn” “Sài thượng thư mang chiếu thư bảo phải vào chầu” “còn việc tiếp tục bảo cô tử tự thân đến cửa khuyết” cho thấy Sài Xuân sang An Nam chiếu cho Trần Thánh Tông sang chầu và người đón tiếp sứ thần cũng chính là Trần Hoảng nên rất có thể người sai Di Ái sang chầu thay phải là Nhật Huyên, nói cách khác nên hiểu ghi chép của Toàn thư là “thượng hoàng sai chú họ là Trần Di Ái sang Nguyên”.
- Thứ hai là đối với Trương thượng thư hành lục, do khởi đầu Trần Nhân Tông có nhắc đến các chiếu thư luôn có nội dung “kể tội giết hại quốc thúc” vì thế mà tôi để xuất nên hiểu danh xưng “quốc thúc” mà Nhật Tôn nói, không phải là “từ ngữ chỉ mối quan hệ với người nói”. Chính xác thì cả Trương Lập Đạo và Trần Khâm đều biết đến vị quốc thúc trong chiếu thư của nhà Nguyên và khi nói, do có liên quan tới vị quốc thúc này, nếu Nhân Tông sử dụng danh xưng khác thì có thể khiến Lập Đạo không hiểu được nên Trần Khâm vẫn sử dụng lại danh xưng “quốc thúc” trong các chiếu thư mà cả 2 đều đã biết, như thế “quốc thúc” không phải là chỉ mối quan hệ giữa người nói và đối tượng được nói đến, mà chỉ là 1 đối tượng khách quan, không có liên hệ gì với người nói. Ví dụ gần nhất trong An Nam chí lược là khi chép về Trần Văn Lộng rằng “cháu của quốc thúc Trần Thủ Độ”. Rõ ràng quốc thúc ở đây không phải dùng để chỉ mối quan hệ giữa người nói [Lê Tắc] với đối tượng được nói đến [Trần Thủ Độ] Người có mối quan hệ quốc thúc với Trần Thủ Độ đã bị ẩn đi trong những trường hợp như thế này và rất có thể trường hợp đối thoại giữa Trương thượng thư với Nhật Tôn cũng tương tự.
- Như vậy tuy là có tới 2 tài liệu vượt trội ghi nhận Trần Di Ái là chú của Trần Nhân Tông, song trong cả hai tài liệu ấy đều có thể hiểu theo 1 cách khác và khi hiểu theo cách khác đối với 2 tài liệu thì lại đều dẫn tới khả năng Di Ái là chú của Trần Thánh Tông. Cùng với ghi chép trên mộ chí của Trần Tú Viên và tờ biểu năm 1289 thì tôi cho rằng giả thuyết Trần Di Ái là chú của Trần Thánh Tông là khả dĩ nhất. An Nam chí lược và Tờ biểu năm 1289 đều chép là quốc thúc, còn Toàn thư và mộ chí Trần Tú Viên thì chép rõ là chú họ, trong khi Nguyên sử chép là chú ruột. Trong trường hợp này tôi cho rằng: chú họ được ưu tiên trước nhất.
6. Bài Ả Trần, Mai Kiện, Hồi Hột - Phía khuất của Sử-được-kí do tác giả Tạ Chí Đại Trường viết: “Không kể đến vấn đề Trần Quốc Tuấn, có những biến động tranh chấp trong dòng họ chỉ được ghi lại bằng những lời sơ sài, không đầu đuôi: “Tháng 2 [1283] trị tội Thượng vị Hầu Trần Lão, cho chuộc tội 1.000 quan tiền, đồ làm lính, lăng trì tên Khoáng là gia nô của Lão ở chợ Đông, vì tội làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước”. Lệnh năm 1250 “xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là Quốc gia” đã bị người dịch Toàn thư sửa lại là “quan gia” vì cho rằng “chưa có sách nào gọi vua là “quốc gia”. Nhưng nguyên văn chữ “nhà nước” trên chính là “quốc gia”, đúng là chỉ người đương quyền: Nhân Tông, đâu có cần tìm sách nào cho xa! Tước Thượng vị Hầu chứng tỏ Trần Lão là con một bà Phi theo thứ tự sắp xếp năm 1241. Lê Tắc nhắc đến một người bị tội, cầu cứu quân Nguyên, tên Trần Thôi, là “quốc đệ” theo cách nhìn từ phía Nguyên, là em (thượng hoàng) Thánh Tông, hẳn là Trần Lão của sử Việt (chắc tên riêng bị bỏ, chỉ còn là “thằng cha / già / lão Trần”). Cho nên Trần Ích Tắc muốn giành ngôi của Nhân Tông không phải là kẻ lạc loài. Trong lúc sử quan ghi sơ sài vài gia thần của các tông thất khác thì với Ích Tắc đã kể ra đến 20 người được tập họp ở học đường bên phải phủ đệ, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài, đủ để làm một bộ tham mưu cai trị nước khi đảo chính xong! Người sưu tập ngày nay, ngoài tiền mang niên hiệu vua, chỉ thấy loại tiền của Trần Ích Tắc đúc mà thôi, không có của vương hầu nào khác (...) Trần Lão - chắc là ông em, đã thất bại, Ích Tắc phải trông chờ nơi khác”.
An Nam chí lược chép: “Sau Quốc-đệ nước An-nam là Trần-Thôi [ ] bị tội, lén khiến con của Trọng-Vy là Trần-Văn-Tôn qua Trung-Quốc xin quân đánh An-nam. Mùa đông năm Giáp-Thân [1284] đại-binh qua đánh nước Nam, Trấn-NamVương cho Trần-Văn-Tôn làm Thiên-Hộ để dẫn đường. Vua Thánh-Tông nhà Trần cả giận, khiến bổ quan-tài Trọng-Vy”.
Nguyên sử. An nam truyện viết: “Năm thứ hai mươi mốt [1284] Tháng tám, em Nhật Huyền là Chiêu Đức Vương Trần Xán [ ] gửi thư đến Kính Hồ Chiêm Thành Hành Tỉnh, tự nguyện nạp khoản quy hàng” [Bản dịch của Châu Hải Đường. Trong ghi chú dịch giả phỏng đoán Trần Xán là Trần Ích Tắc]
Toàn thư chép: “Quý Mùi [1283] Tháng 2, trị tội thượng vị hầu Trần Lão [ ] cho Lão chuộc tội 1.000 quan tiền, đồ làm lính, lăng trì tên Khoáng là gia nô của Lão ở chợ Đông, vì tội làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước”.
- Tác giả Tạ Chí Đại Trường cho rằng Trần Lão mang hàm nghĩa là “lão già họ Trần” với tên riêng là Trần Thôi, vốn là con của một bà phi nên là em của Trần Thánh Tông. Toàn thư mục năm 1241 chép “Thứ đến (…) phong vương. Thứ nữa thì phong thượng vị hầu. Con trưởng của các vương thì phong vương, các con thứ thì phong thượng vị hầu, coi đó là chế độ lâu dài”. Xem như thế, tác giả Tạ Chí Đại Trường chỉ căn cứ vào tước thượng vị hầu để đoán định Trần Lão là con của một bà phi là chưa chính xác. Thực vậy, Toàn thư mục năm 1278 cho biết con trai của Lê Phụ Trần là Lê Tông có tước Thượng vị hầu.
-  An Nam chí lược cho biết em [quốc đệ - mục Tự sự Lê Tắc cũng có dùng khi chép về Trần Ích Tắc] của Thánh Tông là Trần Thôi bị tội, lén cử người xin binh qua đánh nước Nam. Nguyên sử cho biết em [đệ] của Thánh Tông là Trần Xán gửi thư xin hàng. Toàn thư cho biết Trần Lão bị tội đầy làm lính do phỉ báng nhà nước. Ba tài liệu chép về 3 nhân vật, trước là thấy có tên khác nhau, sau là hành trạng khác nhau.
An Nam chí lược chép: “Tắc có giao du với người bạn văn học tên là Chu Khởi, người Mân Trung. Nguyên trước Chu Khởi cùng tôi nhà Tống là Tăng Uyên Tử di cư qua An Nam, sau theo Chương Hiến hầu quy thuận”.
Nguyên sử chép: “Người trong tôn tộc là Văn Nghĩa hầu, cùng cha là Vũ Đạo hầu, con là Minh Trí hầu, con rể là Chương Hoài hầu và Chương Hiến hầu, quan cũ nhà Tống là Tăng tham chính, Tô thiếu bảo và con là Tô Bảo Chương, con trai Trần thượng thư là Trần Văn Tôn cùng nối nhau dẫn quân ra hàng”.
- Xem An Nam chí lược, chúng ta biết Tăng Uyên Tử được coi việc Tham chính phủ, Tô Lưu Nghĩa được hàm Thiếu bảo. Nên Tô Bảo Chương trong Nguyên sử có lẽ là Tô Cảnh Do trong An Nam chí lược. Lê Tắc cho biết thêm, khi cha của Trần Văn Tôn là Trần Trọng Vy mất, Tăng Uyên Tử có làm 6 câu thơ để khóc, trong đó có 2 câu “Giang Nam chim một cặp / Gãy cánh tựa nương nhau”. Như thế rất có thể nhóm Trần Trọng Vy, Tăng Uyên Tử, Tô Lưu Nghĩa khi qua An Nam đã làm môn khách của Vũ Đạo hầu.
- Việc quốc đệ Trần Thôi lén sai Trần Văn Tôn xin quân cho thấy mối quan hệ giữa 2 người rất tốt, như thế Trần Thôi hẳn là cũng có mối quan hệ tốt với gia đình Vũ Đạo hầu. Nhưng Lê Tắc cũng chép rõ Trần Thôi là quốc đệ, lại chép thêm “sai con người anh [huynh] là Chương Hiến hầu Trần Kiện nghênh chiến tại Thanh Hóa (…) Chương Hiến hầu cùng bọn Lê Tắc kéo quân ra hàng”. Như thế Trần Thôi không phải là tên khác của Trần Kiện.
- Tôi đang nghĩ tới trường hợp Trần Xán trong Nguyên sử chính là Trần Thôi trong An Nam chí lược vì trước họ đều là em của Thánh Tông, sau họ đều từng liên lạc với người phương bắc. Thêm nữa, Trần Xán - Trần Thôi rất có thể là “Chiêu Đạo Vương trước tên là Quang Xưởng, là con thứ của Thái Tông, anh cùng mẹ của Ích Tắc” như Toàn thư chép mục năm 1292. Vì thứ nhất, Nguyên sử chép Trần Xán là Chiêu Đức vương còn Toàn thư chép Quang Xưởng là Chiêu Đạo vương, thứ hai Trần Xán từng gửi thư cho người phương bắc, Ích Tắc cũng từng gửi thư cho người phương bắc như Toàn thư ghi nhận mục năm 1285, thứ ba như tác giả Tạ Chí Đại Trường nhận định việc Ích Tắc mở trường học còn có mục đích thành lập tổ chức chính trị nên người em ruột của Chiêu Quốc vương là Trần Quang Xưởng thường là người đầu tiên tham gia tổ chức này.
- Nhưng trong mục các vương hầu nội phụ của sách An Nam chí lược không thấy nhắc tới tên Trần Thôi, trong khi vị này là quốc đệ, trong Toàn thư chép về việc đầu hàng phương bắc và định công tội cũng không thấy nhắc tới Chiêu Đạo vương, nếu cho rằng rất có thể người này chết trong cuộc chiến tranh nên sử gia không chép, thì cũng không đúng, vì như Trần Kiện chết rồi, sau vào năm 1292 vẫn thấy Ngô sử gia chép đến. Lại thêm, khi người phương bắc đến có phong cho Trần Văn Tôn làm Thiên hộ dẫn đường, nếu như vậy thì hẳn Trần Thôi phải được phong tước cao hơn nhưng không thấy Lê Tắc chép. Mà rõ ràng, ý tưởng xin quân phương bắc là của Trần Thôi chứ không phải của Trần Văn Tôn. An Nam chí lược cho biết chi tiết Thánh Tông đào mộ của Trần Trọng Vy, người mà trước đây Thánh Tông rất trọng, cũng chính là thân phụ của Trần Văn Tôn. Thật khó để biết được chính xác thì chuyện gì xảy ra vào thời điểm đó, tôi ngờ rằng: Trần Thôi đã không đầu hàng người phương bắc.
Toàn thư chép: “Kỷ Sửu [1289] Xử tội đồ quân dân hai hương Ba Điểm và Bàng Hà, làm thang mộc binh, không được làm quan, ban cho tể thần làm sai sử hoành. Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc. Chỉ có kẻ nào đầu hàng trước đây, thì dẫu bản thân ở triều đình giặc, cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản, sung công, tước bỏ quốc tính”.
- Rõ ràng là có rất nhiều người trong đó có cả các vương hầu đến xin hàng người phương bắc. Vào quãng tháng 3/1285 người phương bắc có động thái quân sự tấn công An Nam, nhà Trần còn tổ chức đón đánh nhưng không lợi, lúc này các vương hầu còn thuận theo Trần Thánh Tông nên chỉ có số ít ra hàng, những người hàng này được đưa về phương bắc, sau khi thành lập chính quyền mới phương bắc đưa những người này về phương nam, sau khi tiếp tục yếu thế trên mặt trận quân sự [quãng tháng 11/1287] lúc này các vương hầu mới lần lượt quy thuận chính quyền mới. Sau Thánh Tông có lệnh tha thứ cho những kẻ xin hàng lần 2, còn với những kẻ đầu hàng lần 1 thì không tha thứ. Sự khác nhau trong lệnh của thượng hoàng có lẽ bắt nguồn từ việc, nhóm đầu hàng lần 1 là những người có chủ ý tranh ngôi, còn nhóm xin hàng lần 2 là những người ham sống lại bị rơi vào tình thế đối đầu với quân địch đang thắng thế. Tôi cho rằng: Trần Xán, Trần Thôi, Trần Quang Xưởng nằm trong nhóm lần 2.
- Nhưng vì sao Trần Thôi có ý xin binh phương bắc thì khi quan quân đến lại không ra hàng ? Có thể hoàn cảnh thời điểm đó không cho phép quốc đệ thực hiện ý định, vì cả Toàn thư và An Nam chí lược đều cho biết: Cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 1285 Chương Hiến hầu ở Thanh Hóa, cùng bọn liêu thuộc Lê Tắc ra hàng, có thể là thêm Chu Khởi. Sau đó ít hôm, Trần Tú Viên, Vũ Đạo hầu, Trần Văn Lộng ra hàng, có thể có thêm Tăng Uyên Tử, Tô thiếu bảo, Trần Văn Tôn. Vào ngày 15/3/1285 Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc suất các môn thuộc xin hàng, Toàn thư ghi rất cụ thể những môn thuộc gồm: Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long. Thế nhưng ở mục năm 1267 Toàn thư có chép: “Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng, thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời (...) Từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phươngcho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như bọn Mạc Đỉnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châu . . . gồm 20 người, đều được dùng cho đời”. Rõ ràng là những môn khách của Trần Ích Tắc rất nhiều nhưng lại rất ít trong số đó đi theo Chiêu Quốc vương quy phụ phương bắc. Có thể em trai ngài nằm trong số nhiều.
- Qua lời đối thoại giữa Trần Ích Tắc với Lão lệnh công Nguyễn Đại Phạp rằng: “Ngươi không phải là tên biên chép ở nhà Chiêu Đạo Vương đó ư. Đại Phạp trả lời: Việc đời đổi thay, Đại Phạp trước vốn là tên biên chép cho Chiêu Đạo Vương, nay là sứ giả, cũng như Bình chương xưa kia là con vua, nay lại là người đầu hàng giặc”. Cho chúng ta biết đã có 1 sự thay đổi quyền thế ở đây, trước Đại Phạp chỉ là tên biên chép trong nhà Chiêu Đạo vương và nếu không có gì thay đổi thì Đại Phạp sẽ mãi là môn khách của Trần Quang Xưởng, nhưng nay Đại Phạp đã là người của Trần Nhân Tông, đại diện cho triều đình với tên gọi sứ giả, rất có thể Chiêu Đạo vương đã thất thế sau cuộc chiến Việt Nguyên, việc này gợi ý cho chúng ta là có thể Quang Xưởng đã mắc lỗi gì đó hoặc bị liên lụy bởi người anh Ích Tắc hàng phương bắc.


7. An Nam truyện trong Nguyên sử chép rất rõ về Chiêu Đức vương Trần Xán, lại chép thêm Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, do đó Trần Xán chắc chắn không phải là Trần Ích Tắc. Về tên hiệu thì chữ “Chiêu” thường được dùng cho anh em ruột với Trần Thánh Tông, lại thêm Nguyên sử chép Chiêu Đức vương Tràn Xán là em [đệ - em ruột] của Nhật Huyên, lại thêm hành trạng gửi thư tự nguyện xin hàng của Trần Xán, thì tôi cho rằng: khả năng rất lớn Chiêu Đức vương Trần Xán chính là Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng, anh trai của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Câu hỏi là Trần Xán có phải là Trần Thôi trong An Nam chí lược và là Trần Lão trong Toàn thư không ?
- Căn cứ vào hành trạng của Trần Xán, Trần Thôi, Trần Lão cũng không giúp gì cho việc xác định, bởi trước là các hành trạng được viết ở các tài liệu khác nhau, sau là rất có thể các hành trạng được viết ở những thời điểm khác nhau. Bản thân sách An Nam Chí lược khi chép về Trần Văn Lộng cũng có sử dụng những cái tên khác nhau, do đó không loại trừ trường hợp Trần Thôi là tên khác của Trần Ích Tắc. Giả thuyết của tác giả Tạ Chí Đại Trường dựa trên bằng cớ hợp lý duy nhất là: trước đây Trần Lão từng bị tội và vì thế Trần Thôi đã gửi thư xin quân. Nhưng rõ ràng bằng cớ này là rất yếu.
- Nếu để ý chúng ta sẽ nhận thấy sách sử không chép đến tên tước hiệu của Trần Di Ái, An Nam chí lược chép là quốc thúc, Toàn thư chép là tùng thúc và rõ ràng đây là việc khá khó hiểu, với mối quan hệ của Trần Di Ái với các vị vua nhà Trần thì hẳn là Di Ái phải được tước vương hoặc chí ít là tước hầu ? Toàn thư có chép mục năm 1281 rằng “nhà Nguyên lập Di Ái làm Lão hầu”. Chúng ta không biết Ngô sử gia tham khảo thông tin từ nguồn nào nhưng thông tin phổ biến hơn cả là nhà Nguyên phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương. Tôi ngờ rằng: Lão hầu chính là tước hiệu của Trần Di Ái mà sử quan triều Lê đã nhầm lẫn chăng ? Và như tác giả Tạ Chí Đại Trường thì Trần Lão không phải là tên riêng, nên rất có thể Trần Lão là các gọi gộp tên riêng Trần Di Ái với tên hiệu Lão hầu.
- Một bằng cớ khác khiến tôi nghĩ Trần Di Ái là Trần Lão, đó là vào tháng 2/1283 Trần Lão bị tội vì làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước. Tờ biểu năm 1289 có viết “Anh em không kẻ hiền lương, dựng chuyện tâu sàm không ít. Trước đây, quốc thúc Di Ái rõ ràng trốn mất ở ngoài biên cảnh, bèn trở ngược vu cáo thần là đã làm việc chuyên giết. Lại người em giữa Ích Tắc tự đem mình đến trước đại quân xin vái đầu hàng. Ấy là muốn đến trước để lập công cho mình. Huống nữa là những người đến thay mà tâu bày, thì lại càng thêm ngoa dối”. Chúng ta biết rằng trong các chiếu của phương bắc thường hay kể tội Trần Thánh Tông giết hại quốc thúc, đuổi thiên sứ, chống cự vương sư, nhưng nếu đọc đoạn văn trên, thì rõ ràng là Nhật Huyên trách những người tấu bày không đúng sự thật với thiên tử, trong đó có quốc thúc, Trần Di Ái đã vu cáo cho Nhật Huyên là chuyên giết [hiếu sát] Nhưng thời điểm mà Di Ái có thể vu cáo là khi nào, đó chắc chắn phải xảy ra sau sự kiện Di Ái trốn ở biên cảnh, việc này sẽ giúp chúng ta xác định thời điểm Di Ái vu cáo Trần Thánh Tông khi quân Nguyên tiến vào Thăng Long quãng năm 1285 – 1286 là cao nhất. Cũng có thể là vào thời điểm 1287 nhưng chắc chắn phải là sau khi Di Ái đi sứ về và cả sau khi bị đầy làm khao giáp binh ở Thiên Trường.
- Lại nói về việc Di Ái bị đày làm khao giáp binh, theo như Toàn thư thì sự việc xảy ra vào tháng 6/1282 trong khi cũng chính Toàn thư cho biết việc Trần Lão bị đày làm lính vào tháng 2/1283, rõ ràng là với 2 thông tin này thì dường như Trần Di Ái không thể là Trần Lão được, có phải như vậy ?
Nguyên sử chép: “Tháng 2 năm thứ 13 [1276] Quang Bính sai Lê Khắc Phục, Lê Văn Túy sang cống (…) tháng 8 năm thứ 15 [1278] sai lễ bộ thượng thư Sài Xuân (…) cùng bọn Lê Khắc Phục cầm chiếu thư sang dụ Nhật Huyên (…) tháng 12 Nhật Huyên đến quán gặp sứ giả (…) bọn Xuân quay về, Nhật Huyên sai Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản, trung tán Đỗ Quốc Kế phụng biểu trần tình (…) tháng 11 [1279] lưu sứ giả An Nam là Trịnh Quốc Toản ở hội đồng quán, lại sai bọn Sài Xuân bốn người cùng Đỗ Quốc Kế mang chiếu sang lại dụ Nhật Huyên sang chầu (…) tháng 10 năm thứ 18 [1281] lập An Nam tuyên ti (…) xuống chiếu rằng Quang Bính đã chết, con là Nhật Huyên không thỉnh mệnh mà tự lập, triều đình sai sứ sang vời (…) chỉ lệnh cho chú là Di Ái sang chầu, nên triều đình lập Di Ái lên thay làm An Nam quốc vương” [Bản dịch của Châu Hải Đường]
An Nam chí lược chép: “Năm Tân Tị [1281] sai Sài Thung nhận chức An Nam hành tuyên úy sứ đô nguyên soái, xuất binh 1000 người đưa Di Ái về nước, đi đến địa giới Vĩnh Bình, An Nam không chịu nhìn nhận, Di Ái sợ, ban đêm trốn về, chỉ sai bồi thần thay mặt tiếp rước Sài công vào nước, tuyên lời chỉ dụ của vua rồi trở về”.
An Nam chí lược chép: “Thế tử [Trần Nhân Tông] nói: Cứ theo lời chiếu của thiên tử, chuyến nào cũng kể tội giết hại quốc thúc [Trần Di Ái] đuổi thiên sứ, chống cự vương sư, đến nay vẫn chưa được tha tội. Xét lại, quốc thúc nhân đời tiên vương sai đi vào Trung Quốc, chầu thiên tử và thay mặt tiên vương tôi để tấu đối mọi việc. Lúc ấy, thiên tử phong cho quốc thúc làm vua An Nam, quốc thúc tự mình lấy làm sợ, rồi không biết đi đâu, chứ không phải nước tôi dám giết. Chú tôi tự trốn đi miền Hải Nam (…) thật ra quốc vương không biết gì đến”.
Toàn thư chép: “Tân Tị [1281] Sai chú họ là Trần Di Ái (tức Trần Ải) và Lê Mục, Lê Tuân sang Nguyên. Nhà Nguyên lập Di Ái làm Lão hầu, cho Mục làm Hàn lâm học sĩ, Tuân làm Thượng thư, lại sai Sài Xuân đem 1000 quân hộ tống về nước. Xuân ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh (...) Nhâm Ngọ [1282] Mùa hạ tháng 4, bọn Trần Di Ái đi sứ về nước. Tháng 6, trị tội bọn phán thủ Trần Ải. Ải phải đồ làm khao giáp binh Thiên Trường, Lê Tuân phải đồ làm Tống binh”.
- Theo như những thông tin trên thì vào năm 1276, nhà Trần có cử sứ sang phương bắc, nhân việc này nhà Nguyên sai Sài Xuân cầm chiếu sang dụ Trần Thánh Tông sang chầu, nhưng vua từ chối, sau đó khi Sài Xuân về nước thì vua lại sai Trịnh Quốc Toản, Đỗ Quốc Kế sang phương bắc trần tình về việc không đích thân sang chầu được, sau khi nhận được biểu của Trần Thánh Tông, năm 1279 nhà Nguyên giữ Trịnh Quốc Toản lại, sai Sài Xuân cùng Đỗ Quốc Kế sang dụ vua thêm lần nữa, nhưng vua vẫn kiên quyết từ chối, do nhận biết được tình thế gay gắt từ phương bắc “mau sửa sang thành trì, để đợi quân ta sang” nên Trần Thánh Tông đã quyết định cử một người trong tôn tộc, người đó chính là chú họ Trần Di Ái. Di Ái lúc này rơi vào tình trạng hiểm nghèo, trước là không thể kháng cự lệnh Trần Thánh Tông, sau là chuyến đi sứ thì nguy hiểm vạn lần.
- Cuộc đi sứ của Trần Di Ái cũng giống như cuộc đi sứ của Trịnh Quốc Toản, chẳng qua là trần tình với thiên triều về việc Trần Thánh Tông không thể địch thân vào chầu, chứ Di Ái chẳng có nhiều hơn quyền lực để quyết định việc của An Nam và rõ ràng là nhà Nguyên không chấp nhận việc Nhật Huyên không vào chầu nên đã trước là phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, sau là lập An Nam tuyên úy ti vào tháng 10/1281. Rồi sai Sài Xuân dẫn 1000 người đưa Di Ái về nước. Được tin này vua Trần Thánh Tông đã cự Sài Xuân địa giới Vĩnh Bình. Chi tiết “Di Ái sợ, ban đêm trốn về” cho thấy toàn bộ về con người của Di Ái.
- Trước hết, khi thiên triều phong làm An Nam quốc vương, thì dù Di Ái có 10 cái đầu cũng không dám khước từ, khi biết mình chỉ là quân bài thì Di Ái ngoan ngoãn tuân theo và khi tới địa giới 2 nước, thì Di Ái đã nhân ban đêm mà trốn khỏi sự kiểm soát của người Nguyên, rõ ràng là Di Ái không hề có ý định tranh ngôi hoàng đế. Chứ nếu Di Ái thực sự muốn làm vua, thì chỉ cần cùng Sài Xuân trở về phương bắc, sau đó đem quân nhiều hơn tấn công An Nam. Toàn thư cho biết tới tháng 4/1282 Di Ái mới về nước, vậy thì thông tin Di Ái trốn đi Hải Nam như An Nam chí lược chép là chính xác, rõ ràng Di Ái cũng khá thông minh, biết rằng vào thời điểm quân sự giữa 2 nước đang rất căng thẳng ở biên giới, nếu trở về thì không khỏi sự nghi ngờ của triều Trần, tất sẽ nguy tới tính mạng.
- Nhưng khi đang lưu trú ở Hải Nam, Di Ái không bị áp lực từ nhà Nguyên hay nhà Trần, nhưng Di Ái vẫn quyết định quay về An Nam, vậy thì đã rõ Di Ái thực sự không có mưu mô cướp đoạt ngôi vua. Chứ nếu thực sự muốn làm An Nam quốc vương thì cửa sáng nhất cho Di Ái là trở về với thiên triều, rồi cùng quân Nguyên đánh xuống phía nam.
- Theo Toàn thư thì tháng 4/1282 Trần Di Ái trở về thì đến tận tháng 6/1282 Trần Ải mới bị xử tội. Không biết vì lý do gì mà nhà Trần lại xử tội Di Ái chậm trễ vậy, đúng lý khi có được Trần Ải thì nhà Trần phải xử tội ngay mới đúng ? Mà xét cho cùng thì Trần Di Ái không hề mắc tội gì cả, đi sứ là vì bất đắc dĩ, nhận tước An Nam quốc vương là để cứu mạng mình, sau có cơ hội làm vua lại từ chối, biết là có thể sẽ bị xử tội xong vẫn quay về, rõ ràng đó là một người không tệ về nhân cách và các vị vua Trần cũng đều là những người hiểu biết cả, không thể xử bừa được. Trừ khi chiếu lệnh của vua Trần còn mang nghĩa là từ chối, phản đối, hủy bỏ sắc phong của thiên triều.
- Tôi cho rằng vua Trần Thánh Tông cũng có xử tội Trần Di Ái nhưng chỉ là về hình thức với mục đích hủy bỏ chiếu phong của thiên triều, chứ không phải là bắt làm lính ở Thiên Trường vào tháng 6/1282. Có thể là một tước hiệu nào đó, thấp hơn thời điểm trước khi Trần Ải sang phương bắc, như Lão hầu chẳng hạn. Vì thế mà Di Ái bất bình đã làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước, khiến Trần Thánh Tông tức giận, nên lúc này [2/1283] mới bắt Trần Lão làm lính. Vào khi quân Nguyên làm chủ Thăng Long, giống như các vương hầu khác [Vũ Đạo hầu tiến cống tôn nữ họ Lý. Trần Nhân Tông bắt được hòm thư xin hàng của các vương hầu nhưng sai đốt] để giữ tính mạng mình thì Di Ái đã viết thư vu cáo cho Trần Thánh Tông chuyên giết. Nên có lẽ chính vì thế mà trong các chiếu thư của phương bắc luôn kể tội Nhật Huyên giết hại quốc thúc.
- Chúng ta không được đọc lời thư của Trần Di Ái, nhưng có thể phần nào đoán định được ý chính mà Trần Ải viết, đại loại như: trước tôi trốn khỏi thiên sứ là bởi Nhật Huyên đem binh đuổi thiên sứ, tính lấy mạng tôi nên tôi sợ mà bỏ trốn. Đây cũng có thể coi là lời trần tình của một kẻ ham sống, âu cũng là chuyện bình thường.
- Toàn thư cho biết “Trần Di Ái tức Trần Ải”. Tìm kiếm sẽ thấy huyện Hoài Đức, Hà Nội có làng khá đặc biệt với tên “Di Ái hay còn gọi là kẻ Ải” trước thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Tác giả Nguyễn Vinh Phúc trong bài Quê hương Lý Bí cho rằng: Huyện Hoài Đức có tới 5 làng thờ vị anh hùng Lý Nam Đế gồm: Đại Tự (làng Thía), Lưu Xá (Chồi Lựu), Giang Xá (Chồi Giang), Di Trạch (làng Ải), Miêu Nha (làng Ngà) và huyện Đan Phượng có 2 nơi thờ Lý Bí gồm: Phương Lang nội và Phương Lang ngoại. Tác giả Lê Thái Dũng trong bài Nữ tướng nổi danh của vua Lý Nam Đế có viết về nữ tướng của Lý Bí họ tên là Dương Khoan Khoáng người trang Báo Văn, Hồ Kì [Yên Lạc, Vĩnh Phúc] vị nữ tướng này đã hi sinh vào ngày 10/9/546 và được các triều đại sau truy phong làm Đệ nhị Á [Ả] nương Khoan Khoáng đại vương mĩ mạo linh dung [tên gọn là Khoan Khoáng đại vương]
- Khá thú vị phải không ? Họ tên của An Nam quốc vương trùng với tên gọi của làng, rồi làng ấy lại thờ vị vua trước đó gần ngàn năm, vị vua này có nữ tướng trùng tên với nô gia của Trần Lão như được chép trong Toàn thư là Khoáng [   ] Và chúng ta thì đang đặt giả thuyết Trần Lão chính là Trần Di Ái. Người viết cho rằng: cuộc điền dã tập trung vào những gì đã nêu ở trên sẽ có thể đưa ra bằng chứng củng cố hoặc bác bỏ, bên cạnh đó công việc tìm kiếm địa danh Lão cũng rất cần thiết để có cơ sở vừng chắc cho mối quan hệ giữa Trần Lão với Trần Di Ái, người viết rất tiếc là không thể thực hiện được những công việc nêu trên vào thời điểm viết bài này.
- Chúng ta có thể biết được Trần Di Ái là con ai không ? Chúng ta biết rằng Trần Ải là bậc chú của Trần Thánh Tông và khả năng cao là chú họ. Như thế Di Ái có khả năng là em họ của Trần Cảnh, cũng đồng thời là cháu họ của Trần Thừa. Hai nhân vật mà chúng ta nghĩ đến có thể là thân phụ của Trần Di Ái là An Quốc vương Trần Thẩm và Trung Vũ vương Trần Thủ Độ. Toàn thư mục năm 1225 chép rằng: “Cháu gọi Thủ Độ bằng chú là Trần Bất Cập làm Cận thị thự lục cục chi hậu, Trần Thiêm làm Chi ứng cục, Trần Cảnh làm Chính thủ”. Như vậy rất có thể Trần Bất Cập, Trần Thiêm là con của Trần Thẩm [hiện chưa có tài liệu sách sử nào chép Trần Thủ Độ có nhiều hơn một người anh, chỉ những truyền thuyết mới cho biết Trần Thủ Độ có tới ít nhất hai người anh em]

- Việt sử lược chép tháng 1/1214 Trần Tự Khánh chia 2 đường thủy [do Tự Khánh thống lĩnh hướng từ phía đông tới thành Thăng Long] bộ [do Phan Lân, Nguyễn Nộn hướng từ phía tây tới thành Thăng Long] Về thủy quân chia làm 3 đạo, đạo 1 do Trần Tự Khánh cùng Trần Thừa đánh bên hữu ngạn [bờ bên phải của sông, nhìn theo hướng nước chảy từ nguồn xuống, đối lập với tả ngạn] sông Hồng, đạo 2 do Trần Thủ Độ [Trần Thủ Đạt - có thể do chép sai] Trần Hiến Sâm, Nguyễn Ngạnh đánh bên tả ngạn [bờ bắc] sông Hồng, đạo 3 do Vương Lê, Nguyễn Cải đánh cầu Nổi ở bến Triều Đông. Chúng ta thấy, anh em Trần Tự Khánh cùng đạo, lại thêm Mộ chí của Trần Tú Viên lại chép Trần Thừa là Trần Thắng nên rất có thể việc Trần Thủ Độ và Trần Hiến Sâm cùng đạo, gợi ý cho chúng ta rằng họ là anh em, do đó không loại trừ trường hợp Trần Thẩm chính là Trần Hiến Sâm trong Việt sử lược.