Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

BÀN VỀ NHÂN VẬT TÔNG ĐẢN



Sách Cương mục chép: “Ất Mão, năm thứ 4 [1075] Tháng 11, mùa đông. Sai bọn Lý Thường Kiệt đem đại binh sang đánh nhà Tống, phá được Khâm Châu và Liêm Châu. Nhà Tống từ khi Vương An Thạch lên cầm quyền, thường muốn lập công ở ngoài biên giới. Tiêu Chú tri châu Ung, đón biết ý An Thạch, dâng thư nói Giao Châu dẫu giữ lễ triều cống, nhưng thực vẫn hai lòng, nếu nay bỏ lỡ không đánh lấy đi, chắc sẽ để lo về sau. Vua Tống tin lời, liền xuống chiếu cho Tiêu Chú lo việc ấy. Tiêu Chú lấy làm khó. Gặp bấy giờ có độ chi phán quan làm Trầm Khởi dâng thư nói không có lý gì không thể lấy được Giao Châu. Nhà Tống mới cho Trầm Khởi làm tri châu Quế. Trầm Khởi nhận lĩnh ý chỉ do An Thạch dặn bảo, chuyên để ý tấn công khuấy rối nước ta. Khi Trầm Khởi bị bãi, Lưu Di lên thay, biên xét hộ tịch các dân ở khê động, sửa qua thuyền, để mưu sang lấn cướp. Nhà Tống lại nghiêm cấm các châu, các huyện không được mua bán trao đổi với ta. Nhà vua đưa thư sang Tống, thì Lưu Di lại dìm đi. Ngài giận lắm, sai bọn Lý Thường Kiệt, Tôn Đản thống lĩnh hơn 10 vạn quân, chia đường sang đánh Tống. Quân Thường Kiệt đến Khâm Châu, Liêm Châu tấn công và phá được. Quân Tống chết đến tám nghìn người. Bấy giờ Tôn Đản sang đánh Ung Châu, đô giám tỉnh Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu, Thường Kiệt đón đánh ở ải Côn Luân, phá tan được địch, chém Thủ Tiết tại trận.
Lời cẩn án: Sử cũ chép tháng 2 năm ấy, Thường Kiệt sang đánh nhà Tống, phá được Khâm Liêm. Tôn Đản vây Ung Châu hơn 40 ngày, phá được thành, nay theo sử Cương mục tục biên thì tháng 11 mùa đông năm Ất Mão, Giao Chỉ đem đại binh vào lấn cướp, phá Khâm Châu và Liêm Châu. Tháng giêng mùa xuân năm Bính Thìn phá Ung Châu. Như vậy thì việc sang đánh Tống là bắt đầu từ mùa đông năm Ất Mão, việc phá được Khâm Liêm là vào tháng 11, việc phá được Ung Châu là vào tháng giêng năm Bính Thìn. Sử cũ chép lầm, nay xin đính chính.
Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 [1076] Tháng giêng mùa xuân. Tôn Đản phá được thành Ung Châu nhà Tống, giết sách cả dân trong thành. Tôn Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày, Tri châu Tô Giam đóng cửa thành cố giữ, đến đây quan quân xếp bao đất sát vào thành làm bậc thang mà leo lên, thành bị hạ. Tô Giam bắt 36 người trong nhà hắn phải chết trước, hắn đem xác vùi cả xuống hố, rồi tự mình chết. Người trong thành cảm phục cao nghĩa của Tô Giam, không một ai chịu đầu hàng. Quan quân giết sạch số dân trong thành, đến hơn 58000 người cộng với số người bị chết ở Khâm Liêm tất cả tới mười vạn. Bọn Thường Kiệt bắt lấy người 3 châu làm tù binh rồi kéo quân về. Việc này lên đến vua Tống, vua Tống truy tặng Tô Giam là Phụng quốc Tiết độ sứ”.
Sách Toàn thư chép: “Ất Mão [ Thái Ninh] năm thứ 4 [1075] Mùa xuân tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học. Vương An Thạch nhà Tống cầm quyền, tâu [với vua Tống] rằng nước ta bị Chiêm Thành đánh phá. Quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với nước ta. Vua biết tin, sai Lý Thường Kiệt, Tông Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân thủy, quân bộ đều tiến. Thường Kiệt đánh các châu Khâm, Liêm; Đản vây châu Ưng, Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn phá tan được, chém Thủ Tiết tại trận. Tri Ưng châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân ta đánh đến hơn 40 ngày, chồng bao đất trèo lên thành. Thành bèn bị hạ. Giám cho gia thuộc 36 người chết trước, chôn xác vào hố, rồi châm lửa tự đốt chết. Người trong thành cảm ân nghĩa của Giám, không một người nào chịu hàng, giết hết hơn 5 vạn 8 nghìn người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 10 vạn. Bọn Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về. Vua Tống truy tặng Giám là Phụng quốc quân tiết độ sứ, thụy là Trung Dũng, cho một khu nhà lớn ở kinh thành, 10 khoảnh ruộng tốt cho thân tộc 7 người làm quan, cho con là Nguyên chức Cáp môn chi hậu. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nhà Tống cho Tô Giám thụy là Trung Dũng cũng đủ nêu rõ sự trung dũng của Lý Thường Kiệt, há có thể xem như hạng Túc Sa đâu. Mùa thu tháng 8, ngày mồng 1 Canh Dần, nhật thực”.
Sách Việt sử lược chép: “Năm Giáp Dần [1074] là năm thứ 2. Mùa thu tháng 9 rồng vàng hiện ra. Vương An Thạch nhà Tống cầm quyền chính đem lời tâu với vua Tống, rằng là, nước ta đã bị Chiêm Thành khuấy phá, ngoài ra, dân đông không đầy vạn người, nên có thể theo cái kế trong một ngày là lấy được. Do đó, vua Tống dùng Thấm Khởi và Lưu Di làm Tri châu Quế châu. Thấm Khởi và Lưu Di bèn tụ tập dân đinh trong các khe động tại địa phương làm bảo giáp, lại cho đóng thuyền bè ở bờ biển, giảng dạy về phép đánh dưới nước. Và cấm dân ở các châu huyện không được cùng với dân ta đi lại buôn bán. Nhà vua biết vậy, bèn trước tiên cho xuất phát các đạo binh gồm 10 vạn người, chia làm hai đạo như sau: Sai Nguyễn Thường Kiệt lãnh đạo thủy quân xuất phát từ Vĩnh Yên tiến đến Châu Khâm, châu Liêm. Tôn Đản lãnh đạo lục quân xuất phát từ Vĩnh Bình tiến đánh Châu Ung. Quân ta tiến tới đâu cũng như vào chổ không người. Nguyễn Thường Kiệt đánh ép hai châu Khâm, Liêm rồi lại cùng với Tôn Đản hợp binh bao vây châu Ung. Quan Giám thủ Quảng Tây của nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem binh đi tiếp cứu. Binh của Trương Thủ Tiết kéo đến cửa ải Côn Lôn thì bị Thường Kiệt đón đánh phải thua to, Thủ Tiết bị giết chết. Quan Tri châu là Tô Giam dựa vào thành trì kiên cố để chống giữ. Quân ta bắc thang mây để leo thành. Quân Tống dùng đuốc mà đốt nên không thể bắc gần được. Ta lại dùng tên độc mà bắn, người ngựa trên thành chết nằm gối lên nhau. Quân Tống dùng thần tý (một loại nỏ) ra bắn. Voi và quân sĩ của ta có nhiều người bị chết. Thành cao và cứng, đánh phá hơn 40 ngày không hạ được. Quan quân ta bắt dân Tống, sai lấy túi đất đắp vào chân thành để leo lên. Thường Kiệt theo đó mà lên đánh, thành bị hãm hại. Tô Giam chạy về nhà ở trong châu, trước hết giết hết người nhà của ông gồm 36 người, sau phóng mình vào trong lửa để tự thiêu. Quân sĩ ta tìm Tô Giam không được bèn giết hết quan dân trong thành hơn 5 vạn người. Chiến dịch đó giết hại dân ở ba châu Ung, Khâm và Liêm đến 10 vạn”.
* Có 2 điểm cần xét: Thứ nhất là lời cẩn án trong sách Cương mục có chép rằng sử cũ lầm. Đoạn văn mô tả cuộc tấn công của nhà Lý vào 3 châu Ung Khâm Liêm trong sách Cương mục rất giống với sách Toàn thư. Vậy thì sử cũ được nhắc đến khả năng cao là sách Toàn thư. Xem bố cục đoạn chép năm 1075 trong sách Toàn thư thì thấy rằng việc khẳng định sách Toàn thư chép cuộc tấn công diễn ra vào tháng 2 mùa xuân chưa hẳn đã đúng vì thời gian tháng 2 mùa xuân sách Toàn thư dùng để chép sự kiện liên quan đến Lê Văn Thịnh, nhưng chắc chắn là sự tấn công 3 châu của nhà Tống phải diễn ra trước mùa thu tháng 8. Trong trường hợp của sách Toàn thư chúng ta có thể hiểu, tác giả Ngô Sĩ Liên đã chép gộp 2 sự kiện, Thường Kiệt tấn công Khâm Liên và Tông Đản vây Ung Châu. Nhưng quan sát sẽ thấy rằng, các sách sử càng gần với sự kiện thì chép thời gian nhà Lý tấn công 3 châu càng xa về trước [Cương mục là tháng 11/1075; Toàn thư là từ tháng 2-8/1075 và Việt sử lược là sau tháng 9/1074] Thế nhưng sách Cương mục dẫn sách Cương mục tục biên của Trung Quốc chép rất rõ là thời điểm nhà Lý tấn công 3 châu từ tháng 11/1075 đến tháng 1/1076. Vậy sách Toàn thư chép sai ? Văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc chép: “Nghiêm khảo vào năm Ất Mão niên hiệu Thái Ninh [1075] sửa soạn vương sư, đánh lên ải bắc, vây thành Ung cho hả giận, bắt võ tướng dâng tù binh. Bởi vậy được ban thưởng chức Hữu đại liêu ban Đoàn luyện sứ, cấy cày theo phép tỉnh điền, thóc lụa chất cao tựa núi, khách khứa đông đục 3 nghìn, cửa nhà nhộn nhịp như phố chợ”. Vậy là họ Hà châu Vị Long cũng tham gia cuộc tấn công 3 châu nhà Tống, số lượng quân tham gia khoảng 3 ngàn người. Rõ ràng trận đánh lớn như vậy lại có sự tham gia của rất nhiều người ở các châu quận khác nhau thì phải được chuẩn bị kỹ càng. Nên thời điểm chép trong sách Toàn thư rất có thể là thời gian vua Lý chiếu dụ chuẩn bị lương thảo quân nhu để đánh Tống, chứ không phải thời gian giao chiến. Thứ hai là không khó để nhận ra vai trò của Tông Đản được các sách sử gia thêm, sách Việt sử lược chép rằng Thường Kiệt dẫn thuỷ quân tấn công châu Khâm và Liêm, Tông Đản xuất quân từ Vĩnh Bình tiến đánh Ung Châu, sau khi Thường Kiệt hạ 2 châu thì tiến về Ung Châu hợp binh với Tông Đản hạ thành Ung Châu. Theo như đó thì Tông Đản chỉ có khả năng cầm chân quân Tống ở Ung Châu để không thể cứu viện 2 châu Khâm và Liêm. Trong khi như sách Cương mục chép thì người hạ thành Ung Châu là Tôn Đản chứ không phải Thường Kiệt.
Sách của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn chép: “Hai đạo quân ấy có từ sáu vạn đến mười vạn. Lý Thường-Kiệt lĩnh thủy quân, từ Vĩnh-An đánh vào ven bể Quảng-Đông (Việt sử lược). Đó là đại quân. Còn các quân từ biên giới miền tây Quảng-Tây kéo vào có Tông Đản quản lĩnh (Toàn thư). Tông Đản là ai ? Sử ta không hề nói đến, ngoài việc cầm quân đánh thành Ung lần này. Tống-sử và Tống-thư cũng không đâu nói đến. Nhưng sách Tục tư trị thông giám trường biên (TB) và các sách Tống, như Tống Sử quyển 488, Tống sử quyển 495 có chép tên Nùng Tông-Đán, người châu Quảng-Nguyên. Ta đã thấy Nùng Tông-Đán đã theo Tống rồi bỏ Tống nhiều lần (xem mục V/8 sách của Giáo sư Hoàng). Tháng 6 năm Bính-Thìn (1076) ti An-Nam tuyên-phủ tâu rằng: “Đã sai đô-giám Quế-Châu là Nùng Tông-Đán kiểm điểm đinh tráng Hữu-Giang, để đánh Lưu Kỷ”. Vua bảo: “Tuy Tông-Đán đã hiệu-thuận và là kẻ dũng mạnh, nhưng các con còn theo Lưu Kỷ. Ta sợ Tông-Đán cũng theo nốt. Vậy nên chọn các viên có mưu lược đi theo Tông-Đán” (TB 276/1b). Có lẽ Tông Đản ở sử ta là Nùng Tông-Đán ấy hoặc là một con y. Chữ Nùng dùng đầu tiên có thể chỉ giống người Nùng mà thôi chứ không phải hẳn là chỉ họ. Vì sự hai âm Đán và Đản rất gần, hai tên có thể là một chăng ? Các quân man động ấy đóng từ Quảng-Nguyên đến châu Tô-Mậu, trước các trại Hoành-Sơn, Thái-Bình, Vĩnh-Bình, Cổ-Vạn, Thiên-Long. Lưu Kỷ cầm quân vùng Quảng-Nguyên. Có lẽ Tông Đản chỉ là một bộ tướng. Vùng Môn-Châu có Hoàng Kim-Mãn, vùng Lạng-Châu có phò mã Thân Cảnh-Phúc (xem mục IV/4 sách của giáo sư Hoàng) và vùng Tô-Mậu có Vi Thủ-An cầm quân [Đoạn chú viết]: “Đời Trị-Bình (1064-1067) Tông-Đán có hiềm khích với tụi Lý Nhật-Tôn (Thánh-Tông) và Lưu Kỷ nên sợ chúng ép bức. Viên coi Quế-Châu là Lục Sằn sai người đến dỗ. Tông-Đán bèn bỏ châu mình mà dời nhà vào nội địa. Vua Tống ban cho chức hữu-thiên-ngưu-vê tướng-quân”. Tống sử quyển 488 (Giao-Chỉ truyện) chép lược hơn nhưng cũng phù hợp với trên: Năm đầu niên-hiệu Trị-Bình (1064) Giao-Chỉ đòi lại Nùng Tôn-Đán và con là Nhật-Tân, với đất hai động Ôn-Mẫn. Hàn Kỳ bàn với vua Tống nên trả lại (xem mục V/8 sách của Giáo sư Hoàng). TB 349/6a chép: Tông-Đán nộp đất Vật-Ác; Tống đổi ra châu Thuận-An. Trong trận Ung-Châu, Nùng Nhật-Tân bị chết nên được vua Tống tặng cho chức giám-áp Ung-Châu (tháng hai năm B.Th 1076, TB 273/3a). Còn Tông-Đán vẫn theo Tống. Nhưng vua Tống cũng không tin lắm. (xem mục V/8 sách của Giáo sư Hoàng). Những việc trên, tuy làm cho ta không tin chắc rằng Nùng Tông-Đán đã theo Lý đánh Ung-Châu, nhưng cũng không đủ để bác thuyết ấy. Sau khi quân Thường-Kiệt rút về và đại quân Tống tới, có nhiều tù trưởng trước là tướng theo Lý, bấy giờ lại theo Tống, như Lưu Kỷ, Hoàng Kim-Mãn”.
* Dựa vào 2 bằng chứng là: âm Đản và âm Đán rất gần và Nùng Tông Đán nhiều lần theo Tống rồi bỏ Tống nền Giáo sư Hoàng đặt giả thuyết Nùng Tông Đán trong sử phương bắc có thể là Tông Đản trong sử phương nam. Tuy nhiên con trai của Nùng Tông Đán là Nùng Nhật Tân chết trong trận Ung Châu nên được vua Tống tặng cho chức giám áp Ung Châu vào tháng 2/1076 (Tục tư trị thông giám trường biên). Thêm nữa tháng 6/1076 ti An Nam tuyên phủ đã sai Nùng Tông Đán kiểm điểm đinh tráng để đánh Lưu Kỷ. Rõ ràng là lúc xung đột xảy ra, Nùng Nhật Tân đứng về phía nhà Tống, rồi vài tháng sau Nùng Tông Đán được lệnh của nhà Tống, chuẩn bị quân lương đánh phương nam. Vậy thì khả năng rất cao Nùng Tông Đán theo Tống lúc xảy ra xung đột. Lại thêm, Tống triều biết rất rõ về Nùng Tông Đán và các sự kiện xảy ra liên quan tới xung đột Tống Việt thì không có lý gì Tống triều không biết chuyện Nùng Tông Đán làm phản, nhưng chẳng thấy sử nào ghi chép, cuối cùng nếu Tông Đản là người dẫn đội quân đánh châu Ung, giết tới 58000 người, thì nhà Tống có chấp nhận Tông Đản không ? Nói cách khác, nhà Tống có tin vào việc đầu hàng của giặc vừa tấn công thành quách của nhà Tống ? Trong khi sự nghi ngờ Tông Đán của triều đình phương bắc thể hiện rất rõ khi vua Tống nói tuy Tông Đán đã hiếu thuận nhưng các con còn theo Lưu Kỷ, sợ Đán cũng theo nốt. Tôi cho rằng Tông Đản không phải là Nùng Tông Đán. Rất có thể Giáo sư Hoàng cũng nhận thấy điều này nên Giáo sư có viết thêm “hoặc là một con của y”.
* Trong trận chiến Tống Việt xuất hiện rất nhiều các nhân vật, tuy nhiên sách sử phương nam chép rất hạn chế các nhân vật này. Có 2 nhân vật được nhắc tới là Lý Thường Kiệt và Tông Đản. Qua những ghi chép chúng ta thấy 2 vị này mỗi người dẫn 1 đạo quân tấn công vào đất Tống. Vậy thì Tông Đản hẳn phải là 1 nhân vật tầm cỡ mới được giữ trọng trách lớn như vậy, chứ không thể nào là kẻ vô danh tiểu tốt. Trừ khi đó có thể là người nội gián, người am tường địa thế đất Tống, dẫn quân Lý vào tấn công thành Ung Châu. Bức thư của Từ Bá Tường là bằng cớ cho khả năng quân Lý có nội gián. Sách của Giáo sư Hoàng viết: “Ngày 12 tháng 4, vua Tống hạ chiếu, nói: “Nghe Giao-Chỉ sai nhiều kẻ gian tới thám Lưỡng-Quảng. Vậy các chỉ huy, các tướng phải coi chừng. Đừng để nó dò được phép công, thủ, tiến, thoái của ta” (Đ. Zu, DL 27-5; TB 274/6b) (...) Nhưng ở sâu trong đất Tống, cũng còn một vài động không chịu theo. Như ở Hữu-Giang, tụi thủ-lĩnh Thiệu-Châu là Dương Tiên-Tiềm và Tiên-Hàm đều nói rằng nếu quân Tống tới đó thì chúng đánh lại. Muốn cho khỏi chậm việc tiến quân và muốn tránh sự chúng vì bị áp-bức quá sẽ giao-kết với Giao-chỉ rồi đe dọa vùng Tương Đàm, vua Tống bảo: “Nên để yên chúng (8-6, N. Th, TB 276/8a) nếu chúng có phản thì mới đánh (17-6, T. Su ; TB 276/10a) chứ đừng lưu đại-quân lại đó, kẻo chậm việc nam-thảo” (15-7, K. Ti ; TB 277/3b)”. Việc tấn công vào đất Tống cần người dẫn đường, đây là lý do để Tông Đán dẫu chỉ là một “bộ tướng” có cơ hội để nắm giữ vai trò là người dẫn quân lục đạo tấn công thành Ung Châu. Thế nhưng lý do này không đủ mạnh để xác nhận Nùng Tông Đán là Tông Đản. Việc Tông Đản có thể là 1 trong những người con của Nùng Tông Đán lại càng khó. Các sách sử phương bắc chép Tông Đán là 宗旦 và các sách sử phương nam chép Tông Đản là 宗亶.
* Trong bài viết Vì sao Lý Thường Kiệt trở thành hoạn quan của tác giả Đinh Ngọc Thu có 1 đoạn chú về Tôn Đản như sau: “tướng cùng với Lý Thường Kiệt chỉ huy các trận vượt qua biên giới đánh các châu của Tống nhằm ngăn chặn kế hoạch xâm lược quân Tống. Mặc dù có công lớn với đất nước nhưng cả đời ông chưa từng nhận chức tước hoặc bổng lộc của triều Lý. Tôn Đản không phải là Nùng Tông Đán, người đứng đầu các châu mục bắc biên, như một số sách lầm tưởng. Tôn Đản lớn hơn Nùng Tông Đán khoảng 40 tuổi và là con của Tôn Trung Luận, còn Nùng Tông Đán là con của Nùng Tồn Thương. Nùng Tông Đán đã từng bỏ ta theo Tống”. Tuy nhiên không thấy tác giả Đinh Ngọc Thu dẫn nguồn tài liệu ? Và khi tra soát cũng không thấy sách sử chép về nhân vật Tôn Trung Luận. Cũng thật kỳ lạ, khi 1 nhân vật tầm cỡ như Tông Đản lại chỉ được ghi chép có 1 lần trong sách sử. Với công lao dẫn đạo lục quân, vây thành Ung Châu thì hẳn Tông Đản phải được ban thưởng rất hậu và giữ chức vụ rất lớn trong triều đình mới phải ? Ngay như vị họ Hà châu Vị Long, sau cuộc tấn công 3 châu cũng được phong chức Hữu đại liêu ban Đoàn luyện sứ ? Rồi trong lần quân Tống tiến vào đất Việt không thấy sách sử nhắc tới Tông Đản. Thường Kiệt là nguyên soái thì hẳn rồi, nhưng Tông Đản chí ít cùng phải giữ chức gì đó trong cuộc kháng Tống. Tống Đản không được nhắc đến ? Hay là Tông Đản đã tử trận trong lần vây châu Ung ? Vì cuộc tấn công ấy quân Lý phải vây tới 40 ngày và gặp phải rất nhiều khó khăn mới hạ được thành Ung Châu ? Sách Việt sử lược chép: “Năm Bính Thìn [1076] là năm Thái Ninh thứ 4. Mùa thu tháng 7 nhà Tống sai quan Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ và Triệu Cao làm Chiêu thảo sứ tập hợp chín vị tướng quân kéo binh sang đánh nước ta. Nhà vua sai Nguyễn Thường Kiệt lãnh đạo thuỷ quân chống cự lại. Hai vị quan hầu tước là Chiêu Văn và Hoằng Chân đều bị chết chìm ở sông Như Nguyệt”. Sách Toàn thư không chép đến 2 nhân vật Chiêu Văn và Hoằng Chân. Hoằng Chân có tự dạng 宏真. Có khi nào dễ lẫn với Tông Đản (宗亶) không ?
Sách của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn chép: “Đại-đội thủy-quân đóng ở Lục-Đầu, vùng Vạn-Xuân, để có thể tiếp-ứng được mọi nơi trên các đường thủy hoặc lên sông Đào-Hoa (sông Thương) hoặc lên sông Lục-Nam hoặc tới sông Nam-Định hoặc tới sông Thiên-Đức hoặc ra cửa biển Bạch-Đằng tiếp viện-thủy quân đậu ở sông Đông-kênh. Thế đất Vạn-Xuân thật là thế re quạt. Thái-tử Hoằng-Chân (VSL, còn các sách Tống đều viết Hồng-Chân) đóng doanh ở đó. Bộ-hạ có thái-tử Chiêu-văn và tả-lang-tướng Nguyễn Căn (...) Lý Thường-Kiệt sai các hoàng tử Hoằng-Chân, Chiêu-Văn (VSL) đem thuyền chở quân đến chống lại. Hoằng-Chân có nuôi riêng 500 quân đặc-biệt; cấm mọi điều thị-dục, dạy cho trận-pháp. Đội quân riêng ấy rất giỏi. Hiệu-lịnh rất nghiêm. Người nào cũng cầm một cái kim-bài để làm hiệu riêng. (Đàm Phố) Hoằng-Chân từ phía đông đem 400 chiến-hạm, chở vài vạn quân tới. Quân quát-tháo ầm-ỹ. Theo kế-hoạch Yên Đạt đã bàn, Quì rút quân. Quân ta đổ-bộ lên bắc-ngạn sông, đuổi đánh quân địch. Tiền-quân của Tống thua; Quách Quì phải cho thân-quân tới cứu. Tụi Yên Đạt cũng tiến theo (MC Quách Quì, theo TB 279/22a) Quân ta bấy giờ đã tiến sâu vào đất bằng (ĐP) có lẽ mé tây núi Nham-Biền. Quân Tống phản-công mạnh. Quân ta lui một ít. Quì sai các tướng Trương Thế-Cự, Vương Mẫn đưa kỵ-binh ra giúp sức. Giới Định đặt phục-binh ở trong núi (TB 281/14a) bấy giờ cũng đổ ra. Quân Tống giết chừng vài nghìn quân địch. Trên đất bằng, kỵ-binh Tống rất thắng lợi. Quân ta bị rối loạn, rút lui hỗn-loạn, tranh nhau sang sông trở về, bị chết đuối rất nhiều. Nước sông ba ngày chảy không hết xác (TB 279/22a). Ta ghé thuyền đưa quân về, bị quân Tống bắn đá xuống như mưa làm thuyền đắm. Hai hoàng-tử Hoằng-Chân và Chiêu-Văn đều bị chết chìm xuống sông (VSL). Thuyền của đội quân riêng của Hoằng-Chân bị đắm, nhưng ai cũng cầm vững kim-bài mà chết (ĐP). Tả-lang-tướng Nguyễn Căn bị tướng Tống là Đặng Trung bắt (TB 283/8a) [Đoạn chú viết]: Tống-sử (TS 290) chép: “Ta đại-chiến ở sông Phú-Lương, chém được vương-tử giặc là Hồng-Chân”. Mộ-chí Quách Quì chép: “Giết được đại-tướng Hồng-Chân, bắt được tả-lang-tướng Nguyễn Căn”. Sách Thông-giám chép: “Bắt được thái-tử giặc là Hồng-Chân”. Sách Trường-Biên (TB 293/8a) chép: “Tướng Bạch Bảo bắt được thái-tử Hồng-Chân và tướng Đặng Trung bắt được tả-lang-tướng Nguyễn Căn. Nhưng tướng Tiết Đức lại nói chính mình giết được Hồng-chân ở ải Quyết-lý”.
* Như những thông tin trên tôi ngờ rằng Hoằng Chân là 1 tướng thuỷ chiến, nếu có đánh 3 châu nhà Tống thì khả năng cao ngài cùng với Lý Thường Kiệt tiến theo đường biển đánh 2 châu Khâm Liêm chứ không phải là Tông Đản dẫn quân tiến đường bộ vây Ung Châu. Lại thêm, sách Việt sử lược cùng chép về Tông Đản và Hoằng Chân nên việc chép nhầm cũng rất khó xảy ra. Chỉ tiếc là Toàn thư không chép về Hoằng Chân để chúng ta có thể so sánh. Nếu có xảy ra nhầm lẫn thì có lẽ khi soạn Đại Việt sử ký, Lê Văn Hưu chép mục năm 1075 là Tông Đản, còn sách Việt sử lược khi chép mục năm 1076 theo sách Đại Việt sử ký, vì lý do nào đó mà chép thành Hoằng Chân. Nhưng sách sử phương bắc lại chép là Hoằng Chân thậm chí sách Tùng-đàm chép: “Tướng tiên-phong là Miêu Lý và Yên Đạt qua sông Phú-Lương. Đánh một trận, phá tan giặc. Bắt được thái-tử giặc là Phật-Nha” (TB 303/9a). Tên Phật-Nha ấy tuy khác các tên kia, nhưng chắc là đúng. Lý Thái-Tông khi còn thái-tử có tên là Phật-Mã, thì con có thể là Phật-Nha. Chắc đó là tên húy còn hiệu là Hoằng-Chân-vương hay Hoằng-Chân-hầu” [Hoàng Xuân Hãn] Vậy thì sách sử chép rất rõ về Hoằng Chân, rất khó để có nhầm lẫn, trừ khi nhầm lẫn xảy ra tại mục năm 1075 trong sách Đại Việt sử ký. Lê Văn Hưu muốn chép là Hoằng Chân hoặc vì nhầm lẫn mà Lê Văn Hưu nhầm giữa Tông Đản và Hoằng Chân. Người đem quân vây thành Ung Châu là Hoằng Chân nhưng Lê Văn Hưu nhầm lẫn thành Tông Đản. Thực chuyện này không thể khảo được! Cũng lạ là sử phương bắc biết rất tường tận về Hoằng Chân, về đội quân riêng 500 người, mà lại không biết ngài dẫn 1 đạo quân, tấn công Ung Châu ? Vì như Giáo sư Hãn viết: “Tống-sử và Tống-thư cũng không đâu nói đến”.
* Tông Đản không phải là Nùng Tông Đán hoặc con của Đán, cùng không phải là vương hầu Hoằng Chân ? Ngài không được sử phương bắc nhắc đến cùng chỉ được sử phương nam chép có duy nhất 1 lần. Trong khi vai trò của ngài trong trận đánh thành Ung Châu lại rất lớn. Đó là việc rất khó hiểu ? Nếu như Tông Đản không chết trong cuộc chiến Tống Việt thì chắc chắn ngài phải được phong chức tước quan trọng, nhưng sử sách lại phủ nhận điều đó, vậy nên chúng ta sẽ tìm hiểu ngài trong các bộ tộc ở phía bắc. Trong tất cả các sách sử thì duy có Việt sử lược chép: “Trí Cao chạy sang nước Đại Đản”. Sách sử còn lại chép rằng Trí Cao chạy vào nước Đại Lý. Sách Việt sử lược lấy đâu ra cái tên Đại Đản ? Và cái tên này có liên quan gì tới Tông Đản hay không ? Có khi nào Tông Đản là vương hầu của nước Đại Đản cùng hợp binh với Đại Việt tấn công Đại Tống không ? Tôi cho rằng rất khó vì từ Đại Đản mà sách Việt sử lược chép có lẽ là cách viết để tránh phạm tên huý của họ Trần. Nguyên tổ họ Trần có tên cúng cơm là Lý. Do vậy mà Việt sử lược đã chép từ Đại Lý thành Đại Đản, chỉ băn rằng vì sao lại là Đại Đản mà không phải là 1 cái tên khác ? Có phải là liên quan tới phật giáo hay không ? Việc này sẽ bàn sau. Thêm một câu hỏi nữa là nếu xảy ra trường hợp chép từ Đại Lý thành Đại Đản thì có xảy ra trường hợp chép từ Tông Lý sang Tông Đản hay không ? Việc này thực rất khó để khảo ? Nếu như người thống lĩnh cánh quân đường bộ tấn công Ung Châu không phải là người giữ vai trò dẫn đường, cùng không phải là tướng quan trọng của triều Lý cử đi, thì tướng này phải là thổ binh thân tín của triều đình. Khi ngài Lý Công Uẩn rời đô về thành Đại La thì họ Lý giữ vùng sông nhị Hà, phía đông có họ Phạm và họ Đỗ thế lực, phía nam có họ Dương và họ Lê (Ái Châu) thế lực, phía tây và tây bắc có họ Lê, họ Đào và họ Hà thế lực, phía chính bắc và đông bắc có họ Thân thế lực. Vậy là bối cảnh chính trị thời Lý như vòng tròn có 3 biên giới. Chính tâm, thành Thăng Long họ Lý nắm quyền, chia sẽ quyền lực với họ Đỗ, họ Phạm. Biên giới thứ 2 là các họ Thân, Hà, Lê (Ái Châu). Với các họ phía bắc thì thông gia, với các họ phía nam thì đánh dẹp. Sau khi liên minh với các dòng họ ở vùng biên thứ 2 thì sẽ gây ảnh hưởng tới vùng biên thứ 3 cùng chính là họ Vi, họ Hoàng và họ Nùng. Các dòng họ vùng biên giới Việt Trung ngày nay giữ vai trò tự trị từ thời Đường. Sau khi vùng đồng bằng sông Hồng giành độc lập và kiến tạo 1 chính quyền, các dòng họ ở vùng biến giới cũng muốn thiết lập 1 chính quyền như ở đồng bằng, trong đó những nỗ lực phải kể đến như của cha con Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao. Tuy nhiên các dòng họ ở miền núi gặp khó hơn các dòng họ ở đồng bằng trong việc kiến quốc là: phía bắc và phía nam đều đã hình thành chính quyền và chính quyền nào cũng muốn các thế lực vùng biên giới phải phụ thuộc và trở thành 1 phần lãnh thổ của chính quyền ấy. Thế nên, hết xung đột với nhà Tống thì lại xung đột với nhà Lý. Trong các sách sử thường nhắc đến các bộ tộc miền núi quy thuận, tuy nhiên cần hiểu từ quy thuận này 1 cách chính xác. Các tộc người vẫn cống nạp, vẫn xưng thần, không gây sự vùng biên cảnh thế nhưng họ tương đối độc lập, họ giống như 1 thế lực thứ 3 trong cuộc chiến Tống Việt. Và cái quyết định hành động của họ là lợi ích của họ chứ không phải mệnh lệnh của Thiên triều. Sử Việt và sử Tống gọi là giặc Nùng. Nhưng câu hỏi ai mới là giặc ? Đất Quảng Nguyên có phải là của họ Lý hay họ Triệu. Rõ ràng không phải đó là đất của họ Nùng. Vậy ai mới là giặc ? Vậy các sử gia đã sai sao ? Không phải, họ chỉ sai khác với chúng ta thôi, còn ở thời điểm họ chép sử thì giặc là kẻ thua còn vua là người thắng.
* Nếu xét về thân tín phía bắc không họ nào bằng họ Thân, họ Thân vốn là họ Giáp đổi sang. Rồi đời đời họ Thân lấy công chúa triều Lý. Ngay cả khi Tống tấn công Đại Việt, các dòng họ phía bắc hàng Tống triều, nhưng Thân Cảnh Phúc vẫn không chịu theo, quyết chống Tống tới cùng và đã tử trận vào năm 1077. Sách của Giáo sư Hãn viết: “Lạng-Châu có động Giáp rất to; chúa động thuộc họ Giáp sau đổi ra họ Thân, đã nhiều đời làm phò mã. Động Giáp ở phía nam ải Chi-Lăng. Sách MKBD chép rõ rằng: “Giáp động là một bộ lạc lớn. Chủ động tên Giáp Thừa-Quí, lấy con Lý Công-Uẩn rồi đổi ra họ Thân. Con Thừa-Quí là Thiệu-Thái lại lấy con gái Đức-Chính (Thái-Tông). Con Thiệu-thái là Cảnh-Long lại lấy con Nhật-Tôn (Thánh-Tông) (…) Con Thiệu-Thái và công chúa Bình-Dương là Thân Cảnh-Nguyên (VSL 1059) hay Đạo-Nguyên (VSL 1066) hay Cảnh-Long ( MKBD 2) hay Cảnh-Phúc (TB 279/11a) cũng được kén lấy công chúa Thiên-Thành năm Bính-Ngọ 1066 đời Lý Thánh-Tông (...) Sách Quế-Hải-chí (theo lời SK, nhưng sách QHNHC không chép) kể chuyện rằng: “Viên tri-châu Quang-Lang là phò-mã, bị thua, bèn trốn vào trong bụi cỏ. Thấy quân Tống đi lẻ-loi thì ra giết chết hoặc bắt về chặt ra mà ăn. Người ta cho là một vị thiên-thần”. Phò-mã nầy chắc chính là Thân Cảnh-Phúc coi châu Lạng”. Rất khó để Thân Cảnh Phúc nhầm lẫn với Tông Đản. Nói thêm về các gia tộc vùng biên viễn. Sách Toàn thư chép: “Quý Mão [năm 1003] Dân ở thành Nhật Hiệu và đầu mục là bọn Hoàng Khánh Tập đem gia thuộc hơn 450 người trốn sang Khâm Châu nước Tống. Tống sai sứ đến dỗ bảo phải về. Bọn Khánh Tập sợ tội bảo về, bèn ra ở bờ biển”. Có thể nhân vật Hoàng Kim Mãn thủ lĩnh vùng Môn Châu, thuộc gia tộc họ Hoàng của Khánh Tập. Về họ Hà, sách sử phương nam chép nhiều. Trong các thủ lĩnh miền biên viễn, Lưu Kỷ là nhân vật rất đặc biệt.
Sách của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết: “Tháng 4 năm Quí Sửu 1073, Ôn Cảo xin tăng hàm cho tụi Nùng Tôn-Đán (V/8) và Nùng Trí-Hội (VI/7) là tụi đã bỏ Lý theo Tống. Tông Đán được chức đô-giám Quế-Châu, Trí-Hội coi châu Quí-Hóa và cả hai được thăng hàm cung-bị-khố phó-sứ (TB 244/3b). Thẩm Khỉ lại sai người dụ Lưu Kỷ ở Quảng-Nguyên. Ngày 15 tháng 10 năm Q.Su (1073) Khỉ tâu: “Lưu Kỷ ở Giao-Chỉ muốn theo ta. Nếu không nhận, sợ nó làm loạn như Nùng Trí-Cao” (TB 247/22a) (…) Khi Khỉ xin nhận Lưu Kỷ hàng (tháng 10, Q.Su 1073, VI/5) vua Tống hỏi ý Vương An-Thạch rằng: “Ta nghỉ rằng chưa có thể nhận Lưu Kỷ được. Nhận Lưu Kỷ, chắc rằng Giao-chỉ giành lại”. An-Thạch nói: “Nghe nói Ôn Cảo từ Quảng-Tây đã về. Xin đợi Cảo đến nơi, sẽ thương lượng” (TB 247/22a) (…) Châu Quảng-Nguyên là một yếu địa. Tướng cầm quân ở đó là Lưu Kỷ. Lưu Kỷ nối Nùng Trí-Cao. Sau khi Trí-Cao thất bại, bộ hạ y là tụi Hoàng Trọng-Khanh, Lư Báo về theo Kỷ (MKBD). Ta đã thấy Kỷ có lần vào châu Quí-Hóa và Thẩm Khỉ đã có lần muốn dụ y (VI, 4). Kỷ làm quan-sát-viên ở Quảng-Nguyên (TB 279/11a) thường qua các khê động mua ngựa. Có con Nùng Trí-Cao là Trí-Hội ở châu Quí-Hóa, cản đường. Trí-Hội bấy giờ đã qui phụ Tống. Kỷ đem 3.000 quân sang đánh đất châu Ung. Trí-Hội và con là Tiến-An chống lại. Kỷ lui quân về (TB 263/7a) (...) Nhưng Tống muốn nhân cơ hội, gây thanh thế ở nam thùy một cách khôn ngoan. Lưu Di được tin Kỷ và Trí-Hội đánh nhau, tâu về triều. Di nói: “Thật ra Trí-Hội chưa theo ta hẳn. Nên để hai bên đánh nhau như thế, thua được đều có lợi cho triều đình”. Vua Tống Thần-Tông không bằng lòng, trả lời: “Sao lại nói như thế ? Nếu ta không dung kẻ theo ta, thì kẻ theo ta đắc chí. Bày phương kế như vậy là bậy !” An-Thạch cũng đồng ý, nói: “Quả thực như lời Hoàng-thượng ! Nếu thật Trí-Hội chưa theo hẳn ta như lời Di nói, thì nên nhân cơ hội này mà mua chuộc nó. Vả nay, Càn-Đức còn bé; nếu Lưu Kỷ đánh được Trí-Hội, rồi quay lấy Giao-chỉ, thì đó sẽ là cái họa cho ta. Ta nên giúp Trí-Hội để chế lại Lưu Kỷ, làm cho nó không rỗi tay mưu đánh Giao-chỉ. Thế thì mới lợi cho ta”(TB 263/7b). Theo ý Vương An-Thạch, cũng như ý của người Tống đương thời, Lưu Kỷ là một tướng độc lập ở Quảng-Nguyên, thanh thế không kém gì vua Lý. Cho nên mới có lý luận trên (...) Bộ binh ở tả-dực được lịnh xuất quân trước, tràn qua Vĩnh-Bình để đến Ung-châu (VSL). Quân các châu dọc biên giới kéo vào chiếm các trại Vĩnh-Bình; quân từ Lạng-Châu vào lấy những châu Tây-Bình, châu Lộc. Quân Quảng-Nguyên và châu Môn chiếm trại Hoành-Sơn. Các tướng Tống chống cự rất hăng hái, nhưng đều bị bại. Chúa trại Hoành-Sơn là Lâm Mậu-Thăng, viên quản-hạt Vĩnh-Bình là Tô Tá, viên quản hạt Thái-Bình là Ngũ Cử và viên giám-áp trại Thái-Bình là Quách Vĩnh-Nguyên đều tử trận (TB 273/4b) (…) Ngày 15 tháng 2 (T. Su, DL 22-3) lúc Triệu Tiết vào bái-từ để xuống miền nam trước Quách Quì, vua Tống Thần-tông dặn-dò căn-vặn: “Hễ dùng thổ-dân, có đưa thực-lợi thì mới sai được chúng. Chớ nên chỉ dùng lời ngọt mà thôi. Ngươi sẽ mộ vài nghìn thổ-dân mạnh-bạo; chọn tướng dữ-tợn để cai-quản, rồi sai chúng đi ép các dân động. Bảo những dân ấy rằng: đại-binh ta sắp tới qua vùng chúng; đứa nào theo ta thì được thưởng, không theo sẽ bị giết. Nếu chúng quả không theo, hãy giết đi vài ba họ để thị-uy. Lúc binh-uy đã có, ta sẽ bắt đầu ép Hữu-giang, rồi ép Tả-giang. Sau khi hai đạo ấy theo ta rồi, ta sẽ đánh sào huyệt Lưu Kỷ ở Quảng-Nguyên, không khó nữa” (T Su, DL 22-3: TB 273/8b). Tống chú ý đến Lưu Kỷ như vậy, vì Kỷ là một kiện-tướng giữ vùng Quảng Nguyên, sau khi Nùng Trí-Cao chạy sang đất Tống. Ta đã thấy rằng trước lúc đại-quân Lý vào đất Ung, Lưu Kỷ đã xung đột với con Trí-Cao là Nùng Trí-Hội (VI/5). Theo Tống sử (TS 495) trong đời Lý Thánh-Tông, Lưu Kỷ đã có hiềm khích với Nùng Tông-Đán. Tuy sử ta không hề còn ghi tên Lưu Kỷ, nhưng ta cũng thấy rằng Kỷ giữ một trọng chức bấy giờ. Kỷ có 5.000 quân, luôn luôn uy-hiếp hữu-dực quân Tống (...) Ngày mồng 8 tháng 5, khu-mật-viện Tống tâu rằng: “Tụi Lưu Kỷ, ở Quảng-Nguyên, trước theo Giao-Chỉ vào cướp đất ta. Nay sẵn có lòng hiệu-thuận, nhưng bị Giao-chỉ ép, nên không thể đổi chí-hướng đuợc. Y ở đó, thám-báo cho Giao-chỉ để lo tự-thủ yên thân. Vậy lúc đại-quân tới vùng y đóng, phải trừ tụi ấy đi” (...) Ngày 14 tháng giêng, định cấp 40 bằng trống tên cho ti chiêu-thảo và ban riêng: hàm cung-bị-khố phó-sứ cho các tri-châu Vi Thủ-An ở Tô-Mậu, Hoàng Sầm-Mãn và Nùng Thuận-Linh ở Môn-Châu; hàm tả-tàng-khố phó-sứ cho Lưu Kỷ ở Quảng-Nguyên và hàm nội-điện-sùng-ban cho Sầm Khánh-Tân (T. Vi, DL 21-2; TB 272/4b) (…) Tiết lại bàn nên dụ Lưu Kỷ và Thân Cảnh-Phúc. Tiết nói: “Vì mưu của Lý Thường-Kiệt (TB chép Thượng-Cát) và Lý Kế-Nguyên, nên Giao-chỉ đã làm loạn. Càn-Đức (Lý Nhân-tông) và mẹ (Ỷ-lan) oán hai người ấy và nay lại tin vào Nguyễn Thù. Thù vốn có lòng quy-thuận. Vả Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên, Thân Cảnh-Phúc giữ động Giáp, đều cầm cường-binh. Ta có viên Thành Trạc, làm giáp-áp ở trại Hoành-sơn, vốn quen thân với Thù và Cảnh-Phúc. Tôi muốn sai Trạc mang sắc-bằng vào chiêu-nạp chúng”. Quì không nghe mưu ấy. (TB 279/11a) [Đoạn chú viết]: Trong các sách Tống, thường chép tên châu-mục Quảng-nguyên là Lưu Kỷ (TB, TS, ĐĐSL). Nhưng cũng có một vài nơi lại chép Lưu Ứng-Kỷ, như trong truyện Quách Quì ở TS 290 và chuyện Yên Đạt ở ĐĐSL 84.1”.
* Tháng 4/1073 Nùng Tông Đản được phong làm Đô giám Quế Châu, trước đó Đản có xung đột với Lưu Kỷ và Nhật Tông, vậy thì rất khó để Tông Đản dẫn quân Lý tấn công thành Ung Châu. Trong lần quân Lý tấn công đất Tống, viên quản hạt Vĩnh Bình là Tô Tá bị chết, vậy thì sách Việt sử lược chép sai, cánh quân đường bộ do Tông Đản thống lĩnh không xuất phát từ Vĩnh Bình, mà có thể giống như Giáo sư Hãn viết: Lục quân tràn qua Vĩnh Bình tiến đến Ung Châu. Qua những ghi chép về Lưu Kỷ chúng ta thấy rằng người đứng đầu vùng biên viễn bấy giờ chính là Lưu Kỷ. Lưu Kỷ là nhân vật đặc biệt, được nhà Tống đánh giá là mạnh không thua kém nhà Lý. Cũng thật lạ khi một nhân vật như vậy mà sử phương nam lại bỏ qua, không có 1 dòng khi chép ? Giống hệt như trường hợp sử phương bắc bỏ qua Tông Đản mà không hề ghi chép ? Hai nhân vật này có mối quan hệ nào hay không ?
Sách của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết: “Năm 1062, Tông-Đán và con đem các động thuộc mình, là Lôi-hỏa và Kế-thành, nộp cho Tống, và xin tới ở Lạc-châu. Tống nhận đất, bổ Tông-Đán coi châu Thuận-an (là vùng Lôi-hỏa, Kế-thành mới được đổi ra tên ấy) và bổ Nhật-Tân coi việc thuế ở Ung-châu (TS 495). Như vậy, cha con Tông-Đán vẫn giữ đất cũ, là đất mà ta vẫn coi thuộc ta. Cho nên chúng không lấy làm yên tâm, vì sợ vua Lý Thánh-tông đánh. Vả chăng động Lôi-hỏa bên cạnh Quảng-nguyên, mà bấy giờ Lưu Kỷ quản. Lưu Kỷ cũng là một tướng kiệt-hiệt, lại làm chức quan sát cho vua Lý. Tông-Đán lại càng lo. “Năm Trị-bình (1064), Tông-Đán có sự hiềm khích với Lý Nhật-Tôn (Thánh-tông) và Lưu Kỷ, nên sợ chúng đe dọa. Viên coi Quế-châu là Lục Sằn biết vâïy, sai người đến dụ. Tông-Đán bèn bỏ châu mình vào nội địa, và được ban chức hữu-thiên-ngưu-vệ-tướng-quân” (TS 495). Sự phản bội của tụi Nùng Tông-Đán lần này làm Lý mất một vùng đất khá lớn ở phía tây bắc châu Quảng-nguyên (...) Tống Thần-tông phê rằng: “Gần đây, đã nhiều lần thám báo rằng giặc Quảng-nguyên tụ tập. Cuối cùng tin không đúng. Khiến dân khê động ở không yên. Sợ tin đó là giặc giảo-hoạt cố ý hư truyền ra, để làm náo động nhân tình, rồi nhân đó, hiếp bức dân chúng theo nó. Đó là việc mà bọn Hoàng Trọng-Khanh, Lư Báo đã làm. Nếu để lâu không xử trí, thì sự lý không tiện. Vậy, kíp sai Tiêu Chú tới đó mà xử trí, chớ để thành chuyện to lớn” (tháng 11 T.Ho 1071;TB 288/1a) (...) Ta đã thấy rằng vào tháng tư nhuận, Lưu Kỷ ở Quảng-nguyên dã đem 3.000 quân đánh nhau châu Qui-hóa làm Tống phải động tâm và phải phái quân giúp viên coi châu ấy là Nùng Trí-Hội (VI/7) (…) Cũng vào khoảng cuối năm ấy (Q.Su 1073), có bọn Nùng Thiện-Mỹ ở châu Ân-tình (vùng châu Cảm-hóa thuộc Bắc-Kạn, giáp châu Thất-khê, còn có làng Ân-tình, chính là đó, xem ĐKĐD), nghe lời Thẩm Khỉ dỗ, đưa bảy trăm bộ hạ vào xin theo Tống (TB 259/13b). Viên đô-tuần-kiểm là Tiết Cử nhận (TB 251/1a). Thẩm Khỉ tâu rằng: “Viên coi châu Ân-tình là Nùng Thiện-Mỹ và hơn 600 gia thuộc xin quy phục Trung-quốc. Tôi xét thấy Thiện-Mỹ vốn người Trung-quốc, quản động Hạ-thôn thuộc châu Thất-nguyên. Năm trước, động ấy bị Giao-chỉ chiếm mất, và đổi tên ra Ân-tình. Nay vì Giao-chỉ bắt thuế nặng nề, nên tụi Thiện-Mỹ xin quy phục ta, kẻo nếu chúng không nộp thuế cho Giao-chỉ, thì e bị giết” (TB 259/13b) (…) Tháng ba năm G.Dn (1074), viên chuyển-vận-sứ Quảng-tây tố cáo việc ấy (TB 251/1a). Vua Tống bảo xét và dặn rằng: “Chúng nó đã quy-ninh, thì nên cứu giúp” (TB 259/13b) (…) Vào tháng giêng năm Ất-mão (1075) Lý Thường-Kiệt xui vua Nhân-Tông gửi biểu tới triều Tống đòi lại tụi Thiện-Mỹ. Lời biểu rằng: “Thủ lĩnh châu Ân-tình, tên Ma Thái-Dật là người châu Định-biên ở đất tôi (Bắc-cạn ngày nay). Nó đã dời sang châu Ân-tình và nay đổi tên Nùng Thiện-Mỹ. Nó và 700 bộ thuộc đã trốn sang Trung-thổ. Vậy xin xét rõ căn do”. Vua Tống bảo xét (TB 259/13a). Không thấy Tống trả lời, ta dâng biểu đòi trả tụi dân ấy. Lưu Di không chịu chuyển biểu (TB 272/2a). Cuối cùng, vua Tống không bằng lòng trả Nùng Thiện-Mỹ (TB 259/13a) (...) Quì nói : “Quảng-nguyên là cổ họng của Giao-chỉ. Có binh-giáp mạnh đóng giữ đó. Nếu ta không đánh lấy trước, thì sau khi ta đi sâu vào đất chúng, quân ta sẽ bị đánh cả mặt trước và mặt sau. Lưu Kỷ đóng ở đó, là quan-sát-sứ của giặc, mà lại là chủ-mưu sự cướp Ung-châu. Nếu ta không bắt được nó, thì thanh-thế ta không thể nổi dậy” (MC Quách Quì, theo TB 279/11a) (…) Lúc được lệnh vào Quảng-nguyên, Yên Đạt đem theo một tướng giỏi, tên là Tu Kỷ giúp mình (TB 284/4a). Đường vào Quảng-nguyên hiểm-trở, nhưng quân Tống đông. Lưu Kỷ sai quân cự-chiến. Dân-gian họp nhau chống lại. Vùng bắc Quảng-nguyên, có Hoàng Lục-Phẫn ngăn được quân Tống, không để chúng cướp phá động mình. Nay còn có đền thờ y ở làng quán là làng Lũng-định, ở phía bắc phủ Trùng-khánh (ĐNNTC). Quân Lưu Kỷ cũng chống-cự rất hăng, làm cho tiền quân Yên Đạt lâm nguy. Đạt muốn đem quân cứu. Một tiểu-tướng hầu gần thưa rằng: “Tướng-công nên tính đến việc mình trước, rồi sẽ tiến quân”. Đạt trả lời “Quân ta đánh đã lâm-nguy. Ta há có lòng nào lo tự bảo-toàn sao !”. Rồi hạ lệnh rằng: “Ai bàn đóng doanh lại không tiến quân thì sẽ bị chém”. Đạt liền đem đại-quân tới cứu. Quân sĩ Tống bị vây, thấy vậy đều phấn-khởi. Chúng kêu to lên rằng: “Quan thái-úy đã tới !”. Quân Lưu Kỷ bèn giải vây và lui (TS 349) Yên Đạt biết cơ khó lòng bắt được Lưu Kỷ, bèn định dùng mưu cắt vây-cánh của y. Đạt phao tin rằng Lưu Kỷ đã nhận lời theo Tống và hẹn ba ngày nữa sẽ ra hàng. Các khê-động tưởng thật, đều theo Tống. Lưu Kỷ sợ thế cô-lập. Ba ngày sau cũng đem gia-thuộc và các động-trưởng ra hàng. Ấy là ngày Bính-tuất mồng 4 tháng 12 (DL 1-1-1077; TS 15). Quì bắt được 5.000 quân của Kỷ và cứu được 3.000 quân bị Kỷ bắt trước đó (Theo lời tâu ngày 4-12, B. Tu, DL 1-1-1077; TB 279/11a). Đạt lại thu được một vạn hộc lương và dân các động cung-nạp thêm 20 vạn hộc. Thế là đỡ cho Tống được 10 ngày lương (TB 283/16b). Yên Đạt sai đốt phá các động để phòng sự quân ta tập kích (MKBĐ). Ti chiêu-thảo báo về, vua Tống hạ chiếu rằng: “Nếu vì đại-binh tới gần cõi, cho nên Lưu Kỷ bất-đắc-dĩ mới hàng, thì hãy đem Lưu Kỷ và gia-quyến về kinh-đô ” (4-12, B. Tu, DL 1-1-1077; TB 279/11a). Bảy ngày sau, các tì-tướng, như Nùng Sĩ-Trung và Lư Báo thủ-lĩnh động Bát-tế ở châu Cổ-nông cũng ra hàng, rồi cũng bị đem về Biện-kinh cả (Theo lời tâu 11-12, Q. Ti, DL 8-1-1077; TB 279/11a)”.
* Có 2 chi tiết quan trọng trong đoạn văn trên: Thứ nhất là xét lời biểu của nhà Lý gửi nhà Tống vào đầu năm 1075 có nhắc đến trường hợp của Nùng Thiện Mỹ. Nùng Thiện Mỹ vốn người Định Biên tên là Ma Thái Dật, khi dời sang châu Ân Tình đổi tên thành Nùng Thiện Mỹ. Xem sách sử thì chúng ta bắt gặp nhiều nhân vật được sách sử phương bắc và phương nam chép bằng những cái tên khác nhau. Vậy việc này có xảy ra với Tông Đản không ? Cụ thể, sử phương nam chép là Tông Đản, trong khi sử phương bắc chép là Lưu Kỷ ? Thứ hai là theo lời của Quách Quỳ thì Lưu Kỷ chính là chủ mưu của sự cướp Ung Châu. Nên việc chiến thắng quân sự đối với Lưu Kỷ là rất quan trọng, nó vừa mang ý nghĩa về mặt quân sự và vừa mang ý nghĩa về mặt tinh thần. Rõ ràng là không thể phủ nhận vai trò đứng đầu vùng biên viễn của trước đây là Nùng Trí Cao và sau này là Lưu Kỷ. Theo dõi những sự kiện liên quan tới Lưu Kỷ, chúng ta thấy rằng trước khi quân Lý tấn công châu Khâm Liêm vào tháng 11 năm 1075 thì vào tháng 4 nhuận năm 1075, Lưu Kỷ đã có xung đột với Nùng Trí Hội, Trí Hội được nhà Tống hỗ trợ. Đồng thời nhà Tống có các hoạt động quân sự ở vùng biên giới với nhà Lý, khiến nhà Lý rất lo lắng, các hoạt động quân sự cũng khiến thổ dân vùng biên giới bị xáo trộn. Do đó liên minh quân sự tất yếu hình thành giữa một bên là nhà Lý và bên kia là thổ dân vùng biên viễn mà đứng đầu là Lưu Kỷ.
Giả thuyết: Tông Đản trong sử Việt là Lưu Kỷ trong sử Tống.
P/S: Lưu Kỷ là ai ? Chúng ta sẽ tìm hiểu sau.

PHỤ CHÚ THỜI LÊ LÝ: SỰ KIỆN (P.2)


Sách Toàn thư chép: “Đinh Mão [967] Bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh nghe tiếng Trần Minh Công là người có đức mà không có con nối, bèn cùng với con là Liễn đến nương tựa (…) Bính Tý [976] Sai Trần Nguyên Thái sang đáp lễ nhà Tống”.
Sách Toàn thư chép: “Ất Hợi [975] Sai Trịnh Tú đem vàng lụa, sừng tê, ngà voi sang nhà Tống (…)
Sách Toàn thư chép: “Kỷ Mão [979] Mùa đông tháng 10 Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung [Việt sử lược chép: Tháng 11, ban đêm vua ngự tiệc thì bị Phúc Hầu Hoằng là Đỗ Thích giết. Cương mục chép: Đỗ Thích người Đại Đê thuộc Thiên Bản. Nay là Vụ Bản, Nam Định] nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân (…) lệnh lùng bắt hung thủ rất gấp, Thích phải lén núp ở máng nước 3 ngày (…) cung nữ trông thấy liền đi báo [Việt sử lược và Cương mục chép: Cung nữ thấy vậy mới báo với Định Quốc Công Nguyễn Bặc] Định Quốc Công Nguyễn Bặc sai người bắt đem đi chém (…) Định Quốc Công Nguyễn Bặc, Ngoại Giáp Đinh Điền, cùng Thập đạo tướng quân Lê Hoàn rước Vệ Vương Toàn lên ngôi Hoàng Đế [Việt sử lược chép: Nguyễn Bặc cùng với Tướng quân là Lê Hoàn phụng lập Vệ Vương Đinh Tuệ lên ngôi vua] Lê Hoàn nhiếp chính, tự xưng là Phó vương”.
* Trong bài Bàn về cái chết của Đinh Bộ Lĩnh tôi đưa ra bằng chứng cho thấy Đại Thắng Minh Hoàng Đế mất khoảng năm 976. Trong bài Phụ chú về thời Đinh Lê tôi đưa ra bằng chứng cho thấy Lê Hoàn không liên quan tới cái chết của Đinh Liễn năm 979. Như đoạn trích ở trên chúng ta thấy có 1 vài sai khác giữa các bộ sử của Việt Nam. Lê Hoàn là người nắm giữ binh quyền, nếu ngài ấy có ý định giết vua và Đỗ Thích là đồng phạm thì Lê Hoàn phải lên kế hoạch giải quyết Đỗ Thích như hoặc là tạo điều kiện cho Thích trốn khỏi cung, rồi an trí ở 1 địa điểm an toàn nào đó, hoặc chính Hoàn ra tay trừ khử Thích để bịt đầu mối. Chứ không lý gì để Nguyễn Bặc bắt được, mà khi Bặc bắt được Thích cũng giết đi, chứ không thấy tra khảo để tìm ra đồng phạm. Tôi cho rằng Đỗ Thích không giết vua, mà rất có thể Đinh Liễn uống rượu say, ngủ lại ngoài sân cung nên trúng gió mà chết, quan chi hậu họ Đỗ hầu cận ở bên, bị nghi ngờ nên Nguyễn Bặc đã giết đi. Sách Toàn thư và Cương mục thì chép rằng Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lê Hoàn đưa Vệ Vương Toàn lên ngôi, nhưng sách Việt sử lược thì chỉ chép Nguyễn Bắc và Lê Hoàn mà không có Đinh Điền. Việt sử lược chép chính xác hơn, vì khi xảy ra vụ án Đinh Điền đang trấn giữ ở Ái Châu.
Sách Toàn thư chép: “Định Quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Hoàn sẽ làm điều bất lợi cho vua nhỏ, bèn cùng nhau dấy binh, chia hai đường thuỷ bộ, muốn tiến về kinh đô giết Hoàn, nhưng không thắng, bị giết (…) Canh Thìn [980] Thái hậu [Họ Dương] sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lang làm đại tướng quân [Việt sử lược chép: Thái hậu sai người ở Nam Sách là Phạm Cự Lang làm Đại tướng quân] Nhâm Ngọ [982] Lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Hậu là vợ của Tiên hoàng, mẹ đẻ của Vệ Vương Toàn, cùng với Phụng Càn Chí Lý Hoàng Hậu, Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng Hậu, Trịnh Quốc Hoàng Hậu, Phạm Hoàng Hậu là 5 hoàng hậu [Việt sử lược chép: Năm Nhâm Ngọ vua lập Vương hậu 5 bà] Vua thân đi đánh Chiêm Thành, thắng được. Bắt sống được quân sĩ của chúng nhiều vô kể, cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư Thiên Trúc”.
* Trong bài Phụ chú về thời Đinh Lê tôi có đưa bằng chứng cho thấy Lê Hoàn không có quan hệ tư thông với vợ của Đinh Bộ Lĩnh là Dương thị, bà Dương thị vợ của Lê Hoàn có danh xưng đúng phải là Đại Thánh Minh Hoàng Hậu và xưng hiệu của Lê Hoàn là Đại Thánh Minh Hoàng Đế. Ngay như Việt sử lược cũng chỉ nói Hoàn lập 5 vương hậu và cũng không nhắc gì tới việc Hoàn có tư thông với mẹ của Vệ Vương Toàn. Trong 5 bà vương hậu thì có 2 bà thấy nhắc tới họ là Trịnh hoàng hậu và Phạm hoàng hậu. Theo thứ tự nhắc tên thì ngờ rằng 2 bà vương hậu này được lập sau. Chúng ta không biết tình trạng hôn nhân thế kỷ thứ 10 ra sao, nhưng giả sử có lợi cho chúng ta là chỉ những người ở tầng lớp trên mới lấy được nhiều vợ thì khả năng rất cao là Trịnh hoàng hậu và Phạm hoàng hậu trở thành vợ sau khi Hoàn làm vua. Như thế chúng ta có cơ sở để xác lập mối quan hệ thân tộc giữa Trịnh hoàng hậu với Trịnh Tú và Phạm hoàng hậu với Phạm Cự Lạng. Thực chất của các cuộc hôn nhân này là vì mối quan hệ giữa các dòng họ [Chúng ta cũng không thấy Trịnh Tú và Lưu Cơ trong cuộc chiến với Lê Hoàn]
Sách Toàn thư chép: “Kỷ Sửu [989] Phong Thái tử Thâu làm Kình Thiên Đại vương, Hoàng tử thứ hai là Ngân Tích làm Đông Thành vương, hoàng tử thứ ba là Việt làm Nam Phong vương. Vua sai Quản giáp là [Dương] Tiến Lộc đi thu thuế hai châu Hoan và Ái, Tiến Lộc đem người của 2 châu ấy theo về với Chiêm Thành. Chiêm Thành không nhận. Vua nghe tin đem quân đánh 2 châu Hoan và Ái, bắt được Tiến Lộc và giết người 2 châu ấy không biết bao nhiêu mà kể [Việt sử lược chép sự kiện Dương Tiến Lộc làm phản trước việc phong vương của 3 hoàng tử] Giáp Thìn [1004] Mùa xuân tháng giêng lập Nam Phong vương Long Việt làm hoàng thái tử, gia phong Long Đĩnh làm Khai Minh Đại vương, Long Tích làm Đông Thành Đại vương Ất Tỵ [1005] Mùa xuân tháng ba, vua băng ở điện Trường Xuân, gọi là Đại Hành Hoàng Đế [Việt sử lược chép và Cương mục chép: Ở ngôi 24 năm thọ 65 tuổi] Tên huý là Long Việt, con thứ 3 của Lê Đại Hành, mẹ là Chi hậu Diệu Nữ. Lên ngôi được 3 ngày thì bị em cùng mẹ là Long Đĩnh giết, thọ 23 tuổi [Việt sử lược chép: Năm lên 9 tuổi Trung Tông được phong làm Nam Phong Vương. Thọ 25 tuổi. Cương mục chép: Con gái quan Chi hậu tên là Diệu, không rõ họ là gì] Tên huý là Long Đĩnh, con thứ 5 của Đại Hành ở ngôi 4 năm, thọ 24 tuổi [Việt sử lược chép: Năm Kỷ Dậu [1009] Mùa xuân Minh Xưởng ở Tống về, xin được kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu thị đem dâng. Vua thu nạp làm cung nhân (…) Mùa đông tháng 10 vua qua đời tại phòng ngủ trong điện. Ở ngôi 4 năm] Khi ấy Chi hậu Đào Cam Mộc dò biết [Lý] Công Uẩn có muốn việc truyền ngôi”.
* Trong bài Phụ chú về thời Đinh Lê tôi xác định năm Lê Hoàn chính thức lên ngôi [xưng hoàng đế] là năm 993. Nhưng nay căn cứ vào Toàn thư chép năm Minh Xưởng về nước là năm 1009, vậy thì năm Lê Hoàn xưng hoàng đế có thể lùi lại 1 năm, tức năm 994. Nên nay gọi cho chính xác là cuối năm 993 đầu năm 994. Việc Lê Hoàn xưng hoàng đế năm 993 – 994 không mâu thuẫn với thông tin lập 5 hoàng hậu [đúng phải là 5 phi] và phong vương cho các con được ghi chép trong sách sử, vì như sách Toàn thư chép năm 979 Lê Hoàn tự xưng là Phó vương và chính việc xưng là Phó vương này đã làm Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp nghi ngờ Hoàn. Câu hỏi rất quan trọng là Hoàn xưng là Phó vương trước hay sau khi đánh dẹp Nguyễn Bặc, Đinh Điền ? Vì đây là sự kiện rất quan trọng. Có khi nào sau khi đánh dẹp Nguyễn Bặc và Đinh Điền, để chống lại quân Tống, các tướng lĩnh muốn Hoàn lên ngôi, nhưng Hoàn chỉ xưng là Phó vương mà thôi ? Việc Hoàn xưng là Phó vương trước hay sau sự kiện Nguyễn Bặc và Đinh Điền cho chúng ta thấy Lê Hoàn có dã tâm hay không ?
* Sách Việt sử lược và Toàn thư chép sai khác về tuổi của Lê Trung Tông. Sách nào là sách chép chính xác hơn đây ? Vì thông tin về tuổi của Lê Long Việt là rất quan trọng. Sách Việt sử lược chép rằng mẹ của Long Việt là “sơ hầu di nữ”. Nghĩa là con gái của người hầu người Di. Có giả thuyết rằng: người Di hầu này là người Chiêm mà Lê Hoàn bắt được sau lần tấn công Chiêm Thành năm 982. Và như sách Toàn thư thì năm Trung Tông mất là năm 1005, thọ 23 tuổi, nghĩa là Long Việt sinh năm 983. Hoàn toàn khớp với giả thuyết. Và giả thuyết càng có lý hơn khi Lý Công Uẩn lên ngôi mà không vấp phải sự kháng cứ nào của các công thần triều Lê, bởi vì Lê Long Đĩnh là con của Lê Hoàn với người Di, là sự xúc phạm đến lòng tự tôn của người Việt. Thế nhưng nếu như Việt sử lược chép đúng, Long Việt thọ 25 tuổi, tức là Trung Tông phải sinh năm 981 và như thế thì Lê Long Việt và Lê Long Đĩnh không phải là con của Lê Hoàn với người con gái Chiêm Thành. Có 2 lý do mà tôi cho rằng Long Việt không mang 2 dòng máu Việt Chiêm: thứ nhất là sách sử tuy chép khác nhau song đều chép rằng Hoàn có quan hệ tình cảm với con gái của người hầu, như vậy thì người hầu này phải ở trong cung nhiều năm và Hoàn có mối quan hệ với con gái của người hầu, nếu như năm 982 Hoàn bắt phụ nữ của Chiêm Thành về làm người hầu, thì lúc này sách sử sẽ chép thẳng rằng Lê Hoàn có quan hệ với người hầu người Di, vì dù có bắt được cả mẹ lẫn con thì cả 2 đều là người hầu và nếu như thế thì Hoàn phải quan hệ trực tiếp với người hầu chứ không phải là con gái của người hầu, hiểu đơn giản thì con gái của người hầu chưa hẳn đã là người hầu trong cung. Thứ hai là năm 979 Hoàn xưng là Phó vương, năm 982 Hoàn lập 5 hoàng hậu và việc lập 5 hoàng hậu trước khi đánh Chiêm Thành. Vậy thì rất có thể Lê Hoàn đã có quan hệ với các hoàng hậu này trước khi đánh Chiêm Thành, nếu đúng thì khả năng cao các bà hậu này phải có bầu trước người con gái người Chiêm Thành, trong khi Long Việt là con thứ 3 cũng là con của người phụ nữ Chiêm Thành, thì rõ ràng là không ổn.
* Về con trai cả của Lê Hoàn là Lê Long Thâu, chúng ta biết những gì ? Năm 989, Thâu được phong làm Kình Thiên Đại vương, nhưng năm 1000 thì mất, năm này Đại Thánh Minh hoàng hậu cũng mất. 2 cái chết này có gì mờ ám không ? Sách Toàn thư chép: “Mậu Tuất [năm 998] Tháng 6 cũng không mưa. Dân bị bệnh ho, trâu ngựa chết nhiều”. Rất có thể cái chết của Đại Thánh Minh hoàng hậu và Kính Thiên Đại vương liên quan tới dịch bệnh của 2 năm trước. Chúng ta biết rằng Lê Hoàn sinh năm 941, đến năm 1000 thì ngài cũng đã 59 tuổi. Khả năng cao Đại Thánh Minh hoàng hậu họ Dương là vợ cả của Lê Hoàn và cũng là mẹ của Lê Long Thâu, vậy thì bà cũng chẳng thua Lê Hoàn là mấy tuổi. Nếu Lê Hoàn lấy vợ khoảng năm 24 tuổi (tức là năm 965) thì đến năm 980 vợ chồng Lê Hoàn và Dương thị sinh sống với nhau là 15 năm. Vậy thì không những Lê Long Thâu là con của Lê Hoàn và Dương thị mà 2 người còn có ít nhất là 1 người con trai nữa là Lê Ngân Tích. Bà Đại Thánh Minh hoàng hậu này tôi ngờ là mang họ Dương, nhưng không phải là bà Dương thị vợ của Đinh Bộ Lĩnh. Có lẽ vì cả 2 mang họ Dương nên sử gia đã nhầm lẫn chăng ?
* Biến loạn năm 1005 được cho là Lê Hoàn không lập thái tử sớm, tuy nhiên không phải là như vậy. Sách Toàn thư chép: “Giáp Thìn [năm 1004] Trước đó Long Đĩnh xin làm thái tử, vua có ý muốn cho. Đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ. Vua bèn thôi”. Rõ ràng là vua có ý lập thái tử nhưng bị can ngăn do không phải lễ. Mà vua cũng đã thôi không làm trái lễ vậy thì sao nay lại làm trái lễ, lập con thứ là Long Việt mà bỏ qua Ngân Tích ? Sách Toàn thư chép một sự kiện khá thú vị là năm 989 Dương Tiến Lộc thu thuế 2 châu Hoan Ái, rồi làm phản. Chúng ta biết đất Ái Châu, họ Dương rất thế lực, Lê Hoàn dùng người họ Dương là Tiến Lộc đi thu thuế ở 2 châu Hoan Ái cho thấy Hoàn rất biết dùng người. Tuy nhiên họ Dương đã cự lại. Xem kết cục của việc Hoàn dẹp loạn “giết người hai châu ấy không biết bao nhiêu mà kể” thì rõ là họ Dương đã muốn ly khai. Đại Thánh Minh hoàng hậu người họ Dương và Lê Ngân Tích là cháu ngoại họ Dương. Có lẽ đó là lý do Lê Hoàn đã không muốn trao ngôi của Ngân Tích. Tuy nhiên một khó khăn xảy ra là Ngân Tích lại bị người ở châu Thạch Hà giết. Đúng lý thì đất châu Hoan và Ái phải là đất của Ngân Tích mới phải ? Ngân Tích phải an toàn ở đó mới đúng ? Câu trả lời có thể là đất bắc trung bộ thời ấy có nhiều thế lực, mà họ Dương chỉ là dòng họ thế lực nhất mà thôi.
* Như thế nói rằng Lê Hoàn không có chút tình riêng thì cũng không phải ? Việc Hoàn định cho Long Đĩnh làm thái tử [có lẽ sau cái chết của Lê Long Thâu năm 1000, Lê Long Đĩnh đã xin Lê Hoàn cho làm thái tử] rõ là có tình riêng, nhưng do phản đối nên cho anh cùng mẹ của Đĩnh là Long Việt làm thái tử. Hoàn cho con của con gái người hầu làm thái tử, vậy Lê Hoàn có phong con của người hầu là hoàng hậu không ? Theo như sách sử thì không ? Có khi nào sách sử chép sai không ? Và quan trọng là người con gái của người hầu này là ai ? Sách Toàn thư chép: “Tân Sửu [năm 1001] Vua thân đi đánh giặc Cử Long, vua cũ là Vệ Vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua kêu trời ba tiếng”. Sách Cương mục thì bàn rằng: Lê Hoàn lợi dụng cơ hội, đã cướp lấy nước người ta, lại không khéo đối đãi chúa cũ, đẩy vào chỗ chết, thế nào mà Toàn chẳng đến chỗ tử vong. Điều trùng hợp là năm Toàn chết cách 1 năm sau cái chết của Đại Thánh Minh hoàng hậu họ Dương, mà chúng ta biết rằng mẹ của Toàn cũng là người họ Dương ? Có khi nào 2 vị phu nhân này có mối quan hệ thân tộc, chính vì thế mà Lê Hoàn không giám ra tay với Đinh Toàn, phải chờ tới khi vợ họ Dương chết mới ra tay ? Nhưng mà, rõ ràng là Lê Hoàn đã có được mọi thứ, thì cần gì hại tới Vệ vương làm gì nữa ? Có lẽ đây chỉ là trùng hợp mà thôi.
Bài Điềm báo thảm trong giấc mơ mẹ vua Lê Trung Tông của tác giả Lê Thái Dũng viết: “Theo dã sử, mẹ của hai vua sau một lần đi cầu tự, lúc trở về cung nằm mơ thấy hai con rồng từ trên trời bay xuống hóa thành hai đứa bé trai tranh nhau mặt trời, một đứa nói: “Ta là anh, sao dám tranh giành với ta?”, đứa bé kia ngần ngừ một lát rồi trao trả mặt trời sau đó quay đi, nhưng suy nghĩ một lát nó chạy lại cầm dao đâm anh gục xuống mà nói: “Mặt trời là của báu của thiên hạ, anh thì anh ta cứ giành cho được”, sau đó cướp lấy mặt trời chạy đi. Bà Diệu Nữ giật mình tỉnh giấc, lòng lo lắng bất an. Ít lâu sau bà có mang, đến năm Quý Mùi (983) sinh một người con trai, nhớ lại giấc mơ rồng giáng hạ mới đặt tên con là Long Việt; năm Bính Tuất (986) sinh thêm một người con trai nữa đặt tên là Lê Long Đĩnh. Hai người con sau này đều làm vua, đó chính là Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều, và bi kịch em giết anh cướp ngôi đã diễn ra đúng như trong giấc mộng năm xưa của người mẹ”.
Tống sử chép: “Cảnh Đức năm thứ nhất [1001] sai con là Thứ sử Hoan Châu Minh Đề sang cống (…) Năm thứ ba [1006] Hoàn chết, lập con giữa là Long Việt (…) Em là Long Đình sát hại Long Việt, tự lập làm vua (…) Năm thứ tư Long Đình xưng quyền An Nam Tĩnh Hải quân lưu hậu, khiển em là Phong Châu thứ sử Minh Sưởng, phó sứ An Nam Chưởng thư ký điện trung thừa Hoàng Thành Nhã cùng vào cống (…) Chí Trung vừa hai mươi sáu tuổi, bạo nguợc không có phép độ, người trong nước không theo. Viên Đại hiệu Lí Công Uẩn đặc biệt làm người thân cận của Chí Trung, từng lệnh cho Công Uẩn mang họ Lê. Năm đó [1010] liền bắt giữ Chí Trung, đuổi đi, giết bọn Minh Đề, Minh Xưởng, tự xưng Lưu hậu, sai sứ cống nạp. 
Tục tư trị thông giám: “Lê Chí Trung của Giao Châu bạo ngược, người trong nước không theo, viên Đại hiệu Lí Công Uẩn là người thân cận của Chí Trung, bèn đuổi Chí Trung ra thành mà giết đi. Hai em của Chí Trung là Minh Đề, Minh Xưởng tranh ngôi, Công Uẩn lại giết họ, tự xưng Lưu hậu, sai sứ cống nạp”. 
Sách Toàn chư chép: “Sách Địa chí bản cũ chép vua băng vào năm Bính Ngọ [1006] đó là lấy khi Ngoạ Triều xin mệnh [nhà Tống] mà chép, không phải là thực. Nay theo Lê Văn Hưu là đúng”.
* Đúng như sách Toàn thư chép. Tống sử chép năm Lê Hoàn mất sau 1 năm so với sách sử Việt Nam. Cũng theo Tống sử năm Chí Trung [Lê Long Đĩnh] chết là năm 1010, khi ấy Ngoạ Triều 26 tuổi. Vậy Ngoạ Triều sinh năm 985. Tức là sai lệch so với sách Toàn thư 1 năm. Chúng ta có thể biết được mẹ của Long Việt và Ngoạ Triều không ? Sách Toàn thư chép: “Vua trừ nội gian mà lấy được nước, đuổi giặc ngoài để yên dân, trong nước thanh bình, bắc nam vô sự, tiếc rằng không sớm chọn con nối, khiến cho con cái tranh nhau bên trong, dẫn đến mất ngôi, về đạo vợ chồng có nhiều điều đáng thẹn”. Vua trừ nội gian vậy nội gian là ai ? Chắc không phải là Đỗ Thích rồi, vì Thích do Nguyễn Bặc giết ? Không lẽ là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp ? Vì sách Toàn thư cũng chép: “Khi Điền và Bặc cất quân, Thái hậu nghe tin, lo sợ bảo Hoàn rằng: Bọn Bặc dấy quân khởi loạn làm kinh động nước nhà ta”. Còn việc đạo vợ chồng có điều đáng thẹn là các sử gia muốn nói về điều gì ? Phải chăng là chuyện Hoàn lập tới 5 vợ ? Trước đó Ngô Quyền rồi Đinh Bộ Lĩnh đều có nhiều hơn 1 vợ. Có lẽ các sử gia muốn nói tới chuyện Hoàn thông dâm với Dương thị vợ của Bộ Lĩnh hoặc là cả chuyện hoàng có mối tư tình với con gái của người hầu ? Sách Cương mục chép: “Thái Hậu, con gái quan chi hậu tên là Diệu, không rõ họ là gì”. Đây là thông tin khá thú vị, chỉ tiếc rằng thông tin này cách sự kiện quá xa và lại không thấy dẫn nguồn sử ghi chép, nên ở đây tôi chỉ đặt ra giả thuyết, không giám kết luận: Nếu đúng Long Việt thọ 25 tuổi như Việt sử lược, thì Trung Tông sinh năm 981, vậy Hoàn phải quan hệ với con gái của quan chi hậu trước năm 981. Có 3 thời điểm khá thú vị giai đoạn này là mùa đông năm 979, năm 980 và mùa xuân năm 981. Thời điểm Hoàn có quan hệ với người con gái của quan chi hậu là rất quan trọng, tuy nhiên chúng ta không thể xác định, căn cứ duy nhất là 1 căn cứ rất yếu, đó là Lê Hoàn có rất nhiều con, nghĩa là Lê Hoàn không cần tư tình trong thời gian dài mới có thể sinh Long Việt, nói cách khác, có thể thời điểm Lê Hoàn có quan hệ với con gái của quan chi hậu là trong năm 980 xảy ra cao nhất, khi ấy Hoàn là Phó vương, lại nắm giữ quân đội. Cũng không loại trừ Hoàn có mối quan hệ lén lút từ trước năm 980, như vậy thì khả năng rất cao, quan chi hậu ở đây là Đỗ Thích và như thế sự lén lút này của Hoàn khiến người ngoài nghi ngờ rằng Hoàn có mối quan hệ với vợ của Đinh Bộ Lĩnh. Và tất nhiên việc Đỗ Thích có mặt tại hiện trường vụ ám sát Đinh Liễn không phải là ngẫu nhiên, cũng có lẽ vì mối quan hệ đặc biệt này mà Hoàn có tư thù với Nguyễn Bặc, người đã giết cha của người tình của Lê Hoàn và cũng có thể vì món nợ này mà sau Lê Hoàn rất ưu ái con gái và cháu ngoại của quan chi hậu Đỗ Thích. Nhưng đó chỉ là giả thuyết, thực sự rất yếu bởi nếu bà Diệu là con gái của Đỗ Thích, một nhân vật biết rõ tên tuổi, quê quán, quá trình tiến thân thì không có lý gì các sử gia không biết về bà, hơn thế nữa sau án giết vua, thì việc người thân của Đỗ Thích bị giết cũng không khó hiểu, vậy thì rất khó để bà Diệu sống sót được để mà sinh Lê Long Đĩnh năm 985, trừ khi Lê Hoàn che giấu, bảo vệ người tình, nhưng nếu thế sử sách cũng phải chép lại chứ sao lại không có dòng nào ?
* Một nhân vật quan chi hậu nữa được sử sách chép lại trong quãng thời gian này là Đào Cam Mộc. Sách Toàn thư chép: “Kỷ Dậu [1009] Khi ấy Chi hậu là Đào Cam Mộc dò biết Công Uẩn có muốn nhận việc truyền ngôi, mới nhân lúc vắng mà nói khích rằng: Gần đây chúa thượng ngu tối bạo ngược, làm nhiều việc bất nghĩa, trời chán ghét nên không cho hết thọ, con nối thơ ấu, không kham nổi nhiều việc khó khăn. Mọi việc phiền nhiễu thần linh, dân chúng nháo nhác, mong tím chân chúa. Sao Thân vệ không nhân lúc này nghĩ ra mưu cao, quyết đoán sáng suốt, trên thuận lòng trời, dưới theo ý dân, mà cứ khư khư giữ tiểu tiết làm gì”. Bà Diệu có phải là con gái của Đào Cam Mộc hay không ? Nếu như phải thì Lê Ngoạ Triều là cháu ngoại của Cam Mộc, nếu vậy thì Cam Mộc phải giữ ngôi vị hoàng đế cho con của Ngoạ Triều là Sạ mới phải ? Sách Toàn thư chép: “Công Uẩn trong lòng thích lời nói đó, nhưng còn ngờ Cam Mộc có ý khác, mới giả cách mắng rằng: Sao ông lại nói thế, tôi phải bắt ông nộp quan (…) Cam Mộc thong thả bảo Công Uẩn rằng: Tôi thấy thiên thời nhân sự như thế, cho nên mới dám phát ngôn. Nay ông muốn cáo giác tôi, tôi không phải là người sợ chết (…) Công Uẩn nói: Tôi đâu nỡ cáo giác ông, chỉ sợ lời nói tiết lộ ra thì chết ráo (…) Hôm sau Cam Mộc lại bảo Công Uẩn: Thân vệ còn nghi ngại gì nữa (…) Công Uẩn nói: Tôi hiểu ý ông, không khác gì ý của thầy Vạn Hạnh, nếu thực như lời ấy phải tính thế nào (…) Cam Mộc biết việc cần kíp, sợ sinh biến, mới nói chuyện với các khanh sĩ và các quan, ai cũng vui theo. Ngay ngày hôm ấy, điều họp cả ở trong triều (…) thế rồi cùng dìu Công Uẩn lên chính điện, lập làm thiên tử, lên ngôi hoàng đế”. Rõ ràng là Cam Mộc có ý phụ tá Công Uẩn lên ngôi! Chúng ta hiện chỉ xác định được 3 người hoàng hậu của Lê Hoàn, còn 2 vị nữa là Phụng Càn Chí Lý Hoàng Hậu và Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng Hậu là chưa xác định được thân thế. Liệu bà Diệu có phải là 1 trong 2 bà này không ? Rất là khó, vì nếu vậy sử sách hẳn đã ghi chép. Vậy là Lê Hoàn đã không phong người tình của mình làm hoàng hậu. Thế thì rất khó để phong cho cha vợ chức tước lớn trong triều. Nhưng Ngoạ Triều thì lại phong cho mẹ làm Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái Hậu. Vậy thì Ngoạ Triều cũng không ngần ngại phong cho ông ngoại chức tước quan trọng, chứ không lý gì chỉ để giữ chức Chi hậu [chức hầu cận nhà vua] Tuy nhiên chúng ta lại thấy ở đây, một quan chi hậu nhỏ bé lại có 1 vai trò quan trọng, Cam Mộc là người nói với Công Uẩn nên lên ngôi, sau đó lại chính Cam Mộc kêu gọi, họp bàn với các quan để đưa Công Uẩn lên ngôi. Rõ ràng một quan chi hậu không đủ sức làm việc ấy. Như sách Toàn thư chép về sự đối đãi của Công Uẩn đối với Cam Mộc, chúng ta sẽ thấy hết tầm quan trọng của Mộc: “Kỷ Dậu [1009] Gả con gái trưởng là công chúa An Quốc cho Đào Cam Mộc, phong Cam Mộc là Nghĩa Tín Hầu”. Đây không hẳn là sự ghi công, vì nếu là ghi công thì chỉ cần phong là Nghĩa tín hầu là đã đủ, việc gả công chúa trưởng cho Cam Mộc có phải bắt đầu từ tình yêu ? Sách Toàn thư chép: “Ất Mão [1015] Đào Cam Mộc chết, tặng Thái sư á vương”. Khi kết hôn với công chúa An Quốc, có lẽ Cam Mộc đã rất nhiều tuổi, nên cuộc hôn nhân này cần phải xem xét dưới góc độ mối quan hệ giữa các dòng họ.
Sách Toàn thư chép: “Tân Mão [991] Mùa xuân tháng 2 sai Đào Cần sang nhà Tống đáp lễ (…) Kỷ Dậu [1009] Phong Đào Thạc Phụ làm Thái bảo (…) Tân Hợi [1011] Mùa hạ tháng 4 sai viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn sang thăm nước Tống để đáp lễ (…) Mậu Thìn [1028] Lấy Đào Xử Trung làm Thái bảo (…) Đào Văn Lôi làm Tả phúc tâm (…) Quý Dậu [1033] Châu Định Nguyên làm phản. Tháng 2 vua thân đi đánh, cho Đông cung thái tử giám quốc. Mồng 8 quân đi từ Kinh sư, đóng lại ở châu Chân Đăng [Vĩnh Phú] có người đàn bà họ Đào dâng con gái, vua nhận cho làm phi”.
Rõ ràng là họ Đào rất có thế lực ở đất Phong Châu. Nhưng câu chuyện chỉ có thế ? Sách Toàn thư chép: “Canh Tuất [1010] Mùa xuân tháng 2 xa giá về châu Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bô lão trong làng (…) Sai viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống để kết hảo. Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ chỗ ở của đế vương, muốn di dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: “Ngày xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến Thành vương 3 lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng (…) cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể dời đô. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào”. Trong việc dời đô này, ngoài cái vị thế mà vua Lý cho thấy qua Chiếu, còn có nguyên do của tình hình chính trị thời điểm đó. Vua Lê Hoàn có nhiều người con trai, sau cái chết của ngài, các con đã tranh ngôi, khiến đất nước khói lửa suốt 8 tháng, khi Lê Long Đĩnh lên ngôi thì cũng thân chinh đi dẹp loạn ở khắp nơi, sau cái chết của Ngoạ Triều nước Việt thực khổ sở. Công Uẩn lúc này giữ binh lực, có thầy Vạn Hạnh ủng hộ, lại là con rể của vua Lê Hoàn nên nhận ngôi vị hoàng đế, thế nhưng thế lực họ Lê còn rất mạnh, không những thế những thế lực ở đất Hoa Lư như họ Nguyễn, họ Đinh vẫn còn đương mạnh. Trong thế ấy phương án tốt cho Công Uẩn là dời đô về Đại La, nơi mà họ Lý rất mạnh. Tuy nhiên họ Lý không phải là độc tôn ở vùng Đại La, phía bắc có họ Đào họ Thân, phía đông có họ Đỗ và như chúng ta đã thấy vua Lý đã ứng biến mối quan hệ giữa các dòng họ thông qua hôn nhân như thế nào.
* Trong bài Bàn về thân thế của Lý Công Uẩn tôi có đưa ra bằng chứng cho thấy Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp, còn thông tin Công Uẩn là người Mân chỉ là tin đồn. Chúng ta có thể xác định rõ hơn thân thế của ngài Công Uẩn không ? Sách sử đều chép rằng: Mẹ ngài người họ Phạm. Sách Toàn thư thì chép rằng: “Kỷ Mão [979] Điền, Bặc đã chết, quân Phạm Hạp mất hết khí thế, tan chạy về hương Cát Lợi ở Bắc Giang. Hoàn dẫn quân đuổi theo, bắt sống được Hạp đem về Kinh sư”. Sách Việt sử lược thì không thấy chép về Phạm Hạp chống lại Lê Hoàn. Sách Cương mục chép: “Kỷ Mão [979] Nguyễn Bặc, Đinh Điễn đã chết rồi, quân của Phạm Hạp mất tinh thần, chạy lên Bắc Giang, Lê Hoàn đưa quân đuổi theo, bắt đưa về kinh đô, giết chết (…) Phạm Hạp người Nam Sách (…) Canh Thìn [980] Dương hậu sai Lê Hoàn lựa tuyển dũng sĩ để kháng chiến, cho Phạm Cự Lạng Phạm làm Đại tướng quân (…) Cự Lạng em Phạm Hạp”. Vậy là sách Toàn thư và sách Cương mục chép sai khác nhau ở tình tiết, Phạp Hạp bị giết. Có 2 câu hỏi quan trọng ở đây ? Thứ nhất Phạm Cự Lạng được làm Đại tướng quân, cho thấy đó là người rất giỏi và rất có thể lực ở phía đông, Lạng là em của Hạp vậy thì vì sao khi thua Hạp không chạy về Nam Sách để nương nhờ em trai mà lại chạy về Bắc Giang. Thứ hai nếu Lạng đúng là em của Hạp thì vì sao Lạng lại đầu quân cho Lê Hoàn người giết anh trai của mình ? Có lẽ sách Toàn thư chép đúng, Hoàn bắt được Hạp nhưng không giết, ngược lại, Hoàn muốn nhân đó mà thu phục em trai của Hạp là Cự Lạng. Phạm Hạp và Cự Lang cũng chưa hẳn là anh em ruột, mà có thể là anh em họ. Vùng ảnh hưởng của họ Phạm ở mạn phía đông và phía đông bắc, trong đó Cự Lạng làm chủ vùng phía đông, còn Phạm Hạp làm chủ vùng phía đông bắc [Tôi ngờ rằng: Phạm Hạp là con của Phạm Bạch Hổ] Câu hỏi thêm là bà Phạm thị mẹ của Lý Công Uẩn có mối quan hệ thân tộc với Phạm Hạp hay không ? Thời điểm của loạn sứ quân, họ Lý mà tiêu biểu là sứ quân Lý Khuê chiếm giữ vùng Siêu Loại ngay sát với Đằng Châu, căn cứ của sứ quân Phạm Bạch Hổ là đại diện sức mạnh của họ Phạm. Việc 2 dòng họ lớn ở sát bên nhau hẳn sẽ hình thành những cuộc hôn nhân mang tính chất chính trị.
Sách Toàn thư chép: “Thái Tổ Hoàng Đế. Họ Lý, tên huý là Công Uẩn. Người châu Cổ Pháp Bắc Giang, mẹ họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn [Trường Liêu] cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5 [974] thời Đinh (…) Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi (…) Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy khen rằng: Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rồi, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”. Sách Việt sử lược chép: “Vua Thái Tổ tên huý là Uẩn, họ Nguyễn [Lý] người ở Cổ Pháp thuộc Bắc Giang. Mẹ là người họ Phạm, sinh ra ngài vào ngày 17 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Thái Bình (…) Lúc nhỏ, vua thông minh, tính khi khôi hoạt rộng rãi. Tới học ở chùa Lục Tổ thiền sư Vạn Hạnh thấy cho là khác lạ”. Sách Cương mục chép: “Công Uẩn người làng Cổ Pháp, thuộc Bắc Giang, tư chất thông sáng, hình dạng tuấn tú khác đời. Khi còn nhỏ thường học nhà sư Vạn Hạnh (…) Mẹ ngài là Phạm thị, đi chùa Tiêu Sơn, gặp thần nhân giao cấu, do đấy có thai, sinh ngài năm Giáp Tuất, Thái Bình thứ 5 đời Đinh. Khi ngài lên 3 tuổi, sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn nuôi làm con, nhân đấy lấy theo họ Lý”. Sách Việt sử tiêu án chép: “Ngoại truyện lại nói: Mẹ vua năm 20 tuổi nghèo hèn không có chồng, nương tựa người lão Sa môn ở chùa Ứng Thiên, làm việc thổi nấu, khi lửa tắt và bà đang lơ mơ ngủ, lão Sa môn ngẫu nhiên chạm phải, giật mình trở dậy rồi cho thai mà sinh ra vua”.
* Chúng ta thấy rằng sách sử chép sai khác vài điểm, sách Việt sử lược chỉ chép về mẹ của vua Lý người họ Phạm, không thấy nhắc đến Lý Khánh Văn, trong khi sách Toàn thư thì chép thêm về Khánh Văn. Câu hỏi là thông tin về Khánh Văn sách Toàn thư lấy ở đâu ? Có phải từ Lê Văn Hưu hay từ những thông tin dã sử ? Sách Toàn thư chép rằng khi Công Uẩn được 3 tuổi, bà Phạm thị mang tới nhà của Lý Khánh Văn, trong khi sách Cương mục xác định rõ hơn, Lý Khánh Văn là thiền sư chùa Cổ Pháp. Không rõ sách Cương mục dựa vào đâu để xác định thông tin này. Trong khi sách Toàn thư chép rằng bà Phạm thị mang Công Uẩn tới nhà Lý Khánh Văn, thì nghĩa là Khánh Văn không phải là thiền sư và quan trọng hơn, vì sao bà lại đem con mình tới gặp Lý Khánh Văn ? Các sách Toàn thư và Cương mục đều xác nhận rằng vua Lý là con của bà Phạm thị với Thần nhân, nhưng đây chỉ là cách làm đẹp hình ảnh vua Lý, trong khi sách Việt sử lược thì không chép việc bà Phạm thị có mối quan hệ với thần nhân, thêm nữa đến Ngô Thì Sĩ chép Việt sử tiêu án lại thu thập được thông tin từ dã sử viết rằng: Mẹ của Công Uẩn là người phụ nữ nghèo khó, thổi nấu cho nhà chùa, bị thầy Sa môn chạm vào mà có bầu. Chúng ta thấy rằng thông tin về vua Lý Công Uẩn luôn luôn được gia thêm theo thời gian, sách Việt sử lược chép ngài là con bà Phạm thị, sách Toàn thư gia thêm bà Phạm thị có thai với thần nhân và xuất hiện nhân vật bố nuôi là Lý Khánh Văn, sách Việt sử tiêu án gia thêm bà Phạm thị có bầu do lão Sa môn trong chùa chạm phại, cho đến sách Cương mục thì Quốc sử quán triều Nguyễn đã phải chép rằng: Không thể khảo được cứ tạm chép lại. Sách Cương mục lúng túng trước rất nhiều thông tin sử và phải đặt câu hỏi: Không biết Lý Công Uẩn phong cho cha là Hiển Khánh Vương là cha nào ? Cha đẻ hay cha nuôi. Thế nhưng nếu chúng ta bám sát vào Việt sử lược thì sẽ nhận thấy ngay, trong tư duy của tác giả, Hiển Khánh Vương phải là cha đẻ của Lý Công Uẩn, vì tác giả không hề biết tới sự tồn tại của cha nuôi Lý Khánh Văn và tất nhiên Võ Oai Vương, Dực Thái Vương đều là người thân ruột thịt của vua Lý. Mọi sự có lẽ chỉ đơn giản là cha đẻ của Lý Công Uẩn mất sớm, không mấy người biết tên tuổi, rồi lại thêm kỵ uý nên chẳng khi nào nhắc tới tên cúng cơm, thành ra các sử gia không biết tới mà chép lại. Sách Toàn thư chép: “Phong cho con Vũ Uy Vương là Trưng Hiển làm thái uý”. Tống sử chép: “Năm Thiên Thánh thứ 6 [1028] sai Hoan Châu thứ sử Lý Công Hiển vào cống”. Nhân vật Công Hiển này rất có thể là Trưng Hiển, nếu vậy ngay như sử phương bắc cũng xác nhận nhân vật này mang họ Lý. Vậy thì họ hàng của Lý Công Uẩn gồm: anh vua làm Vũ Uy Vương [người mang sư Vạn Hạnh đi giấu] chú vua làm Vũ Đạo Vương, em vua làm Dực Thánh Vương đều mang họ Lý. Ngay như bài văn trên bông gạo bị sét đánh trong 2 sách Việt sử lược và Toàn thư đã cho thấy sự khác nhau khá thú vị. Trong sách Toàn thư có chép nhiều hơn 2 câu là “Đông A nhập địa / Mộc dị tái sinh”. Sư Vạn Hạnh tự đoán rằng: “Đông A là chữ Trần, nhập địa là phương bắc vào cướp, Mộc dị tái sinh là họ Lê khác lại sinh ra”. Rõ ràng người chép sử Toàn thư phải sống thời Hậu Lê. Trong khi sách Việt sử lược chỉ dừng lại ở “Thập bát tử là chữ Lý”. Nghĩa là người chép sử sống thời Lý hoặc nếu không thì người chép sử cũng chép đúng nguyên bản, mà tác giả của nguyên bản sống thời Lý. Thế để thấy rằng Ngô Sĩ Liên đã thu thập các thông tin từ dã sử để chép vào sách Toàn thư, không chỉ có thế tôi ngờ rằng những thông tin từ dã sử mà Sĩ Liên thu thập, được sáng tạo, cũng cách không xa thời của Sĩ Liên sống là bao. Hoặc ít nhất là chúng ta cũng có bằng chứng để ngờ rằng Sĩ Liên đã không chép đúng như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Tôi cho rằng: sử gia Lê Văn Hưu không có thông tin về cha đẻ của Lý Công Uẩn, việc này khiến cho người đời sau đã sáng tạo nêu câu chuyện bà Phạm thị có thai với Thần nhân và để giải thích cho việc Công Uẩn mang họ Lý thì dân gian tiếp tục sáng tạo ra nhân vật Lý Khánh Văn nhận nuôi Công Uẩn, để từ đó Uẩn mang họ Lý. Nhưng việc Công Uẩn lên 7 tuổi tới học thầy Vạn Hạnh thì có thể tin được.
* Sách Toàn thư chép: “Kỷ Dậu [979] Truy phong cha là Hiển Khánh Vương, mẹ là Minh Đức Thái Hậu. Lê Văn Hưu nói: Lý Thái Tổ ta đã xưng đế mà truy phong cha là Hiển Khánh Vương, bấy giờ lễ quan không biết cải chính, thế là tự ti vậy (…) Canh Tuất [1010] Lê Văn Hưu nói: Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho lằm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chứng nào mà kể (…) Mậu Ngọ [1018] Mùa xuân tháng 2 truy phong bà nội làm hậu và đặt tên thuỵ. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vua đến đây mới truy phong cho bà nội, đó là lỗi chậm trễ (…) Kỷ Mùi [1019] Mùa xuân tháng giêng dựng Thái Miếu ở phủ Thiên Đức”. Chúng ta thấy rằng: Lý Công Uẩn xưng đế mà chỉ truy phong cha làm vương, liền bị Lê Văn Hưu phê, vậy mà mãi tới năm 1018 vua mới truy phong cho bà nội mà không thấy Lê Văn Hưu phê, mà chỉ thấy Ngô Sĩ Liên phê. Vì sao chúng ta đoán được rằng Lê Văn Hưu không phê, ấy là vì nếu Lê Văn Hưu phê thì thường Ngô Sĩ Liên sẽ chép lại lời phê ấy, chỉ khi nào Sĩ Liên có ý khác thì mới chép rõ cả 2 lời phê. Trong trường hợp của mục năm 1018, Lê Văn Hưu không phê ? Hay Lê Văn Hưu không biết ? Nghĩa là thông tin vua Lý truy phong cho bà nội là do sử gia Ngô Sĩ Liên thu thập và chép vào ? Lê Văn Hưu phê rằng vua Lý Thái Tổ lên ngôi được 2 năm mà tông miếu chưa dựng lại đi dựng chùa khắp nơi, có lẽ Lê Văn Hưu không hình dung ra hoàn cảnh của vua Lý Công Uẩn thời điểm đó. Vua lên ngôi trong lo lắng, rồi ngay sau đó là dời đô về đất mới, các thế lực ở khắp nơi nổi lên, vua mà cứ khư khư lấy cho mình, không tung tiền ra để dựng chùa, nhằm xoa dịu các thế lực thì e là họ Lý không truyền được 8 đời. Lê Văn Hưu phê không đúng vì không ở trong hoàn cảnh của ngài Công Uẩn, Ngô Sĩ Liên chỉ xem chiếu dời đô trong đối chiếu với nhà Thương, nhà Chu mà không thấy cái nguy của Công Uẩn nơi cố đô Hoa Lư, nhắc lại việc này để đặt câu hỏi cho chúng ta hiện tại: Chúng ta có thể nhìn về quá khứ với vị trí hiện tại không ? Tất nhiên là có, nhưng rõ ràng đó không bao giờ là cái nhìn công bằng đối với tiền nhân, chúng ta phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử của họ mới có thể bình. Chúng ta cứ tranh luận hoài về công tội của nhà Nguyễn mà không biết rằng lịch sử có nhiều hơn 2 khái niệm công và tội, thay vì chúng ta hỏi triều Nguyễn có công hay có tội, tốt hay xấu thì chúng ta cần đặt thêm câu hỏi rằng các chính sách của nhà Nguyễn có là hợp lý với hoàn cảnh hay không ? Ngay như việc bàn công tội chúng ta đã không công bằng, chúng ta chỉ biết vua Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà mà không biết vua Hàm Nghi chống Pháp phải đi đày. Vậy nên sẽ công bằng hơn nếu chúng ta bàn thật rõ rằng vị vua ấy của triều đại ấy trong quãng thời gian ấy rơi vào hoàn cảnh ấy và cuối cùng hành động như vậy. Không nên chỉ vì vua Nguyễn Ánh mà cho rằng cả nhà Nguyễn là cõng rắn cắn gà nhà, đó chẳng khác gì chuyện thầy bói xem voi. Và tất nhiên là bao gồm cả chiều ngược lại.
* Trở lại với họ Lê. Sau cái chết của Lê Hoàn, các vương hầu tranh ngôi, cuối cùng thì Lê Long Việt chiến thắng, lúc này Lý Công Uẩn đang theo giúp Lê Trung Tông. Sự kiện em trai cùng mẹ Lê Long Đĩnh sai người trèo tường lẻn vào cung lúc nửa đêm để hành thích Trung Tông và sau đó là sự kiện các quan lại sự hãi bỏ chạy, chỉ có Công Uẩn ôm xác Trung Tông mà khóc, Lê Long Đĩnh cho là trung nên phong chức, đã hình thành dấu hỏi: Cái chết của Trung Tông có liên quan tới Lý Công Uẩn hay không ? Nhất là sau này dưới triều đại Lê Ngoại Triều, Công Uẩn là 1 đại thần thân tín. Sách Toàn thư chép: “Vua [Trung Tông] không biết phòng giữ từ khi mới chớm, đến nỗi bị hoạ nạn, tính nhân hậu nhưng không biết làm vua, tiếc thay (…) Sau khi Đại Hành Hoàng Đế băng, vua cùng hai vương Đông Thành, Trung Quốc và em cùng mẹ là Khai Minh vương tranh ngôi, giằng co 8 tháng, trong nước không có chủ (…) Cam Mộc nói: “Thân vệ [Công Uẩn] là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo (…) Công Uẩn lên chính điện, lập làm thiên tử, lên ngôi hoàng đế (…) Đại xá cho thiên hạ (…) Đốt giềng lưới, bãi ngục tụng, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bầy, vua thân xét quyết (…) Vua [Công Uẩn] ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hoà nhã, có lượng đế vương (…) Hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát phải sửa chữa lại (…) Đại xá các thuế khoá cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, goá chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả. Cắt áo quần, lương thực thuốc men cho 28 người lính man bị Ngoạ Triều bắt, sai người đưa về quê cũ (…) Sách phong Hoàng thái tử Phật Mã làm Khai Thiên Vương, làm cung Long Đức ở ngoài thành cho ở, ý muốn thái tử hiểu biết mọi việc của dân”. Rõ ràng Lý Công Uẩn là con nhà phật nên việc các quan lại bỏ trốn hết, chỉ có Công Uẩn ôm xác vua mà khóc, rất khó là diễn trò, lòng trung là thật.
Sách Toàn thư chép: “Ất Tỵ [1005] Mùa đông vua [Ngoạ Triều] cướp ngôi, tôn hiệu là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Vân Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế [Sách Việt sử lược chép: Khai thiên ứng vận thánh thần võ tắc sùng đạo đại thăng minh quang hiếu hoàng đế] Lập bốn hoàng hậu. Ngự Bắc vương cùng với Trung Quốc vương chiếm trại Phù Lan làm phản. Vua thân đi đánh. Đến Đằng Châu  (…) Lê Hấp Ni làm phản. Vua sai bắt tra hỏi, Hấp Ni và những kẻ dự mưu 12 người đều bị giết (…) Chém Trung Quốc vương (…) rồi đem quân đánh Ngự Man vương ở Phong Châu (…) thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Đầu, vua về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long (…) Bính Ngọ [1006] Hành Quân vương Minh Đề thấy trong nước loạn không thể về được, trú lại ở Quảng Châu (…) Mùa hạ tháng 6, trí Quảng Châu là Lãng Sách dâng thư nói: “Nay nhân Giao Châu có loạn (…) xin lấy binh (…) thuỷ bộ cùng tiến, có thể bình định được ngay”. Xuống chiếu cho bọn Sách vỗ yên như trước, cốt được yên lặng. Minh Đề về, Thiệu Việp muốn nhân đó lấy nước Việt ta, mới dâng bản đồ đường thuỷ, đường bộ từ Ung Châu đến Giao Châu. Vua Tống cho các cận thần xem và nói rằng: “Giao Châu nhiều lam chường dịch lệ, nếu đem quân sáng đánh thì chết tất nhiều, nên cẩn thận giữ gìn cõi đất của tổ tông mà thôi”. Đinh Mùi [1007] Mùa xuân sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng (…) Mậu Thân [1008] Vua thân đi đánh 2 châu Đô Lương, Vị Long bắt được người Man (…) Kỷ Dậu [1009] Mùa xuân Minh Xưởng ở Tống về , xin được kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu thị đem dâng. Vua thu nạp làm cung nhân. Sai sứ đem biếu nhà Tống con tê ngưu thuần. Vua Tống cho tê ngưu từ xa đến, không hợp thuỷ thổ muốn trả lại, nhưng sợ trái ý vua, sai đợi cho sứ nước ta về rồi thả ra biển. Vua lại sai xin áo giáo mũ trụ giát vàng, vua Tống bằng lòng cho (…) Mùa thu tháng 7 vua thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà (…) Mùa đông tháng 10 vua băng ở tẩm điện”.
* Theo như Tống sử và Tục tư trị thông giám thì Minh Đề và Minh Xưởng là 2 người. Theo sách Toàn thư thì Lê Long Đĩnh là người hiếu chiến, sau khi lên ngôi Ngoạ Triều đã thân đi đánh dẹp khắp nơi, có lẽ vì thế mà xuất hiện tiếng đồn Đĩnh là người tàn bạo. Phương bắc luôn muốn thu thập phương nam, tuy nhiên trong tình thế của Đại Tống thì chính sách hợp lý với An Nam là vỗ yên như trước cốt được êm lặng. Thế nhưng tài giỏi như Lê Hoàn, phía bắc chống Tống phía nam bình Chiêm, mà còn có phần kiêng nể bắc triều, trong khi Long Đĩnh có phần tự tin. Phần tự tin trước hết là xin cha cho làm thái tử, có lẽ trong những người con của Lê Hoàn, Ngoạ Triều là người hùng dũng giống Lê Hoàn nhất, nên được vua yêu quý, định cho làm thái tử. Long Đĩnh càng tự tin hơn khi thân đi đánh dẹp được các thế lực chống đối, có lẽ chính những tự tin quá mức đã trở thành tự phụ này, Lê Ngoạ Triều đã xin triều Tống ban cho áo giáp mũ trụ giát vàng, vua Tống bằng long cho, tuy nhiên không khỏi gây ra sự khó chịu cho phương bắc. Sử phương bắc thì chép rằng: Ngoạ Triều bạo ngược, lòng người không theo, Lý Công Uẩn nhân đó mà đuổi đi rồi giết chết, cái chết mờ ám của Long Đĩnh trong tẩm cung tất nhiên gây ra nhiều mối nghi ngờ, trong đó Công Uẩn là người bị hướng đến. Thế nhưng hiện không có bằng chứng nào cho mối nghi ngờ này. Công Uẩn bây giờ là thân tín của Ngoạ Triều, nếu Ngoạ Triều có mất thì Công Uẩn là người thiệt trước mắt. Sách Toàn thư chép: “Đến khi Ngoạ Triều băng, vua nối còn bé, Công Uẩn cùng với Hữu điện tiền chỉ huy sứ là Nguyễn Đê mỗi người được đem 500 quân tuỳ long vào làm túc vệ”. Rõ ràng là Công Uẩn không nắm toàn bộ quân đội nhà Lê, vậy thì viết như sử phương bắc là Công Uẩn đuổi Ngoạ Triều đi rất khó xảy ra. Thêm nữa, khi sư Vạn Hạnh hỏi rằng vì sao Thân vệ không nhân cái chết của tiên chủ mà giành ngôi, Công Uẩn đã sợ hãi mà giấu Vạn Hạnh đi, cùng như khi Cam Mộc có hỏi Công Uẩn sao không lên ngôi, vua Lý còn ngờ rằng Cam Mộc hỏi dò và sợ sự việc tiết lộ ra thì khó thoát chết. Như vậy rõ ràng là Lý Công Uẩn không phải là tột đỉnh quyền lực dưới triều Lê, hoạ chăng là thân tín của vua Ngoạ Triều, là người có được nhân tâm và chỉ là tướng quân nắm giữ 1 phần quân đội nhà Lê mà thôi. Với mức độ như vậy thì rất khó để Lý Công Uẩn lập kế hoạch giết hại vua Ngoạ Triệu, vì nếu Long Đĩnh chết, con của Đĩnh nối ngôi, các đại thần và các tướng lĩnh nắm giữ quân đội không theo Công Uẩn thì kế hoạch coi như bỏ dở. Trừ khi Công Uẩn và sư Vạn Hạnh đã bàn tính kỹ, cuộc mưu sát có sự tham gia của rất nhiều tướng lĩnh nắm giữ quân đội và các quan đại thần tham dự, thế nhưng những thông tin sử lại cho chúng ta điều ngược lại, đến lúc vua Ngoạ Triều băng mà chi hậu Đào Cam Mộc mới hỏi dò Công Uẩn về ý định lên ngôi, cho thấy Cam Mộc tuyệt không biết gì kế hoạch ám sát vua, thêm nữa khi Cam Mộc và Công Uẩn đã hiểu nhau thì lại chính là Cam Mộc đứng ra bàn với các đại thần, vậy thì rõ là các đại thần và khanh sĩ cũng không biết gì về kế hoạch mưu sát vua. Tuy nhiên có 2 khó khăn mà chúng ta vẫn cần đề cập tới là: Trước hết chắc chắn mong muốn lên ngôi của Công Uẩn đã phát lộ ra thì Cam Mộc mới dò biết được, vậy thì sau khi Long Đĩnh chết, tin đồn Công Uẩn có ý lên ngôi đã xuất hiện và có lẽ nguồn tin này khởi phát từ thầy Vạn Hạnh, nói cách khác đây là bằng chứng cho thấy thầy Vạn Hạnh đã khởi động cuộc vận động chính trị nhằm đưa Công Uẩn lên ngôi. Sau cùng không loại trừ trường hợp những thông tin sử bị chép sai.
* Nếu như không có kế hoạch mưu sát Lê Long Đĩnh vậy thì Ngoạ Triều chết như thế nào ? Ngoạ Triều có thể là người khoẻ mạnh, 3 tháng trước Long Đĩnh còn thân đi đánh 2 châu Hoan Đường, Thạch Hà. Có khi nào vua ốm không ? Sách sử không hề chép đến ? Sách Toàn thư chép rằng: Vua say đắm tửu sắc lại chết trong phòng ngủ. Vậy có khi nào vua chết khi đang ân ái hay không ? Sử phương bắc và sử phương nam chép cũng có khác nhau ở chi tiết, sau cái chết của Long Đĩnh, theo sử phương nam, mọi sự đều yên tuy nhiên theo sử phương bắc thì em của Long Đĩnh là Minh Đề và Minh Xưởng tranh ngôi, Công Uẩn giết đi. Thế nhưng sử phương bắc chỉ nhắc tới 2 người em mà người phương bắc biết tới họ, qua những lần đi sứ, không thấy nhắc tới người em nào khác, như vậy hoặc là đúng như sử phương bắc chép, chỉ có 2 người em tranh ngôi hoặc sử gia phương bắc không biết nhiều thông tin về An Nam. Thêm nữa khi Lê Hoàn băng, các con trai tranh ngôi, phương bắc biết An Nam loạn bởi các con trai của Lê Hoàn nhưng lại biết thông qua Hoàng Khánh Tập, người bất mãn với chính quyền nhà Lê nên dẫn người dưới trướng bỏ trốn sang phương bắc, kể lại, vậy thì những thông tin của triều đình phương bắc biết được về An Nam cũng lõm bõm, chứ không tận mắt nhìn thấy, nghe thấy, nên không thể tin hết. Thế nhưng khi Lê Hoàn băng, các con trai của Hoàn tranh ngôi, tới khi Trung Tông mất, anh em cũng tranh ngôi, vậy nên sau khi Ngoạ Triều băng, nếu chép như các sử gia phương nam rằng mọi chuyện vô sự, không có binh đao thì cũng rất khó tin, bởi ở thời điểm Lê Hoàn mất, những hoàng tử tranh ngôi đều đã trưởng thành, sau nhiều năm Ngoạ Triều mất, các hoàng tử khác cũng đã trưởng thành, rồi thêm cả 3 người con nuôi của Lê Long Đĩnh, rất khó để tin rằng họ không làm gì, chỉ đứng nhìn Lý Công Uẩn lên ngôi. Tôi đặt giả thuyết về cái chết của Lê Long Đĩnh như sau: Triều đình phương bắc thấy An Nam dưới quyền cai trị của Lê Ngoạ Triều trở thành mối nguy đối với nhà Tống nên có ý muốn loại bỏ. Nhân việc Ngoạ Triều xin áo giáp mũ trụ giát vàng sao không dùng độc ? Rồi lại thêm mùa xuân năm 1007 Minh Xưởng và Hoàng Thành Nhã sang Tống xin kinh Đại Tạng, vua Tống lại ban đại yến cho Xưởng và Nhã, rồi ban cho Thành Nhã tước ngũ phẩm [Trước đó năm năm 1003 dân ở thành Nhật Hiệu và đầu mục là bọ Hoàng Khánh Tập đem gia thuộc hơn 450 người trốn sang Khâm Châu đất Tống. Tống sai sứ đến dỗ bảo phải về. Bọn Khánh Tập sợ tội không về, bèn ra ở bờ biển. Năm 1006 tháng 6 trí Quảng Châu là Lãng sách dâng thư nói: Bọn thần [Thiệu Việp] dựa theo lời của bọn Hoàng Khánh Tập hơn nghìn người ở Giao Châu, do Liêm Châu đưa đến, nói rằng các con của Nam Bình Vương đều đặt trại phân tán các nơi, quan thuộc lìa tan, nhân dân lo sợ, xin đem quân sang đánh dẹp, bọn Khánh Tập nguyện làm tiên phong. Thiệu Việp muốn nhân đó lấy nước Việt, dâng bản đồ đường thuỷ đường bộ từ Ung Châu đến Giao Châu] Mùa xuân năm 1009 Minh Xưởng về, dâng người con gái nước Tống là Tiêu thị, vua thu nạp làm cung nhân. Mùa đông tháng 10 vua băng ở tẩm cung. Không thấy sử sách chép thêm về nàng Tiêu thị. Hoàng Thành Nhã rất được trọng vọng và Thành Nhã có quan hệ với Hoàng Khánh Tập hay không ? Minh Xưởng lưu lại trên đất Tống tới 2 năm, quãng thời gian khá dài cho lần đi sứ. Cuối cùng khi Ngoạ Triều băng, Minh Xưởng có tranh ngôi như sử phương bắc chép không ? Âm mưu muốn lấy Giao Châu của nhà Tống và Lãng Sách, Thiệu Việp luôn tồn tại. Tôi ngờ rằng nguyên nhân cái chết của Lê Long Đĩnh nơi Tiêu thị, Minh Xưởng, Hoàng Thành Nhã và rộng hơn là phương bắc.
P/S: Câu chuyện sẽ trở nên phức tạp hơn nếu như sách Toàn thư chép đúng, đó là bà Phạm thị đem Công Uẩn khi ấy mới 3 tuổi đến nhà Lý Khánh Văn. Và mọi thông tin về gốc tích của Lý Công Uẩn dường như bị cố tình phong kín lại. Khi ấy giả thuyết của chúng ta xây dựng trên các cơ sở sau: Thứ nhất, Đinh Điền và Nguyễn Bặc chống lại Hoàn là điều có thể hiểu được, nhưng vì sao Phạm Hạp phải tham gia chống Hoàn trong khi Lưu Cơ và Trịnh Tú thì án binh bất động. Thêm nữa khi thua vì sao Phạm Hạp không chạy về Nam Sách với em trai là Phạm Cự Lạng mà chạy về Bắc Giang ? Phải chăng căn cứ của Hạp ở Bắc Giang ? Thứ hai, bà Phạm thị cư trú gần địa bàn của Phạm Hạp, lại cùng mang họ Phạm, vậy bà có mối quan hệ thân tộc với Phạm Hạp không ? Thêm nữa Phạm Bạch Hổ là người đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh và được phong làm Thân vệ tướng quân. Thứ ba, xét trường hợp của Trần Nhật Khánh, Đinh Bộ Lĩnh lấy mẹ của Trần Nhật Khánh, lại gả con gái cho Nhật Khánh và cưới em gái Khánh cho con trai là Đinh Liễn. Đinh Bộ Lĩnh đã dùng hôn nhân để củng cố mối quan hệ giữa các dòng họ, vậy thì có xảy ra trường hợp Đinh Bộ Lĩnh cưới con gái họ Phạm vùng Nam Sách cho con trai là Đinh Hạng Lang không ? Thứ tư, mùa thu năm 973 xảy ra loạn tranh ngôi giữa Đinh Liễn và Đinh Hạng Lang, kết cục Hạng Lang bị Liễn giết, nên Phạm Hạp đã đưa em gái là Phạm thị lúc này đang mang giọt máu của Đinh Hạng Lang chạy về Bắc Giang. Cuối cùng để giấu đi tông tích của đứa bé trước sự truy lùng của Đinh Liễn và sau này là Lê Hoàn, bà Phạm thị đã không cho biết cha của đứa bé và gửi lại cho Lý Khánh Văn nuôi. Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, có thể bản thân ngài cũng không biết về thân thế thật của mình hoặc nếu có biết thì trong hoàn cảnh các thế lực họ Lê vẫn mạnh, các thế lực khác không chịu quy thuận thì Công Uẩn vẫn phải dựa vào thế lực của họ Lý vùng sông Nhị Hà nên ngài vẫn phải công khai là người họ Lý. Tất nhiên đây là giả thuyết đặt trên cơ sở của dã sử, mà dã sử thường không thể tin.