Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018

BÀN VỀ THÂN THẾ CỦA HOÀI VĂN HẦU QUỐC TOẢN


(1) Sách Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam do hai tác giả Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức biên soạn viết: “Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản là con Trung Thành Vương, cháu nội của Nhân Đạo Vương”.
Bài Thiếu niên dũng tướng Trần Quốc Toản đã thành Liệt sĩ công huân như thế nào của tác giả Lê Văn Lan viết: “Có một hệ “tín hiệu chìm” giông giống như một quy định, ẩn trong những tước hiệu của các tôn thất quý tộc đời Trần [mà nương theo] có thể tìm ra bậc tiền bối sinh thành của Trần Quốc Toản [vì cùng có chữ Hoài ở đầu tước hiệu là] Trần Bà Liệt [đồng thời] với việc phong tước Hoài Đức vương, còn có việc cấp đất [tại] miền đất có trung tâm là làng Trang Liệt (Kẻ Sặt) ở tỉnh Bắc Ninh (…) Các tài liệu điều tra thực địa, địa phương chí, thần tích, truyền thuyết (…) ở vùng Từ Sơn, Tiên Du của tỉnh Bắc Ninh (…) cũng thống nhất xác nhận [và] các tài liệu địa phương chí và văn hóa dân gian vùng Từ Sơn-Tiên Du ở tỉnh Bắc Ninh, cũng đều thống nhất (…) Trần Quốc Toản là người quê làng Trang Liệt”.
Bài Trần Quốc Toản có chết trên vịnh Hạ Long không của tác giả Trần Nhuận Minh viết: “Theo một tài liệu tôi có thì Quốc Toản là con bà Trần Ý Ninh. Bà Ninh và anh trai là con Trần Hiến, Hiến là người cầm đầu toán quân chủ lực đảo chính quân sự, nhằm đưa ngôi vua về cho Trần Liễu, bị Trần Thủ Độ chém đầu cùng với vợ là Lê Thị Đạt. Trần Liễu cảm cái ơn ấy nên đưa hai con của Hiến về nuôi. Ông gả Ý Ninh cho một vương hầu (không rõ tên) sinh ra Quốc Toản (...) Việc Quốc Toản mới 15 tuổi đã được phong hầu [tụ tập quân sĩ] hơn 1 000 người (…) chứng tỏ thế lực nhà Quốc Toản [rất mạnh] Theo bố phòng quân đội [thì] Quốc Tuấn đóng đại bản doanh ở Vạn Kiếp nằm giữa Hải Dương và Bắc Ninh. Con rể nuôi là Phạm Ngũ Lão đóng quân chặn giặc ở nam ải Chi Lăng. Trần Quốc Nghiễn (con trưởng Trần Quốc Tuấn) đóng quân ở Bắc Ninh (…) Quốc Tảng ở Hải Dương cùng bác ruột là Trần Tung. Còn Quốc Hiện, Quốc Uất cũng ở trong vùng Bắc Ninh - Bắc Giang [nên] cháu nuôi là Quốc Toản chặn giặc ở Sông Cầu (…) như tài liệu cũ tôi đã đọc là có thể tin được”.
Bài Bí ẩn về cuộc đời Trần Quốc Toản của tác giả Đinh Ngọc Thu viết: “Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản là con của Vũ Uy vương Trần Nhật Duy và vương phi Trần Ý Ninh. Trần Nhật Duy là con trai vua Trần Thái Tông (…) Sau chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, vua Trần Thánh Tông cử Trần Nhật Duy và vợ là Trần Ý Ninh cùng một số tướng lãnh sang giúp nhà Tống (…) Trần Quốc Toản được mẹ sinh ra ở đất Tống vào năm 1267 (…) Riêng gia phả của hậu duệ Trần Quốc Toản mang tên Viêm phương Trần tộc Lưu phả và mộ chí ở Trung Quốc vừa tìm thấy được có nói về người vợ Tống của ông là vị công chúa cuối đời Tống tên Triệu Ngọc Hoa [Ghi chú số 4 viết] Theo GS Trần Đại Sĩ thì bà là em gái của Trần Tử Đức. Hai người là con của ông Trần Hiến và bà Lê Thị Đạt”.
(2) Toàn thư chép: “Nhâm Ngọ [1282] Mùa đông tháng 10, vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu (...) Vua thấy Hoài Văn Hầu Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiến đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích tay cầm quả cam bóp nát lúc nào không biết. Sau đó lui về huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc sắm vũ khí, đóng chiến thuyền viết lên cờ 6 chữ "phá cường địch, báo hoàng ân". Sau này khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không giám đối địch. Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương”.
Cương mục chép: “Nhâm Ngọ [1282] Lúc ấy có Hoài Văn hầu là Quốc Toản, cũng theo xa giá. Vì còn ít tuổi, không được dự bàn việc quân, Quốc Toản lấy làm hổ giận lắm, trong tay cầm quả cam, không biết bóp nát ra lúc nào; khi đã lui về, cùng với hơn ngàn người gia đồng và thân thuộc sắm sửa binh khí, chiến thuyền, kéo cờ đề sáu chữ "phá cường tặc báo hoàng ân". Kịp lúc quan quân đánh nhau với quân Nguyên, Quốc Toản thường xông pha đi trước quân lính, quân giặc trông thấy là phải tránh lui, không ai dám đối địch [Lời chua] Quốc Toản (…) là tôn thất nhà Trần”.
- Có 3 sai khác giữa 2 tài liệu sử trên: Thứ nhất, Cương mục có chép thêm thông tin “cũng theo xa giá” rõ ràng nó giúp chúng ta định hướng quê quán của Hoài Văn hầu. Thứ hai, Toàn thư chép thêm về Hoài Nhân vương Kiến [ 𡺅 ] tước hiệu của cả Toản và Kiến đều có Hoài, mối quan hệ giữa họ là như thế nào. Thứ ba, Quốc sử quán triều Nguyễn có giải thích thêm rằng “Toản là tôn thất nhà Trần” như thế không lẽ Ngô sử gia chép chưa rõ ràng sao ?
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (2/11 - 1/12/1282) hai tháng sau khi được tin viên trấn thủ Lạng Châu là Lương Uất báo về quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành nhưng thực ra định xâm lược, vua Trần đã ra Bình Than, đóng lại ở Trần Xá Loan mở hội nghị vương hầu bách quan. Cuộc họp này có mục đích “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu”. Không họp ở Thăng Long có lẽ một phần vì triều đình Trần muốn tránh con mắt dò xét của bọn sứ Nguyên. Trong lúc ở kinh thành, “sứ giặc đi lại ngoài đường” thì một cuộc họp lớn như thế nhất định không thoát khỏi sự chú ý của chúng. Nếu không dò biết được nội dung hội nghị và kế hoạch phòng thủ của ta thì chúng cũng có thể phỏng đoán được mục đích của hội nghị do việc tụ hội đông đảo quý tộc quan liêu một cách bất thường. Vào những năm 1281, 1282 quan hệ ngoại giao Việt - Nguyên đã rất căng thẳng, nhưng vương triều Trần vẫn còn cố gắng trì hoãn thời gian để chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Vì thế, để tránh được kẻ thù kiếm cớ gây chuyện lôi thôi, việc giữ bí mật cuộc hội nghị lớn này là cần thiết”.
- Sự kiện Hoài Văn hầu muốn tham dự hội nghị cho thấy tuy ngài trẻ tuổi nhưng đã trưởng thành về mặt nhận thức nên rất khó giải thích vì sao trên tay ngài lại có trái cam. Trần Nhân Tông không cho Quốc Toản tham gia hội nghị thì sao lại cho theo xa giá như ghi chép của Cương mục. E rằng đã có sự thêm bớt của người chép sử ?
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Bấy giờ Toa Đô cũng đang đóng ở Thanh Hóa. Tháng 4 năm Ất Dậu (6/5 - 4/6/1285) Hưng Đạo vương cùng với Chiêu Minh vương Quang Khải, Chiêu Văn vương Nhật Duật và các tướng lĩnh khác đem binh thuyền vượt qua vùng chiếm đóng của Toa Đô, tiến ra Bắc [trước đây, khi lực lượng chưa đủ mạnh, quân ta đã rút về Thanh Hóa để tránh sự tấn công từ hai mặt của kẻ thù] Hưng Đạo vương đã đem quân tấn công vào đồn A Lỗ [chỗ sông Hồng nối với sông Luộc] Viên tướng Nguyên giữ đồn này là vạn hộ Lưu Thế Anh đã phải rút chạy [cũng trong tháng 4 âm lịch] Chiêu Thành vương (không rõ tên) Hoài Văn hầu Quốc Toản và tướng quân Nguyễn Khoái được lệnh đem quân đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết [gần bãi Thiên Mạc] Chiêu văn vương Trần Nhật Duật và các tướng khác đã đánh tan giặc ở cửa Hàm Tử [xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên] Chiêu Minh vương Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản cùng các tướng khác đem quân vào đánh Chương Dương [xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây] và Thăng Long. Phối hợp với quân chủ lực của triều đình còn có các đạo dân binh ở các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và em là Nguyễn Truyền chỉ huy. Quân ta đã tiến đánh Thăng Long từ các mặt bộ và thủy. Trong khi tấn công vào thành, tướng Trần là Trung Thành vương đã đánh tan quân giặc do thiên hộ Mã Vinh chỉ huy ở Giang Khẩu [Hàng Buồm, Hà Nội] Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a đã phải tháo chạy khỏi Thăng Long, vượt qua sông Hồng, đóng quân lại ở phía bắc sông (…) Vào đầu tháng 5 âm lịch, hai vua Trần cũng kéo quân từ Thanh Hóa ra. Ngày 3 tháng 5 (7/6/1285) vua Trần đánh tan quân Nguyên ở Trường Yên (Ninh Bình) chém được đầu giặc vô số. Có lẽ đấy là một bộ phận cánh quân của Toa Đô đã đóng lại ở đây khi y tiến quân từ Trường Yên vào Thanh Hóa”.
Toàn thư chép: “Ất Dậu [1285] Mùa hạ tháng 4, vua sai bọn Chiêu Thành Vương (khuyết danh) Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh giặc ở bến Tây Kết. Quan quân giao chiến với quân Nguyên ở Hàm Tử Quan, các quân đều có mặt. Riêng quân của Chiêu Văn Vương Nhật Duật có cả người Tống, mặc quần áo Tống, cầm cung tên chiến đấu. Thượng hoàng sợ các quân có thể không phân biệt được, sai người dụ rằng "Đó là quân Thát của Chiêu Văn đấy, phải nhận kỹ chúng". Vì người Tống và người Thát, tiếng nói và y phục giống nhau. Quân Nguyên trông thấy [quân Tống] đều rất kinh hãi, bảo nhau là người Tống sang giúp, vì thế thua chạy. Trước kia, nhà Tống mất, nhiều người Tống theo ta, Nhật Duật thu nạp họ, có Triệu Trung làm gia tướng. Cho nên chiến công đánh bại giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả. Tháng 5 ngày mồng 3, hai vua đánh bại giặc ở phủ Trường Yên, chém đầu cắt tai giặc nhiều không kể xiết”.
- Qua chi tiết vua sai và thượng hoàng truyền dụ thì rõ ràng vua và thượng hoàng đã cùng đại quân từ Thanh Hóa vượt biển ra bắc để trực tiếp chỉ đạo trận chiến. Có thể hai tác giả đã lầm việc này chăng ?
- Khi vây đồn A Lỗ, biết sẽ có cứu binh nên vua đã lệnh cho Chiêu Thành hầu, Hoài Văn hầu, Nguyễn Khoái đem quân mai phục tại bến Tây Kết. Sau khi buộc Lưu Thế Anh rút lui, tổng quân đánh trận quyết định tại cửa Hàm Tử, Chiêu Văn vương lập đại công.
- Kết thúc trận chiến, đại quân chia 3, đạo một theo hai vua tiến xuống phía nam tấn công Trường Yên đồng thời kìm Toa Đô, đạo hai theo Hưng Đạo vương, Hưng Ninh vương men sông Hồng tiến lên phía bắc hòng phục kích khi địch rút lui, đạo ba theo Chiêu Minh vương, Chiêu Văn vương, Trung Thành vương, Hoài Văn hầu tấn công bến Chương Dương.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Ngày Đinh Sửu, 5 tháng 5 (9/6/1285) cánh quân của Giảo Kỳ xâm nhập vào Thăng Long. Có lẽ y vừa bị đánh bại ở phòng tuyến sông Hồng và bây giờ đang cố tìm đường chạy về Thăng Long, mong gặp hoàng tử Trấn Nam vương (…) Gặp sức chiến đấu của quân dân bảo vệ Thăng Long, Giảo Kỳ vội vã rút quân qua sông Hồng [trong khi] đồn trại của Thoát Hoan ở phía bắc sông Hồng, chắc là ở vùng Gia Lâm, đang bị quân Trần tấn công liên tiếp. Khi cánh quân của Giảo Kỳ đã đến, Thoát Hoan liền cho rút quân”
Nguyên sử chép: “Quân triều đình tụ họp các tướng nghị rằng “Người Giao Chỉ chống trả quan quân, tuy mấy phen thua chạy, nhưng quân tăng rất nhiều. Quan quân thiếu thốn, tử thương cũng lắm, quân kị của Mông Cổ cũng không thể thi thố được tài năng”. Bèn bỏ kinh thành, qua sông sang bờ bắc, quyết nghị lui binh về đóng ở châu Tư Minh. Trấn Nam vương cũng cho là phải, bèn dẫn quân về. Hôm ấy, Lưu Thế Anh đánh dữ cùng quân của Hưng Đạo vương, Hưng Ninh vương hơn hai vạn người” [Bản dịch của Châu Hải Đường]
An Nam chí lược chép: “Trong tháng 4 mùa hạ, An Nam thừa cơ quân ta đề phòng chỉnh mảng, đánh lấy lại La Thành. Ngày Đinh Sửu mồng 5 tháng 5, Giảo Kỳ cùng Vạn Hộ phục binh đánh vào cung điện vua Trần, đánh tan rồi đến sông Lư Giang hội họp với Trần Nam vương. Ngày sau kéo quân về. Quân An Nam đuổi theo tới sông Nam Sách, quan hữu thừa là Lý Hằng đánh lui, chém tên nghĩa dũng của Hưng Đạo vương là Trần Thiệu” [Bản dịch của Viện đại học Huế]
Toàn thư chép: “Ngày mồng 10, có người từ chỗ giặc trốn về đến ngự doanh tâu báo: Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn Hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn. Bọn thái tử Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô”.
- Sau khi chiếm ưu tại bến Chương Dương, Chiêu Minh vương dẫn quân tiến đánh Thăng Long mấy phen nhưng không lợi Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền đem dân binh chi viện đã buộc Thoát Hoan rút sang Gia Lâm, Thiên hộ Mã Vinh giữ Giang Khẩu chống quân truy kích bị Trung Thành vương đánh lui.
- Lập trại ở Gia Lâm, Thoát Hoan còn quân nên có thể hội với cánh quân do Toa Đô và Ô Mã Nhi từ Thanh Hóa tiến ra bắc để lấy lại Thăng Long, vì thế Thoát Hoan sai Giảo Kỳ phục binh và chờ thời cơ tấn công vào cung cấm. E rằng sự việc này hai tác giả đã phỏng đoán sai chăng ?
- Hưng Đạo vương và Hưng Ninh vương đem 2 vạn quân liên tục tấn công Thoát Hoan, Trần Nam vương toan tính tạm rút về Tư Minh, chỉnh đốn lương binh ngựa khí hẹn Toa Đô tiến đánh Thăng Long.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Quân Thoát Hoan thua chạy đến sông Như Nguyệt (sông Cầu) lại gặp phải đội quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đổ ra đánh (...) Bị thua ở sông Như Nguyệt, bọn Thoát Hoan hốt hoảng tháo chạy nhưng đến sông Sách (sông Thương chảy qua vùng Vạn Kiếp) chúng lại lọt vào trận địa phục kích của Trần Quốc Tuấn. Quân giặc bắc cầu phao sang sông (...) Thoát Hoan phải cho Lý Hằng đi bảo vệ phía sau (...) Đến Vĩnh Bình, quân Thoát Hoan đã gặp quân phục kích của Hưng Vũ vương Hiến (…) Cánh quân của Na-xi-rut Đin (Nasir ud-Dìn) đã từng giáp chiến với quân Chiêu Văn vương Nhật Duật ở trại Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái) bên sông Chảy (…) cùng chịu một số phận thất bại như các cánh quân khác, cánh quân này lại bỏ chạy theo con đường mà chúng đã tiến vào. Có lẽ chúng sẽ chạy thoát vì bấy giờ, toàn bộ quân chủ lực của triều đình Trần đang được tung vào việc truy kích, tập kích cánh quân lớn của Thoát Hoan và chuẩn bị đón đánh cánh quân của Toa Đô. Nhưng điều may mắn đó không đến với chúng (...) Khi bọn giặc đi qua huyện Phù Ninh (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) chúng đã vấp phải sức chiến đấu ngoan cường và mưu trí của nhân dân dân tộc thiểu số. Phụ đạo tử huyện Phù Ninh là Hà Đặc cùng với nhân dân đóng ở trên núi chuẩn bị tập kích giặc (...) Say sưa trong cuộc truy kích kẻ thù, người anh hùng miền núi đó đã tử trận. Em Hà Đặc là Hà Chương bị giặc bắt, nhân lúc giặc sơ hở, đã tìm cách trốn thoát. Cũng trí dũng như người anh của mình, lúc trốn khỏi trại giặc”.
Ghi chú số 13: Nguyên sử chép: “Quan quân lại đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh”. Kinh thế đại điển tự lục chép rõ hơn: “Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đuổi. Giết chết được”. Về cái chết của Trần Quốc Toản, sử ta không chép rõ. Toàn thư khi chép truyện Quốc Toản ở hội nghị Bình Than (1282) có nói: “Đến lúc chết, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương”. Toàn thư không chép rõ Quốc Toản chết bao giờ nhưng từ sau năm 1285, không thấy chỗ nào nhắc đến viên tướng thiếu niên ấy nữa. Như vậy đúng là Quốc Toản đã hy sinh trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và theo Kinh thế đại điển tự lục là trong trận sông Như Nguyệt [dẫn lược]
- Khi rút lui khỏi Thăng Long, Trấn Nam vương bị Đại Việt truy kích, mai phục tại 4 điểm gồm Gia Lâm, sông Như Nguyệt, sông Nam Sách, trại Vĩnh Bình. Tuy rằng sau cuộc giao tranh giữa Lưu Thế Anh và Hưng Đạo vương tại Gia Lâm khiến Mông Nguyên tổn thất nặng song cũng không thảm đến nỗi Đại Việt chỉ cần cử đội quân ngàn người do Hoài Văn hầu đến đánh.
- Nếu biện rằng nhiệm vụ của Trần Quốc Toản là xua quân Mông Nguyên về Vạn Kiếp thì không cần Hoài Văn hầu phải cố đánh để bỏ mạng bên dòng Như Nguyệt. Nếu biện rằng Trần Quốc Toản tự truy kích thì lại mâu thuẫn với sử liệu. Nguyên sử và Kinh thế đại điển tự lục chép rõ rằng Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh ?
- Nếu Trần Nhân Tông sai Trần Quốc Toản đến đánh thì hẳn đội quân do Hoài Văn hầu chỉ huy cũng phải tương đương Trung Thành vương hoặc Chiêu Thành vương chứ không thể ngàn người được và Trần Quốc Toản cũng phải rất trưởng thành chứ không thể thiếu niên như sách sử chép.
- Lại thêm Toàn thư chép đến Hoài Văn hầu tại trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long. Rõ rằng phải thực có công mới được chép nhiều như thế chứ không thể chỉ là ưu ái do thiếu niên mà anh dũng. Sau toàn những trận khắc nghiệt thì câu hỏi là đội quân ngàn người của Hoài Văn hầu còn lại bao nhiêu ?
- Sử sách có phần ngoa khi chép rằng “giặc trông thấy phải lui tránh, không giám đối địch” nhưng không sai khi chép “đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ”. Hoài Văn hầu tham gia tất cả các trận đánh lớn nhỏ trong chiến dịch Đại Việt phản công trừ các trận Trường Yên, Vạn Kiếp, Tư Minh do không thể. Nên câu hỏi là với tinh thần hăng hái hiếm có như vậy thì lại không thấy ghi chép nào về Trần Quốc Toản trong giai đoạn Mông Nguyên tấn công. Nếu trong giai đoạn Đại Việt rút lui mà Hoài Văn hầu có tham gia thì người chết không phải là Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng.
 (3) Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Năm 1285, viên bình chương chính sự hành tỉnh Vân Nam là Na-xir út-Đin (Nā sir ud- Dīn) đã đem một nghìn quân Mông Cổ và Kha-ra-jang (Qaraĵang, tức quân người Ô Man ở Vân Nam) tiến vào biên giới Đại Việt phía Tuyên Quang để phối hợp với cánh quân của Thoát Hoan ở phía đông. Bấy giờ, Chiêu Văn vương Nhật Duật đóng ở trại Thu Vật (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái). Sau khi giao chiến với giặc, cũng như các cánh quân phía đông, Nhật Duật đã rút lui để bảo toàn lực lượng. (…) Ngày rằm tháng giêng năm Ất Dậu (20-2-1285) một ngày sau khi Thoát Hoan tiến vào Thăng Long, cánh quân của Trần Nhật Duật về đến Bạch Hạc. Bấy giờ trong quân của Nhật Duật có nhiều người Tống, trong số đó có đạo sĩ Hứa Tông Đạo, người ở Phúc Châu thuộc lộ Phúc Kiến, sang Đại Việt từ năm 1276. Đoàn quân của Nhật Duật đã dừng lại trên bờ sông Bạch Hạc (chỗ gần cầu Việt Trì) cắt tóc làm lễ tuyên thệ, nguyện lấy lòng trung để báo ơn vua. Sau đó, cánh quân của Nhật Duật đã vượt qua vùng các dân tộc thiểu số rút về chỗ vua Trần đóng quân”.
Ghi chú số 9: Bài minh chuông thông Thánh Quán có đoạn: “Vào ngày thượng nguyên (tức rằm tháng giêng) năm Ất Dậu (20-02-1285) ở sông Bạch Hạc, cắt tóc tuyên thệ, thề với thần là dốc hết lòng trung để báo quân thượng. Rồi suất lĩnh tả hữu quân kỵ, tiến lên phía trước, mới vượt qua vùng Man Lão (chỉ các dân tộc thiểu số) thẳng đến ngự tiền”. Bài minh không cho chúng ta biết là Nhật Duật đã rút về gặp vua Trần theo đường nào mà đã qua vùng các dân tộc thiểu số. Theo bài minh này thì đạo sĩ Hứa Tông Đạo là người hương Thái Bình, huyện Phúc Thanh, Phúc Châu, lộ Phúc Kiến, theo thuyền đến Đại Việt năm Bính Tý (1276). Toàn thư chép Hứa Tông Đạo đến vào năm Hưng Long 10 (1302) là nhầm vì chính Tông Đạo viết bài minh này.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Từ khi Thoát Hoan xuất quân, Toa Đô đã được lệnh từ Chiêm Thành tiến ra để phối hợp. Triều đình Trần cũng đã nghĩ đến điều đó. Chính vì thế mà vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã để một số quân lớn trấn giữ ở miền Diễn Châu và Nghệ An (Nghệ An và Hà Tĩnh). Trong khi hầu hết quân lực vùng đồng bằng Bắc Bộ được huy động về cứ điểm Vạn Kiếp thì như lời thơ của Nhân Tông “Hoan Diễn còn kia chục vạn quân”. Miền đất phía nam này từ trước vua Trần đã giao cho những vương hầu thân tín trấn trị. Năm 1269, Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang được phong làm Vọng Giang phiêu kỵ đô thượng tướng quân vào giữ đất Diễn Châu. Đến nay, để ngăn cánh quân Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, người chiến tướng vừa vượt qua vòng vây của giặc ở mặt trận Tuyên Quang đã được lệnh vội vã lên đường vào trấn giữ Nghệ An. Trong lúc cả nước đang chống giặc thì Chương Hiến hầu Trần Kiện, con Tĩnh Quốc vương Quốc Khang, vì hiềm khích với hoàng tử Tá Thiên vương Đức Việp, đã nằm dài ở hương Tức Mặc, lấy cớ học đạo Lão Trang. Để tăng cường bảo vệ phía nam, vua Trần đã gọi y ra, sai đem quân vào Thanh Hóa. Ngày 28 tháng giêng năm Ất Dậu (5/3/1285) vua Trần lại theo lời đề nghị của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, cử thêm thượng tướng thái sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải vào tăng viện cho Nghệ An”.
Ghi chú số 2: An Nam chí lược chép rằng vua Trần sai em là Chiêu Văn vương Trần Duật và hầu Trịnh Đình Toản chống giữ ở Nghệ An vào tháng giêng âm lịch. Chúng ta nhớ rằng ngày rằm tháng giêng âm lịch (20/02/1285) Trần Nhật Duật còn ở Bạch Hạc (Việt Trì). Trong số các sứ Trần sang Nguyên năm 1278, có một người tên là Trịnh Đình Toản. Trịnh Đình Toản bị giữ lại ở Trung Quốc. Năm 1283, vua Trần đưa thư cho A-ric Kha-y-a đòi tha các sứ bị giữ, A-ric Kha-y-a đã thả các sứ ta. Không rõ trong số đó có Trịnh Đình Toản không và Trịnh Đình Toản đó có phải là người cùng Nhật Duật vào Nghệ An không. Nhưng Trịnh Đình Toản đi sứ không phải là tước hầu. Có lẽ hầu Trịnh Đình Toản là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản chép nhầm ra.
An Nam chí lược chép: “Đại vương Giảo Kỳ, Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Đường Cổ Đái, Chính Hắc Đích vâng lời chiếu chỉ, từ Chiêm Thành kéo quân tới, vào phủ Bố Chính đánh mặt sau. Thế tử sai em là Chiêu Văn vương Trần Duật, hầu Trịnh Đình Toản chống cự ở Nghệ An nhưng bị thua chạy. Thế tử thấy đã nguy cấp, sai con người anh là Chương Hiến hầu Trần Kiện nghênh chiến tại Thanh Hóa, dằng dai lâu ngày rồi sức yếu, lại không có quân tiếp viện, Chương Hiến hầu bèn cùng bọn Lê Tắc kéo quân đầu hàng”.
- Hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm cho rằng An Nam chí lược đã chép nhầm người theo Chiêu Văn vương vào chống cự Toa Đô tại Nghệ An từ Trần Quốc Toản thành Trịnh Đình Toản. Nếu đúng việc này sẽ giải thích vì sao sách sử không ghi chép về Hoài Văn hầu trong giai đoạn Đại Việt rút lui.
(4) An Nam chí lược chép: “Đại Nguyên phụng sự. Năm Chí-Nguyên thứ 15 (1278) khiến Sài-Thung ở Vân-Nam giữ chức Lễ-Bộ Thượng-thư, dẫn sứ thần An-nam là Lê-Khắc-Phục về nước và dụ Thế-Tử lấy cớ đang cư ta, nên chỉ sai bồi-thần là bọn Trịnh-Đình-Toản và Đỗ-Quốc-Kế vào cống. Năm Chí-Nguyên thứ 16 (1279) giữ sứ-thần An-nam là Trịnh-Đình-Toản ở lại, rồi sai Sài-Thung dẫn sứ-thần Đỗ-Quốc-Kế về nước và dụ vua phải vào chầu (…) Sứ-thần các Triều-đại. Năm Đinh-Sửu Chí-Nguyên thứ 14 (1277) Trần-Thái-Vương mất, con lên ngôi, khiến Đại-phu Châu-Trọng-Ngạn và Ngô-Đức-Thiệu tiến cống. Năm sau Thế-Tổ Hoàng-Đế khiến Lễ-Bộ Thượng-Thư Sài Thung qua vời Thế-Tử vào chầu. Thế-Tử lấy cớ đương đau không đi, khiến đại-phu Trịnh-Đình-Toản và Đỗ-Quốc-Kế vào cống. Đình-Toản bị câu-lưu ở Kinh-sư”.
Nguyên sử chép: “Tháng 8 năm thứ 15 [1278] sai lễ bộ thượng thư Sài Xuân, hội đồng quán sứ Cáp Lạt Thoát Nhân, công bộ lang trung Lý Khắc Trung, công bộ viên ngoại lang Đổng Đoan cùng bọn Lê Khắc Phục cầm chiếu thư sang dụ Nhật Huyên sang chầu nhận mệnh [tháng 11 nhuận] Nhật Huyên sai ngự sử trung tán kiêm tri thẩm hình viện sự Đỗ Quốc Kế đến trước, rồi cho thái úy dẫn bá quan đến bên sông Phú Lương nghênh đón vào sứ quán [tháng 12] Nhật Huyên sai Phạm minh tự gửi thư tạ tội, đổi bầy yến ở điện Tập Hiền (…) Bọn Xuân quay về, Nhật Huyên sai Phạm minh tự, Trịnh Quốc Toản, trung tán Đỗ Quốc Kế phụng biểu trần tình (…) đồng thời lại cống phương vật cùng hai con voi nhà (…) Tháng 3 năm thứ 16 [1279] bọn Xuân đến kinh sư trước, lưu Trịnh Quốc Toản đợi ở Ung Châu [sau] lệnh cho sứ giả triều kiến. Tháng 11 lưu sứ giả An Nam là Trịnh Quốc Toản ở hội đồng quán. Lại sai bọn Sài Xuân bốn người cùng Đỗ Quốc Kế mang chiếu sang lại dụ Nhật Huyên”.
An Nam chí lược chép: “Sản vật. Voi. Xứ Lâm-Ấp sản-xuất voi, lúc đầu tại nước Chiêm-Thành, tục hay dùng voi để cỡi và chở (...) Năm Bính-Tý (1276) hiệu Chí-Nguyên, triều-đình dẹp yên nhà Tống, thẳng ruỗi đến Quế-Châu gần An-nam, nước ấy thường đem voi cống (...) Nhà vua thường mở cuộc đấu voi để xem hơn thua”.
Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ chép: “Vua Nguyên nghe tin vua Thái Tôn mất, có ý muốn lấy đất, sai Sài Xuân đến lấy cớ rằng vua ta không thỉnh mệnh vua Nguyên mà tự lập làm vua, trách bắt vua ta phải vào chầu (…) Xuân trở về, vua sai Trịnh Đình Toản sang Nguyên dâng con voi đã dạy thuần, người Nguyên giữ sứ thần ta ở lại không cho về”.
Toàn thư chép: “Mậu Dần [1278] Vua Nguyên nghe tin Thái Tông băng, có ý mưa tính nước ta, sai Lễ bộ thượng thư Sài Xuân sang ta. Bấy giờ sứ nước ta là Lê Khắc Phục đang trở về, gặp quân Nguyên đánh nước Tống, liền theo đường Hồ Quảng mà về nước, Xuân cùng đi với Khắc Phục sang ta lấy cớ vua không xin mệnh mà tự lập, dụ bảo phải sang chầu. Vua không nghe sai Trịnh Đình Toản, Đỗ Quốc Kế sang Nguyên. Nguyên giữa Đình Toản không cho về (…) Canh Thìn [1280] Trịnh Giác Mật ở đạo Đà Giang làm phản. Vua sai Chiêu Văn Vương Nhật Duật đi dụ hàng. Bấy giờ, Nhật Duật coi đạo Đà Giang, ngầm đem quân thuộc hạ đến. Trịnh Giác Mật sai người đến quân doanh, bày tỏ lòng thành: "Mật không giám trái mệnh. Nếu ân chúa một mình một ngựa đến thì Mật xin hàng". Nhật Duật nhận lời chỉ đem 5, 6 tiểu đồng cùng đi. Quân sĩ ngăn lại, Nhật Duật nói: "Nếu nó giáo giở với ta thì triều đình còn có vương khác đến". Khi tới trại, người Man dàn vây mấy chục lớp và đều cầm đao thương chĩa vào phía trong. Nhật Duật đi thẳng vào, trèo lên trại. Mật mời ông ngồi. Nhật Duật thạo biết tiếng nói và am hiểu phong tục của nhiều nước, cùng ăn bốc, uống bằng mũi với Mật. Người Man thích lắm. Khi Nhật Duật trở về, Mật đem gia thuộc đến doanh trại đầu hàng. Mọi người đều vui lòng kính phục vì không mất một mũi tên mà bình được Đà Giang. Đến khi về kinh sư, [Nhật Duật] đem Mật và vợ con hắn vào chầu, vua rất khen ngợi ông. Sau đó, vua cho Mật về nhà, giữ con hắn ở lại kinh đô. Nhật Duật mến nuôi hết lòng, xin triều đình ban tước thượng phẩm và cho vào trông ao cá, sau cũng cũng cho về nhà”.
- Trong 3 người được chép đến trong Nguyên sử thì Đỗ Quốc Kế giữ chức ngự sử trung tán kiêm tri thẩm hình viện sự và vị họ Phạm giữ tước minh tự, nhưng không thấy nhắc đến chức tước của Trịnh Quốc Toản. Trung tán thì được cử đến đón Sài Xuân và minh tự được lệnh gửi thư tạ tội. Như thế Trịnh Quốc Toản trong đoàn sứ có nhiệm vụ quản dẫn voi.
- Theo Lê Tắc thì voi đối với người Mông Cổ còn khá tò mò, vua thường mở cuộc đua. Việc Trịnh Quốc Toản trước sau bị câu lưu tại Ung Châu và Hội đồng quán rất có thể do liên quan tới voi.
- Trong các quý tộc nhà Trần người viết xin lưu ý tới Nhật Duật, vị vương mà theo Toàn thư mục năm 1300 chép “Nhật Duật thích chơi với người nước ngoài, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già (thôn này hồi Lý Thánh Tông đánh chiếm Chiêm Thành, bắt được người Chiêm cho ở đấy, lấy tiếng Chiêm đặt tên là Đa Gia Ly, sau gọi sai thành Bà Già) có khi ba, bốn ngày mới về”.
Ghi chú số 4: Nguyên sử. An Nam truyện, Thế Tổ bản kỷ chép việc Nguyên sai sứ vào ngày Nhâm Tý tháng 11 năm Chí Nguyên 16 tức ngày 13 tháng 12 năm 1279. Nguyên sử. Lương Tằng truyện chép năm Chí Nguyên 17 (1280) Tằng cùng với Sài Thung đến An Nam. Như vậy là bọn Sài Thung đã đi vào cuối năm 1279 và đến Đại Việt vào năm 1280. Trong năm Chí Nguyên 17, Thế Tổ bản kỷ còn chép mấy việc sau: “Ngày Bính Thân tháng 10 (21-11-1280) sai sứ dụ Java và Giao Chỉ”. “Ngày Canh Tuất tháng 11 (5-12-1280) sai Kho-rơ-khô-xun (Qorqosun, Bản kỷ chép là Hòa Lễ Hoắc Tôn) chọn thải sứ nước Giao Chỉ, trừ những kẻ có thể lưu, còn lại thả cho về”. “Ngày Bính Thân tháng 12 (21-l-1281) nước An Nam sai cống voi”.
- Trước hết, khi Sài thượng thư đưa Đỗ Quốc Kế về nước vào mùa xuân thì đến mùa đông, Trịnh Giác Mật ở đạo Đà Giang làm phản. Thật khéo trùng hợp khi Giác Mật cùng họ Trịnh với Đình Toản. Lại thêm sự kiện Mật thách đố Chiêu Văn vương rằng “Nếu ân chúa một mình một ngựa đến thì Mật xin hàng” làm liên tưởng đến tình thế Trịnh Đình Toản đi sứ đến chỗ địch. Sau cùng nhiệm vụ của Đình Toản là quản dẫn voi. Nên tôi cho rằng: Đình Toản cùng gia tộc họ Trịnh với Giác Mật.
- Toàn thư chép là Trịnh Đình Toản. Nguyên sử chép là Trịnh Quốc Toản. An Nam chí lược bản tại web [https://zh.wikisource.org] có 5 chỗ đều chép là Trịnh Đình Toản. Bản tại web [https://ctext.org] có 2 chỗ [Đại Nguyên phụng sự] chép là Trịnh Quốc Toản và 3 chỗ [Chinh thảo vận hướng, Sứ thần các triều đại] chép là Trịnh Đình Toản.
- Việc An Nam chí lược tồn tại bản chép Trịnh Quốc Toản cũng như ghi chép của Nguyên sử củng cố thêm cho giả thuyết của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm rằng đã có sự nhầm lẫn trong An Nam chí lược khi chép Trần Quốc Toản thành Trịnh Đình Toản.
(5) Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm viết: “Từ cuối tháng giêng âm lịch, bọn đại vương Giảo Kỳ, hữu thừa Toa Đô, tả thừa Tang-gu-tai, tham chính Khê-đê từ Chiêm Thành đánh vào Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình) rồi tiến ra Nghệ An. Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toản (Trần Quốc Toản ?) chống cự ở Nghệ An không cản được địch, phải rút lui (...) Ngày Giáp Thìn mồng 1 tháng 2 âm lịch (8/3/1285) Trần Kiện đã cùng với bọn Lê Trắc và gia thuộc hàng giặc (...) Ngày Ất Tị mồng 2 tháng 2 (9/3/1285) Giảo Kỳ đem quân lội qua cửa nam cửa kênh Vệ Bố [huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa] Ở đây, tướng Trần là Đinh Xa và Nguyễn Tất Thống bị hy sinh. Ngày Kỷ Dậu mồng 6 tháng 2 (13/3/1285) Trần Kiện lại dẫn đường cho bọn Giảo Kỳ đánh Chiêu Minh vương Quang Khải ở bến Phú Tân. Tham gia chiến đấu ở Thanh Hóa bấy giờ còn có Văn Túc vương Đạo Tái, Tá Thiên vương Đức Việp và Chiêu Hiếu vương (chưa rõ tên). Chiêu Hiếu vương và đại liêu Hộ đã bị hy sinh. Quang Khải liền lui quân”.
- Tác giả của An Nam chí lược và cũng chính là người trực tiếp tham gia cuộc chiến viết rằng “thế tử thấy việc nguy cấp” như thế rõ rằng Trần Kiện được lệnh đưa quân từ Nam Định sang Thanh Hóa sau khi Trần Nhân Tông được tin Chiêu Văn vương bị thua tại Nghệ An. Lê Tắc viết thêm “dằng dai lâu ngày rồi sức yếu, lại không có quân tiếp viện” nên ngày 1 tháng 2 Trần Kiện ra hàng. Ghi chép này không phải không có cơ sở vì ngày 2 tháng 2 quân do Chiêu Minh vương mới đến sông Vệ Bố nên dự là Trần Kiện chống giữ quãng 5 - 10 ngày tại Thanh Hóa trước khi ra hàng.
- Các sự kiện diễn ra gấp gáp và đều liên quan tới Chương Hiến hầu và Lê Tắc nên giả thuyết rằng tác giả của An Nam chí lược nhầm lẫn giữa Trần Quốc Toản với Trịnh Đình Toản rất khó thuyết phục. Nên sự sai lệch văn bản nếu có hẳn phải do người đời sau sao chép đã cố tình sửa lại. Họ thấy trước và sau đều có chép Trịnh Đình Toản nên đã sửa Trần Quốc Toản thành Trịnh Đình Toản.
- Rắc rối khi xem các sự việc tương tự như mục các vương hầu nội phục trong An Nam chí lược có chép về Chương Hoài thượng hầu Trần Văn Lộng trong khi mục tự sự lại chép Chương Hoài hầu Trần Tuyên Ủy. Thật khó giải thích vì sao người sao chép lại chỉ sửa chỗ này mà không sửa chỗ khác và quan trọng hơn cả là chúng ta chỉ phỏng đoán như vậy chứ không hề có bằng chứng cho việc can thiệp vào văn bản của trường hợp Trịnh Đình Toản.
- Viện đại học Huế qua bản dịch ngầm cho rằng người đi cùng Chiêu Văn vương vào Nghệ An để chống Toa Đô là Trịnh Đình Toản bằng cách xếp chữ Hầu cho Chiêu Văn vương nên bản dịch của họ như sau “Thế tử sai em là Chiêu Văn vương Trần Duật Hầu, Trịnh Đình Toản chống cự ở Nghệ An”.
Toàn thư chép: “Canh Tuất [1310] Mùa thu tháng 9 ngày 16, rước linh cữu thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng xá lỵ thì cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông (…) Trước đó, linh cữu Nhân Tông tạm quàn ở điện Diên Hiền. Khi sắp đưa rước, đã đến giờ rồi mà quan lại và dân chúng còn đứng chật cả cung điện. Tể tướng cầm roi xua đuổi mà vẫn không giãn ra được. Vua cho gọi Chi hậu thánh chưởng Trịnh Trọng Tử tới bảo: "Linh cữu sắp đưa rồi mà dân chúng đầy nghẽn như vậy thì làm thế nào? Ngươi hãy làm cho họ tránh ra". Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì, gọi quân Hải khẩu và quân Hổ dực (quân do Trọng Tử trông coi) đến ngồi thành hàng trước thềm, sai hát mấy câu điệu Long Ngâm. Mọi người đều kinh ngạc, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, bèn rước [linh cữu thượng hoàng] về lăng Quy Đức. Trọng Tử lo dọc đường thế nào cũng có chỗ cao thấp quanh co, nếu nghiêm túc im lặng, thì sợ có sự nghiêng lệch, nếu truyền gọi bảo ban thì lại e ồn ào, bèn đem những lời dặn về cách đi đứng dàn hàng, phổ vào khúc hát Long Ngâm, sai người hát lên để bảo nhau. Người thời ấy rất ca ngợi ông. Ý tứ khéo léo của ông đại loại như vậy. Vua gọi ông là con nhà trời, vì ông hiểu khắp mọi nghề, lớn nhỏ đều thạo, không việc gì là không biết. Trọng Tử nhiều tài nghệ, như cưỡi ngựa lạ không cần người giỏi cưỡi ngựa chỉ bảo, chỉ nghĩ cách phòng giữ cho ngựa khỏi lồng chạy đá cắn thôi, thế mà thuật cưỡi ngựa không có gì là không biết. Học thuốc thì không cần hỏi thầy thuốc, cứ theo bài thuốc trong sách, xét chứng xem mạch rồi bốc thuốc, mà cũng không sai lầm. Lại đựng vị xuyên khung trong túi vải, cho gia đồng mang theo để lấy hơi người, không sinh mối mọt. Học đánh cờ thì vẽ bàn cờ và quân cờ lên trần nhà, rồi ngồi nhìn và suy tính kỹ càng, người đương thời khen là giỏi cờ. [Trọng Tử] thường mời đạo sĩ làm phép trấn yểm, đạo sĩ vào chổ ngồi, nhưng mọi việc đều do Trọng Tử làm cả, mà đạo sĩ thì không phải nói một lời nào. Khi công chúa Thiên Trân mất, các vương hầu đều tới điếu viếng, thầy cúng làm phép "hú vía" nhưng thiếu người trả lời. Trọng Tử cố hỏi là người trả lời phải đứng ở chỗ nào, rồi đến ngay chỗ khuất người để trả lời, mọi người đều che miệng cười. Đại khái, tài khéo léo của ông đều như thế cả”.
Sách Văn bia Hán Nôm Việt Nam từ khởi thủy đến thời Lý Trần của tác giả Đinh Khắc Thuân viết: “Thanh Mai Viên Thông tháp bi. Năm Tân Dậu niên hiệu Đại Khánh thứ 8 [1321] Thượng phẩm Hoài Ninh hầu thỉnh mời sư đúc một tòa tượng Thiên thủ đại bi, cùng cầu sư truyền thụ bồ đề tâm giới (…) Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Khánh thứ 9 [1322] trước là Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trung Tử muốn thỉnh mời sư giảng hết 9 hội của kinh Hoa Nghiêm, tiếp đó Hoài Ninh hầu cùng chủ sự Tăng Huyền Quang dâng sớ thỉnh mời sư đến chùa Siêu Loại Báo Ân giảng hội thứ 2 kinh Hoa Nghiêm”.
- Nếu chỉ dựa vào Toàn thư thì chúng ta có Trịnh Trọng Tử giữ chức Chi hậu thánh chưởng và trông coi 2 quân Hải Khẩu, Hổ Dực. Nhưng qua bia chùa Thanh Mai, núi Phật Tích, Hải Dương chúng ta biết thêm Trịnh Trọng Tử có tước hiệu Hoài Ninh hầu.
- Như thế rõ là hai tác giả đã dựa vào Toàn thư để đọc An Nam chí lược, nhưng tôi cho rằng 2 sách này có vai trò bổ trợ nhau chứ không phải quan hệ chính phụ, nôm na là dựa vào An Nam chí lược chúng ta biết thêm Trịnh Đình Toản giữ tước hầu. Cũng giống như trường hợp của Hà Bổng mà Toàn thư chép mục năm 1257, sách sử chỉ cho chúng ta biết Bổng được ban tước hầu nhưng lại không cho biết tên hiệu.
- Lại thêm dựa vào ghi chép của Nguyên sử rằng “Ngày Canh Tuất tháng 11 (5-12-1280) sai Kho-rơ-khô-xun (Qorqosun, Bản kỷ chép là Hòa Lễ Hoắc Tôn) chọn thải sứ nước Giao Chỉ, trừ những kẻ có thể lưu, còn lại thả cho về” và ghi nhận của hai tác giả rằng “Năm 1283, vua Trần đưa thư cho A-ric Kha-y-a đòi tha các sứ bị giữ, A-ric Kha-y-a đã thả các sứ ta”. Tôi cho rằng Trịnh Đình Toản được người Nguyên thả cho về trong năm 1283.
- Ngài trở về bản quán tại đạo Đà Giang, sau cùng Chiêu Văn vương cự cánh quân Mông Nguyên từ Vân Nam tiến sang và cũng theo Trần Nhật Duật vào Nghệ An chống Toa Đô. Nên hẳn giữa Chiêu Văn vương và Trịnh Đình Toản phải có mối quan hệ đặc biệt nào đó.
- Sự kiện Trịnh Giác Mật giám chống lại triều đình, cho thấy họ Trịnh ở Đà Giang thế lực không nhỏ, nếu Đình Toản thuộc gia tộc họ Trịnh Đà Giang thì tước hầu của ngài rất có thể được phong trước khi đi sứ. Nhưng sử phương bắc không thấy chép đến tước hầu của ngài thì nó lại ủng hộ kịch bản sau khi đi sứ về Trịnh Đình Toản mới được ban tước. Rất khó để phỏng đoán trong trường hợp này ?
- Nếu người theo Chiêu Văn vương vào trấn Nghệ An là hầu Trịnh Đình Toản thì câu hỏi rằng trong giai đoạn rút lui của Đại Việt Hoài Văn hầu ở đâu mà không thấy sách sử ghi chép vẫn còn nguyên vẹn ?
Toàn thư chép “Canh Thìn [1280] Khi về kinh sư đem Mật và vợ con hắn vào chầu, vua cho Mật về nhà, giữ con hắn ở lại kinh đô. Nhật Duật mến nuôi hết lòng, xin triều đình ban tước Thượng phẩm và cho vào trông ao cá, sau cũng cũng cho về nhà”.
- Giữ con của Giác Mật ở lại kinh sư chẳng qua là đề phòng họ Trịnh theo giặc lại làm phản mà thôi, nhưng thú vị là Trần Nhật Duật mến nuôi hết lòng, việc này có thể tin được vì qua những ghi chép về Chiêu Văn vương thì thấy ngài rất có lòng nhân và gần nhất là trường hợp ngài nhận chăm nuôi rất chu đáo Minh Tông Trần Mạnh như ghi chép của Toàn thư mục năm 1300.
- Thông tin thú vị hơn cả là ngài xin triều đình ban cho con của Giác Mật tước Thượng phẩm. Trước hết, Trịnh Trung Tử cũng giữ tước Thượng phẩm, lại thêm Trung Tử là người họ Trịnh, cuối cùng ngài cùng Tăng Huyền Quang có thỉnh Trúc Lâm thiền phái Pháp Loa giảng kinh Hoa Nghiêm tại Siêu Loại, ngôi chùa có vị trí khá gần sông Như Nguyệt nơi Hoài Văn hầu tử trận.
- Cũng thật trùng hợp khi tước hiệu của Trịnh Trung Tử và Quốc Toản đều có chữ Hoài. Người viết không đủ căn cứ để phỏng đoán mối quan hệ giữa Trung Tử với họ Trịnh Đà Giang.
- Qua trường hợp của Trịnh Trung Tử và con trai của Trịnh Giác Mật người viết cho rằng: trước hết nó củng cố thông tin Trịnh Đình Toản giữ tước hầu và sau cùng cộng thêm việc Trịnh Đình Toản theo Trần Nhật Duật vào tận Nghệ An chống giặc thì rất có thể giữa họ tồn tại mối quan hệ cha con nuôi. Các trường hợp tương tự như Hưng Đạo vương cùng các con giữ mạn đông bắc, Chiêu Minh vương cùng con trấn Thanh Hóa.
(6) Chúng ta đã tới cùng việc phân tích thông tin để tìm ra manh mối, nhưng rốt lại là tình trạng bế tắc, vì thế người viết xin đưa ra giả thuyết để giữ vai trò khai thông, tôi cho rằng: Trịnh Đình Toản chính là Hoài Văn hầu Quốc Toản.
- Xem Toàn thư có cả thảy 2 chỗ chép về Hoài Văn hầu gồm năm 1282 như sau “Hựu thời, Đế dĩ Hoài Văn hầu Quốc Toản, Hoài Nhân vương kiến tịnh niên ấu, bất hứa dự nghị. Quốc Toản nội tự hoài quý phẫn, thủ ốc cam tử bất giác toái lạn” và năm 1285 như sau “Hạ tứ nguyệt, Đế mệnh Chiêu Thành vương [khuyết danh] Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái, đẳng lĩnh tiệp binh nghịch tặc”. Rõ rằng không chép về Họ của Hoài Văn hầu Quốc Toản.
- Tất nhiên rằng trong những trường hợp không chép về Họ như thế đã trở thành phổ biến trong Toàn thư thì cần phải ngầm hiểu là dựa vào thế thứ triều đại mà xác định. Nói cách khác, lối hiểu phổ biến giúp xác định Quốc Toản mang họ Trần bởi sự kiện được chép trong kỷ nhà Trần.
- Nhưng không phải không có ngoại lệ, lấy Toàn thư mục năm 1278 làm dẫn chứng chẳng hạn, sách sử chép “Chiêu Thánh hạ giá Phụ Trần nhị thập dư niên, sinh nam Thượng vị hầu Tông, nữ Ứng Thuỵ công chúa Khuê”. Sách sử không chép về Họ của Thượng vị hầu Tông và Ứng Thụy công chúa Khuê, nhưng trước đó có chép “Tam nguyệt, Lê Phụ Trần phu nhân Chiêu Thánh công chúa Lí thị hoăng”.
- Việc bổ trợ thông tin cho câu văn cần phải hiểu từ những câu văn khác là phổ biến nhưng khi biên soạn lại sử gia đã can thiệp vào văn bản khiến câu văn mang tính chất bổ trợ bị mất đi như trường hợp dẫn ra bên dưới và người viết ngờ rằng trường hợp của Hoài Văn hầu Quốc Toản là một cụ thể.
Bài Về bản "Đại Việt sử ký toàn thư" in ván gỗ của Phạm Công Trứ mới tìm thấy của tác giả Ngô Thế Long viết: “Hai hiện tượng cô gọn và cắt bỏ là thao tác thông thường của người biên soạn sau. Nhưng đó là những việc biệt lập. Còn những sự việc có liên quan hô ứng đến sử văn của đoạn khác, nếu cắt bỏ không khéo thì lại sinh ra mâu thuẫn, khó hiểu. Chúng tôi xin nêu hai dẫn chứng sau đây: A - Năm Tân Sửu (1601) bản Lê Hi chép việc Trịnh Tùng đem quân đi đánh Nguỵ Nam Dương hầu nhà Mạc. Cuối cùng đã bêu đầu Nam quận công và bắt được em Nam quận. Người đọc không hiểu được quan hệ giữa hai danh hiệu nhân vật Nam Dương hầu và Nam quận là như thế nào. Khi đưa đoạn số 13 năm Canh Tý (1600) ở bản NVH [Nguyễn Văn Huyên] đặt vào cạnh đó (đoạn này nói rõ con Nguyễn Miễn là Nam Dương hầu, Nguyễn Nhậm tự xưng là Nam quận công) thì sự việc sáng rõ ngay. B - Năm Quý Hợi (1623) bản Lê Hi chép việc Trịnh Xuân (con Trịnh Tùng) nổi loạn, đem quân tấn công vương phủ rồi đốt phá Kinh thành Thăng Long, khiến Trịnh Tùng phải chạy ra Hồng Mai, rồi sau chết ở Thanh Xuân. Người đọc không thể hiểu được tại sao lại như thế. Vì trước đó chính bản Lê Hi chép vào năm Kỷ Mùi (1619) sau khi ám sát hụt cha đẻ là Trịnh Tùng thì Trịnh Xuân đã bị phát hiện, bị bắt giam, bị tước hết binh quyền, chờ xét xử. Thế thì làm sao còn có khả năng gây ra vụ việc năm 1623 ? Đọc lại bản NVH ta lại thấy có hai đoạn mà bản Lê Hi lược bỏ: đó là vào năm Canh Thân (1620) Trịnh Tùng đã tha tội cho Trịnh Xuân, trả lại nguyên chức tước và năm Tân Dậu (1621) lại sai Trịnh Xuân đi đánh Cao Bằng. Lúc đó Trịnh Xuân đã hục hặc tranh công với anh là Trịnh Tráng. Do đó, đến năm 1623 khi Trịnh Tùng ốm nặng, muốn truyền ngôi chúa cho Trịnh Tráng, thì nổ ra vụ bạo loạn của Trịnh Xuân, thật là hợp lôgíc. Qua hai dẫn chứng trên, ta thấy Lê Hi đã lược bỏ một số chi tiết mà không chú thích nên gây ra sự thiếu hoàn chỉnh, thiếu nhất quán, khó hiểu”.
- Lo lắng trở nên có cơ sở khi mà đối tượng trong bài viết của tác giả Ngô Thế Long chính là sách mà chúng ta đang sử dụng để khảo sát về Hoài Văn hầu Quốc Toản.
- Cơ sở khác khiến người viết cho rằng Hoài Văn hầu có họ tên Trịnh Quốc Toản, là cả Hoài Văn hầu Quốc Toản và Hoài Nhân vương đều rất hăng hái nhưng do trẻ tuổi không được dự bàn. Thế mà sách sử chỉ ghi chép các hành động của Hoài Văn hầu trong khi Hoài Nhân vương thì không có ghi chép nào ?
- Sự hăng say dũng cảm của Hoài Văn hầu làm liên tưởng tới những thủ lĩnh của các dân tộc miền núi, cụ thể xin dẫn 2 tài liệu bên dưới.
Toàn thư chép: “Ất Dậu [1285] Du binh giặc đến huyện Phù Ninh, viên phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Trĩ Sơn cố thủ. Giặc đóng ở động Cự Đà. Hà Đặc lấy tre đan thành những hình người to lớn, cho mặc áo, cứ đến chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Lại dùi thủng cây to, cắm tên người lớn vào giữa lỗ để giặc ngờ là sức bắn khoẻ xuyên suốt được. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc. Quân ta hăng hái xông ra đánh bại được giặc. Đặc đuổi đánh đến A Lạp, bắc cầu phao qua sông, hăng đánh quá bị tử trận. Em là Chương bị giặc bắt, lấy trộm được cờ xí, y phục của giặc trốn về, đem dâng lên, xin dùng cờ ấy giả làm quân giặc, đến doanh trại giặc. Giặc không ngờ là quân ta, do vậy ta cản phá được chúng”.
An Nam chí nguyên chép: “Người Lạo. Các người Lạo trên đây đều ở giáp giới với Lão Qua và Quảng Tây, về tình hình tập quán và thị hiếu của họ lại khác hẳn, không giống nhau (…) Họ hay dùng nhiều cung nỏ và cây thương, họ thích chiến đấu, họ đặt trống đồng ở giữa sàn (…) Các phủ các châu như Tuyên Quang, Quy Hóa, Gia Hưng và Ngọc Ma có người Lạo uống bằng mũi”.
-  Nếu Hoài Văn hầu là Trịnh Quốc Toản thì hẳn là ngài phải trưởng thành nên mới có lệnh quản dẫn voi thuần sang phương bắc cống. Nhưng như thế trái ngược với ghi chép của Toàn thư. Người viết cho rằng vốn tài liệu gốc chép: Hoài Văn hầu là người ngoại tộc, Hoài Nhân vương còn thiếu niên đều không cho dự. Nhưng khi biên soạn lại người đời sau gom chép như chúng ta đã thấy và việc này cũng giúp giải thích được vì sao Toản tuy mang tước hầu nhưng lại được chép trước Kiến mang tước vương.
- Thêm nữa nó cũng góp phần giải thích vì sao Hoài Văn hầu đã rất hổ thẹn và phẫn kích trong khi Hoài Nhân vương lại không tỏ rõ thái độ. Việc Hoài Văn hầu Trịnh Đình Toản đã trưởng thành thì rất khó có mối quan hệ cha con với Chiêu Văn vương, trường hợp Trần Nhật Duật cắt tóc tuyên thệ với Hứa Tông Đạo gợi ý về mối quan hệ anh em kết nghĩa giữa Hoài Văn hầu và Chiêu Văn vương.
- Khảo sát thực địa thì Hoài Văn vương Quốc Toản rất ít được người Việt thờ, có thể ngài thuộc tộc người khác nên như thế chăng. Cũng không loại trừ khả năng giống trường hợp của Khắc Chung được ban quốc tính như tài liệu bên dưới. Toàn thư có chép việc sau khi ngài chết, vua thương tiếc đích thân làm văn tế, gia phong tước vương. Vì chép là Vua nên cái chết của Hoài Văn vương phải nằm trong quãng thời gian Trần Khâm làm hoàng đế (1278-1293) việc này củng cố cho ghi chép của Kinh thế đại điển tự lục.
Toàn thư chép: “Kỷ Sửu [1289] Mùa hạ tháng 4, định công dẹp giặc Nguyên. Tiến phong Hưng Đạo Vương làm Đại Vương, Hưng Vũ Vương làm Khai Quốc công, Hưng Nhượng Vương làm Tiết độ sứ. Người nào có công lớn thì được ban quốc tính. Khắc Chung được dự trong số đó, lại được nhận chức Đại hành khiển. Đỗ Hành chỉ được phong Quan nội hầu, vì khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên quan gia, lại dâng lên Thượng hoàng. Hưng Trí Vương không được thăng trật, vì đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở, mà lại còn đón đánh chúng. Cho Man trưởng Lạng Giang Lương Uất làm trại chủ Quy Hóa. Hà Tất Năng làm Quan phục hầu vì đã chỉ huy người Man đánh giặc”.
Toàn thư chép: “Nhâm Thìn [1232] Tháng 2, thi thái học sinh. Đỗ đệ nhất giáp là Trương Hanh, Lưu Diễm; đệ nhị giáp là Đặng Diễn, Trịnh Phẫu; đệ tam giáp là Trần Chu Phổ (...) Ất Dậu [1285] Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem gia thuộc đầu hàng quân Nguyên (…) Đinh Hợi [1287] Tháng 11 ngày 14, Trịnh Xiển tâu rằng thái tử Nguyên A Thai xâm phạm ải Phú Lương (...) Canh Tý [1300] Ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự”.
Tiểu kết: Tôi giả thuyết rằng Hoài Văn hầu có họ tên Trịnh Đình Toản hoặc Trịnh Quốc Toản, thuộc gia tộc họ Trịnh đạo Đà Giang và có mối quan hệ anh em kết nghĩa với Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật.

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

BÀN VỀ THÂN THẾ CỦA NHÂN HUỆ VƯƠNG TRẦN KHÁNH DƯ



1. Sau khi tách khỏi đoàn quân của Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 28 tháng 10 âm lịch (04/12/1287) Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đi Khâm Châu. Ngày 12 tháng 11 (17/12/1287) Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp xuất phát từ Khâm Châu. Ngày 15 tháng 11 (20/12/1287) Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp qua cửa sông Vạn Ninh (Móng Cái). Nhân Đức hầu Trần Da phục binh tại Lãng Sơn (Móng Cái) toan đánh phía sau địch. Ô Mã Nhi biết, lệnh ban đêm vây núi Lãng Sơn, sáng ngày sau tấn công. Nhân Đức hầu buộc rút [Trận đầu Đại Việt chết đuối vài trăm người, mất vài chục chiếc thuyền] Ô Mã Nhi thừa thắng, đuổi theo. Giao chiến ở Song Môn. Rồi tiến vào cửa An Bang (Quảng Yên) [Trận An Bang, Đại Việt chết 2 ngàn quân, mất 60 thuyết] [Tổng thiệt hại của Đại Việt tại các trận Lãng Sơn, Song Môn, An Bang là 4 ngàn quân, hơn 100 thuyền. Như thế tại trận Song Môn, Đại Việt chết hơn một ngàn người, vài chục thuyền]
- Sau khi qua cửa An Bang, Ô Mã Nhi theo sông Bạch Đằng tiến về phía Vạn Kiếp, hội cùng Thoát Hoan vào ngày 28 tháng 11 (02/01/1288). Ngày 03 tháng 12 (07/01/1288) Thoát Hoan tiến đến Tứ Thập Nguyên, sai Ô Mã Nhi đem quân cướp lương thực của dân. Ngày 29 tháng 12 (02/02/1288) Thoát Hoan tấn công Thăng Long. Ngày 04 tháng 01 (06/02/1288) Trấn Nam vương sai Ô Mã Nhi đem thủy quân ra biển kiếm đoàn vận lương của Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi theo cửa Đại Bàng đến Tháp Sơn, giao chiến với ngàn thuyền Đại Việt, phá được. Đến cửa An Bang không thấy thuyền vận lương của Trương Văn Hổ nên trở về Vạn Kiếp [dựa theo Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Trần Nhân Tông con người và tác phẩm, An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Nguyên sử]
Nguyên sử chép: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm trước đi đến Đồn Sơn, gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ tiến đánh quân hai bên bị giết cũng tương đương nhau. Đến biển Lục Thủy [Đông Nam Quảng Yên] thì thuyền địch dần nhiều thêm (Văn Hổ) liệu rằng không thể địch nổi, nhưng thuyền nặng không thể chạy được, bèn đánh chìm gạo thóc xuống biển, rồi chạy đến Quỳnh Châu” [Bản dịch của Châu Hải Đường]
Toàn thư chép: “Ngày 30 [tháng 12] thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh vào Vạn Kiếp (…) Khi ấy, thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi thượng hoàng được tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói với trung sứ: "Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn". Trung sứ theo lời xin đó. Kháng Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến [Khánh Dư] đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều. Lập tức sai chạy ngựa mang thư về báo. Thượng hoàng tha cho tội trước không hỏi đến”.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm viết: “Toàn thư cũng chép trận Vân Đồn vào tháng 12 tuy không rõ ngày nhưng lại chép sau một sự kiện khác vào ngày 30 tháng 12 âm lịch. Chú ý là năm đó tháng 12 âm lịch không có ngày 30 (…) Tin thất trận về đến triều có lẽ vào khoảng cuối tháng 11 và khi sứ giả của Thánh Tông đến chỗ Khánh Dư thì vào đầu tháng 12. Chiến thắng Vân Đồn hẳn là vào đầu tháng 12 chứ không phải là cuối tháng 12”.
Toàn thư chép: “Ngày 28 [tháng 11] Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Toàn đem thủy quân đánh ở vụng Đa Mỗ giặc chết đuối rất nhiều, ta bắt sống 40 tên và thu được thuyền ngựa, khí giới đem dâng”.
Sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của hai tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm viết: “Chúng tôi cho rằng Nhân Đức hầu Trần Da và Nhân Đức hầu Toàn là một người (…) Có lẽ trận Lãng Sơn chép trong An Nam chí lược và trận Đa Mô chép trong Toàn thư là một trận, tuy tài liệu của Lê Trác thì nói địch thắng, còn Toàn thư thì nói quân ta thắng (...) Toàn thư chép trận Đa Mô vào ngày 28 tháng 11, có thể đấy là ngày Nhân Đức hầu đem dâng tù binh và chiến lợi phẩm, cũng là ngày triều đình được tin chiến thắng”.
Sách Trần Nhân Tông con người và tác phẩm của tác giả Lê Mạnh Thát viết: “Trận thủy chiến Đa Mỗ do Nhân Đức Hầu Toàn chỉ huy cũng là trận Lãng Sơn của An Nam chí lược và trận cửa An Bang cũng chỉ là một mà thôi. Tuy nhiên thời điểm xảy ra đã được ghi khác nhau. An Nam chí lược ghi ngày 11, Nguyên sử ghi ngày 15, còn ĐVSKTT thì ghi ngày 28. Những khác nhau này là do truyền tải tư liệu có sai sót, hoặc thông tin không chính xác. Điểm đáng chú ý hơn nữa là bên nào cũng cho mình thắng trong trận này cả”. 
Tân Nguyên sử chép: “Năm Chí Nguyên 24 [1287] theo Trấn Nam vương đánh An Nam, trao chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, đeo hổ phù, chở lương đến Tùng Bách loan, đón đánh, giặc thua chạy. Vương bàn bãi binh, lấy Văn Hổ đi đoạn hậu, toàn quân mà về”.
- Nguyên sử chép “kinh ngọc sơn, song môn, an bang khẩu”. An Nam chí lược chép “phục binh lãng sơn”. Toàn thư chép “Đa Mỗ loan”. Loan ( ) là vịnh biển, khuỷu sông, chỗ nước hõm vào. Rõ ràng là Nguyên sử và An Nam chí lược không hề dùng Loan khi chép về Ngọc Sơn. Bên cạnh đó là thông tin không thống nhất giữa Toàn thư với Nguyên sử về bên chiến thắng, lại thêm Toàn thư chép rất rõ rằng ngày 28 tháng 11 phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Trần Tuyền đem thủy quân đánh ở loan Đa Mỗ, từ đó tôi cho rằng Đa Mỗ không phải là Lãng Sơn. Sau khi thua ở Mũi Ngọc, Nhân Đức hầu rút lui và tham gia nhiều trận đánh khác. Tân Nguyên sử có chép đến loan Tùng Bách, mà Trương Văn Hổ phá được giặc, nên rất có thể Tùng Bách tương ứng với Đồn Sơn trong Nguyên sử.
- Qua những ghi chép về các trận thủy chiến Lãng Sơn, Song Môn, An Bang của An Nam chí lược và Nguyên sử cũng như ghi chép của Toàn thư về việc Trần Khánh Dư đánh thất lợi khiến thượng hoàng phải sai trung sứ đến xiềng giải về kinh. Cho thấy Ô Mã Nhi giành lợi thế rõ rệt trước Nhân Huệ vương. Thủy quân phương bắc vừa đánh vừa tiến trong vòng 13 ngày (15/11-28/11) đã hội được với Trần Nam vương thì tôi cho rằng trận đánh tại loan Đa Mỗ do Nhân Đức hầu thống lĩnh không thể xảy ra trước khi Ô Mã Nhi hội quân tại Vạn Kiếp. Trận Trần Tuyền đánh kiến giặc chết đuối rất nhiều cũng không thể xảy ra vào ngày 28 tháng 11 được, vì thời điểm đó các cánh quân phương bắc đã hội, Thoát Hoan lệnh cho quân lính đi đánh chiếm các khu vực lân cận. Nên tôi cho rằng ngày 28 tháng 11 Nhân Đức hầu đem quân trấn giữ tại loan Đa Mỗ và Trần Tuyền không nhận lệnh từ vua mà hoàn toàn chủ động. Nói cách khác, cuộc chiến mà Nhân Đức hầu khiến giặc chết đuối rất nhiều phải diễn ra vào tháng 12, lại thêm chiến trường mà Trần Da tham dự là trên biển do đó tôi cho rằng trận Đa Mỗ là cuộc chiến với đoàn lương của Văn Hổ.
Thứ nhất những ghi chép của Toàn thư về trận Vân Đồn do Nhân Huệ vương thống lĩnh có sai lệch, cụ thể như tháng 12 không có ngày 30 và trận đánh chìm thuyền lương của Văn Hổ diễn ra vào đầu tháng 12.
Thứ hai trận đánh kiến giặc chết đuối rất nhiều của Nhân Đức hầu mà Toàn thư chép phù hợp với trận đánh ở biển Lục Thủy trong Nguyên sử và cũng phù hợp với trận đánh tại Vân Đồn của Trần Khánh Dư.
Thứ ba trận Vân Đồn mang tính bước ngoặt của cuộc chiến, nhưng An Nam chí lược lại không chép đến Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, nếu cho rằng Lê Tắc không biết thì không đúng, vì ngài biết trận Lãng Sơn mà Trần Da chỉ huy.
Nên từ đó, tôi cho rằng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chính là Nhân Đức hầu Trần Da.
Toàn thư chép: “Nhâm Ngọ [1282] Mùa đông tháng 10, vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu. Lấy Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân. Lần trước, quân Nguyên vào cướp, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân sơ hở đánh úp quân giặc. Thượng hoàng khen ông có trí lược, lập làm Thiên tử nghĩa nam. Sau đó, đánh người Man ở vùng núi, thắng lớn, được phong làm Phiêu Kỵ đại tướng quân. Chức Phiêu Kỵ tướng quân nếu không phải là hoàng tử thì không được phong. Vì Khánh Dư là Thiên tử nghĩa nam cho nên mới có lệnh đó. Rồi từ trật hầu thăng mãi đến tử phục thượng vị hầu, quyền chức phán thủ. Sau Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thuỵ. Bấy giờ Hưng Vũ Vương Nghiễn vì là con trai Quốc Tuấn, được lấy công chúa Thiên Thuỵ, lại công đánh giặc. Vua sợ phật ý Quốc Tuấn, mới sai người đánh chết Khánh Dư ở Hồ Tây, nhưng lai dặn chớ đánh đau quá, để không đến nỗi chết. Ít lâu sau xuống chiếu đoạt hết quan tước, quân tịch thu tài sản không để lại cho một chút gì. Châu Chí Linh vốn là của riêng của Thượng tướng Trần Phó Duyệt, nên Khánh Dư mới giữ lại được. Khánh Dư lui về ở Chí Linh, cùng bọn hèn hạ làm nghề bán than.
Lúc đó, thuyền vua đỗ ở bến Bình Than, nước triều rút, gió thổi mạnh, có chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo quan thị thần: "Người kia chẳng phải là Nhân Huệ Vương đó sao". Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì kịp. Quân hiệu gọi: "Ông lái ơi, có lệnh vua triệu". Khánh Dư trả lời: "Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu". Quân hiệu trở về tâu thực như thế. Vua bảo: "Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá [đến gặp vua]. Vua nói: "Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùngcực rồi". Bèn xuống chiếu tha tội cho ông. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua. Đến đây, tháng 10, lại cho Khánh Dư làm Phó tướng quân. Nhưng rốt cuộc Khánh Dư cũng không sửa đổi được những lỗi lầm cũ”.
- Như ghi chép của Toàn thư thì Trần Khánh Dư có công trong cuộc chiến chống quân Mông Cổ năm 1257 nên được lập làm thiên tử nghĩa nam. Sau Nhân Huệ vương thông dâm với vợ của Hưng Vũ vương Nghiễm là công chúa Thiên Thụy nên bị mất quan tước, tài sản, bổng lộc phải làm nghề bán than tại Chí Linh. Tháng 10/1282 Trần Nhân Tông ngự ra Bình Than, bàn kế chống giặc, thấy Khánh Dư cơ cực liền xuống chiếu tha tội, phục quan tước, ban phó tướng quân, sau giữ quyền quyết trên biển, thế rõ ràng rất ưu ái.
- Xem thêm tước hiệu và tên, thấy rằng Huệ ( ) có nghĩa là điều tốt, ơn huệ. Khánh ( ) có nghĩa là mừng, chúc mừng. Dư ( ) có nghĩa là thừa ra. Như thế Nhân Huệ vương là thể hiện tước hiệu được ban từ ân huệ của vua và Trần Khánh Dư là thể hiện việc thừa niềm vui mừng của người được ban tước hiệu. Sách sử chép những trường hợp tương tự như Ngự sử trung tướng Lê Tần được ban Bảo Văn hầu Lê Phụ Trần năm 1258 và Kiến Đức hầu Trần Trọng được ban Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng năm 1285.
- Nên tôi cho rằng vốn ngài là Nhân Đức hầu Trần Da vì có tội bị tịch thu tài sản, bắt làm thứ dân nhưng sau được phục tước Nhân Huệ vương, cảm kích trước ân điển của vua Trần Nhân Tông nên ngài tự đổi sang tên Khánh Dư để thể hiện việc vui mừng rất lớn ấy, Ngô sử gia thu thập cả thông tin chính sử và dân truyền để soạn Toàn thư thành ra cho chúng ta thông tin về 2 nhân vật Nhân Đức hầu Trần Tuyền và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư nhưng thực chất chỉ là một người.
Bài Địa vị An Nam chí lược trong kho tàng lịch sử Việt Nam của tác giả Hồ Bạch Thảo viết: “Sau đây là bản dịch về hai cuộc xâm lăng, riêng những chữ trong ngoặc do người dịch thêm vào (…) Ngày 11 tháng Một, cánh quân thủy ra quân trước, tới cửa biển Vạn Ninh, tướng giặc là Nhân Đức hầu Trần Da [Trần Khánh Dư] phục binh tại núi Lãng Sơn định đánh tập hậu”.
2. Bài Giải mã vấn đề Thân Thiệu Thái / Vũ Tỉnh - Thân Cảnh Phúc / Vũ Thành của tác giả Khổng Đức Thiêm viết: “Vũ Thành không hề tồn tại trong lịch sử triều Trần; Vũ Thành chính là hiện thân của Thân Cảnh Phúc trước đó mấy trăm năm và là đặc hữu của triều đại nhà Lý”.
- Tôi sẽ cố gắng bóc tách những thông tin lịch sử được tích hợp trong truyền thuyết về Vũ Thành. Văn bản được sử dụng là sách Truyền thuyết dân gian người Việt của Viện nghiên cứu văn hóa.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Truyện Vũ Thành. Vua Lý Huệ Tông tuổi đã cao rồi mà vẫn chưa sinh được hoàng tử nào, bèn truyền ngôi cho người con gái cả là công chúa Lý Chiêu Hoàng, người con gái thứ hai gả cho quan thị phó vương tả bộc xạ Vũ Tỉnh. Lý Huệ Tông mất, Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh”.
- Thứ nhất theo sách sử Lý Huệ Tông tuổi chưa cao. Toàn thư và Việt sử lược chép rằng Lý Chiêu Hoàng là con gái thứ.
- Thứ hai theo Toàn thư và Việt sử lược thì con gái đầu của Huệ Tông được gả cho Trần Liễu và con gái thứ được gả cho Trần Cảnh nhưng theo An Nam chí lược thì Cảnh lại lấy người em vợ.
- Thứ ba đối chiếu với truyền thuyết thì Vũ Tỉnh lấy con gái thứ của Huệ Tông, theo An Nam chí lược người em vợ rất có thể là công chúa Thuận Thiên, do đó đặt giả thuyết Vũ Tỉnh chính là ánh xạ của Trần Liễu.
- Nói thêm về chữ Tỉnh. Truyện Việt Tỉnh trong Lĩnh Nam chích quái viết rằng “Việt Tỉnh ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh”. Đỗ Tử Vi thời Trần có thơ rằng: “Việt Tỉnh thê lương, thảo sắc thu - Tích lưu sự khứ sử nhân sầu” để cảm thán cho chàng Thôi Vỹ không biết đã đi đâu. Tôi cho rằng tên Tỉnh của Tả bộc xạ từ Việt Tỉnh mà ra, còn việc ngài mang họ Vũ thì có nguồn cơn từ người con trai.
Bản thần tích tại làng Thọ Lão, xã Thọ An, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây viết: “Càn Vương đang nằm nghỉ ở chính cung (…) không bệnh mà tự nhiên hoá (…) hai ông Tuấn Công và Thành Công làm biểu dâng lên, nhà vua nghe tin đích thân ngự giá tới cung làm lễ (…) Tuấn Công, Thành Công đều đã phương trưởng. Họ tài giỏi mưu trí, dũng lược hơn người, triều đình đều khen ngợi, nên được nhà vua trao cho chức hành khiển (…) Mông Cổ đến xâm lược, nhà vua trao lại cho Tuấn Công làm Hưng Đạo Đại vương tiết chế các doanh thủy, bộ. Trao cho Thành Công chức An Vương Phó lĩnh tả tướng quân”.
Toàn thư chép: “Bính Thìn [1256] Mùa thu tháng 7, Vũ Thành vương Doãn đem cả nhà trốn sang nước Tống. Thổ quan Tư Minh là Hoàng Bính bắt lại đưa trả cho ta (Doãn là con Yên Sinh Vương do Hiển Từ sinh. Yên Sinh có hiềm khích với vua, đến khi Hiển Từ mất, bị thất thế, nên trốn sang nước Tống). Vua thưởng vàng lụa cho Bính. Do đấy việc giữ phòng quan ải càng thêm nghiêm ngặt”.
- Theo như Toàn thư thì con trai của Trần Liễu có tên là Doãn, tước vương hiệu là Vũ Thành. Như chúng ta giả thuyết: Vũ Tỉnh là Trần Liễu mà con trai của Vũ Tỉnh có tên trùng khớp với tên hiệu của con trai Trần Liễu. Rất thú vị đúng không ? Theo tôi tiến trình xảy ra như sau: vì kiêng tên cúng cơm nên dân gian chỉ gọi Vũ Thành vương, lâu dần tước vương bị rụng nên chỉ còn Vũ Thành.
- Ngoài tước hiệu Vũ Thành vương, giống như Yên Sinh vương, Trần Doãn có nhiều tước hiệu trong đó không loại trừ An Thành vương. Vùng Thọ Lão đã tách tước hiệu nên có An vương Trần Thành. Trường hợp thần tích làng Thọ Lão là minh chứng khả dĩ cho việc biến đổi chữ Thành từ tước hiệu sang tên riêng.
- Sự kiện thổ quan châu Tư Minh là Hoàng Bính bắt được Doãn gợi ý về tuyến đường di chuyển của Vũ Thành vương từ Vũ Ninh, Lục Ngạn, Thành phố Lạng Sơn, Tư Minh. Lại thêm, thân phụ của Vũ Thành có tên là Tỉnh, rất có thể vốn bắt nguồn từ Việt Tỉnh nên tôi cho rằng ấp phong của Trần Doãn tại châu Vũ Ninh. Có thể vì kiêng tên húy của Trần Liễu nên dân gian đã lấy tên địa danh nổi tiếng để gọi thay, nhưng vẫn giữ lại thông tin về mối quan hệ giữa ánh xạ của Yên Sinh vương là Vũ Tỉnh với triều Lý thông qua hôn nhân.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Truyện Vũ Thành. Vũ Thành kết duyên với người con gái thôn Giáp, xã Hả Hộ là Giáp Thị Tuấn (…) Vũ Thành mộng thấy một ông lão ban cho một chữ Thiệt (  -  cái lưỡi. Lưỡi dùng để nói) nhìn kỹ thì thấy chữ ấy thiếu một nét trên đầu (chữ Thiệt thiếu nét phẩy trên đầu thì biến thành chữ Cổ - ). Nhà Nguyên xâm lược, phong Vũ Thành làm tri hiệu đầu thượng tướng”.
Bài Người anh ruột Trần Thủ Độ tên thật là gì của tác giả Lê Hải Nam viết: “Nhân Thành hầu Trần Duyệt là con của Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ (theo An Nam chí lược) vậy có thể sinh khoảng năm 1216 (không là con trưởng vì con trưởng được phong vương, còn con thứ đều phong hầu theo lệ nhà Trần). Do nhà Trần rất kiêng tên húy nên chắc chắn không có ai dám trùng tên với Trần Duyệt cả. Vậy mà trong Toàn thư có một người họ nhà vua là Trần Phó Duyệt giữ chức thượng tướng. Vậy chắc Trần Duyệt của An Nam chí lược cũng là Trần Phó Duyệt của Toàn thư mà thôi. Trần Duyệt có tước Nhân Thành hầu, mà Trần Phó Duyệt có họ hàng với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Quan hệ dòng tộc giữa Nhân Thành hầu Trần (Phó) Duyệt và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư ra sao, có phải cha con không, sẽ nói trong bài khác khi có dịp” [dẫn theo sách Long Hưng - Đất phát nghiệp vương triều Trần của tác giả Đặng Hùng]
Toàn thư chép: “Bính Dần [1266] Tháng 3, mở khoa thi chọn học trò, Ban đỗ kinh trạng nguyên Trần Cố, trại trạng nguyên Bạch Liêu (…) Liêu người Nghệ An, tính thông minh nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng một mạch. Bấy giờ, thượng tướng Quang Khải coi Nghệ An, Liêu làm môn khách mà không làm quan”.
- Trên tôi có đưa ra giả thuyết Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư vốn là Nhân Đức hầu Trần Da. Khi Ngô sử gia soạn Toàn thư đã sử dụng chính sử nên chúng ta có thông tin về Trần Tuyền, đồng thời lại sử dụng cả dân truyền nên chúng ta có thêm thông tin về Trần Khánh Dư, mà rất có thể bao gồm cả thông tin về mối quan hệ giữa Nhân Huệ vương với thượng tướng Trần Phó Duyệt. Toàn thư không chép mối quan hệ cụ thể giữa Trần Phó Duyệt với Trần Khánh Dư. Mối quan hệ cha con là do người đời sau diễn giải.
- Chữ ( ) có âm Hán Việt là: Duyệt, Thuyết, Thuế. Cả 3 đều có nghĩa là nói, giảng. Việc này làm chúng ta liên tưởng tới chữ Thiệt trong truyện Vũ Thành. Lại thêm, Toàn thư cho biết Trần Phó Duyệt giữ chức thượng tướng mà Vũ Thành cũng giữ chức thượng tướng. Theo Toàn thư thì năm 1266 Quang Khải đã giữ chức thượng tướng nên Trần Phó Duyệt nếu có giữ chức thượng tướng thì phải trước năm 1266, nói cách khác cuộc kháng chiến chống quân phương bắc do Vũ Thành thống lĩnh phải vào năm 1257.
Bài Các công chúa của vua Trần Thái Tông của tác giả Bùi Văn Tam viết: “Dân binh của Vũ Thành giỏi đánh du kích”.
Toàn thư chép: “Đinh Tỵ [1257] Tháng 9, xuống chiếu lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn (…) Đinh Sửu [1277] Mùa xuân tháng 2, vua thân chinh đánh người Man, Lạo ở động Nẫm Bà La [Phủ lộ Bố Chính] bắt sống bộ đảng hơn 1.000 người giải về”.
- Theo như Toàn thư thì năm 1257 Hưng Đạo vương tham gia cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, theo thần tích làng Thọ Lão thì An Thành vương cũng tham gia. Trung Dũng hầu Vũ Thành rất giỏi đánh du kích, thông tin này làm chúng ta liên tưởng tới sự kiện trong Toàn thư chép về Trần Khánh Dư như sau “Lần trước quân Nguyên vào cướp, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân sơ hở đánh úp quân giặc” và An Nam chí lược chép về Trần Tuyền như sau “Nhân Đức hầu Trần Da phục binh tại Lãng Sơn toan đánh mặt sau”.
- Toàn thư cho biết sau lần đánh úp quân Mông Cổ, Trần Khánh Dư được thượng hoàng khen lập làm Thiên tử nghĩa nam, sau đánh giặc Man được phong làm Phiêu kỵ đại tướng quân. Ghi chép của Toàn thư từ năm 1257 đến năm 1284 có duy một lần triều đình đánh giặc Man vào năm 1277, cuộc chiến tại Bố Chính do đích thân Trần Thánh Tông thống lĩnh, lại thêm Toàn thư mục năm 1277 chép là “động” còn mục năm 1282 chép là “vùng núi” nên rất có thể sau trận năm 1277 Trần Khánh Dư được phong Phiêu kỵ đại tướng quân.
- Rõ ràng việc thượng hoàng nhận làm Thiên tử nghĩa nam phải diễn ra trước năm 1277 nên thượng hoàng có thể là Trần Thái Tông, cũng có thể là Trần Thánh Tông. Nếu là Trần Thái Tông thì người được nhận có thể là Trần Phó Duyệt nhưng nếu là Trần Thánh Tông thì người được nhận phải là Trần Khánh Dư.
- Theo Toàn thư thì Trần Khánh Dư từ tước hầu thăng mãi lên thượng vị hầu, quyền chức Phán thủ. Cũng lại theo Toàn thư mục năm 1287 chép Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Tuyền. Như thế có thể khẳng định, Trần Khánh Dư giữ chức Phán thủ, tước Thượng vị hầu.
Bài Trần Khánh Dư có lập công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất năm 1258 hay không của tác giả Trần Nhuận Minh viết: “Như vậy năm đánh úp giặc Nguyên 1258, Trần Khánh Dư bao nhiêu tuổi ? Nếu năm đó 18 tuổi, Trần Khánh Dư làm tướng, thì ông sinh năm 1240, mà mất năm 1339 thì ông thọ 99 tuổi (1240 - 1339). Trẻ nhất cũng phải như Trần Quốc Toản 16 tuổi, thì Trần Khánh Dư sinh năm 1242, mà mất năm 1339 thì ông thọ 97 tuổi (1242 - 1339). Các tướng thời Trần (do ốm mà mất) như Trần Liễu thọ 40 tuổi (1211 - 1251) Trần Quang Khải thọ 53 tuổi (1241 - 1294) Trần Quốc Tảng thọ 61 tuổi (1252 - 1213). Khó lòng tin được Trần Khánh Dư đã sống đến 97 hay 99 tuổi, trong khi sử ghi vị tướng thọ nhất ở thời Trần là Trần Nhật Duật chỉ đến 77 tuổi”.
Bài Bí ẩn năm sinh Trần Khánh Dư của tác giả Nguyễn Văn Toàn viết: “Nếu như chúng ta đã xác định được Trần Khánh Dư sinh vào năm 1241 thì ông sẽ sống thọ 98 tuổi (tức 99 tuổi tính theo tuổi âm lịch).  Điều này phù hợp với cuộc đời của ông vì từ khi lập công trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất năm 1258 đến năm mất 1339” [Xin xem thêm bài viết để rõ các lập luận của tác giả]
Toàn thư chép: “Kỷ Tỵ [1269] Tháng 9, phong Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang làm Vọng Giang phiêu kỵ đô thượng tướng quân”.
- Qua sự kiện Nhân Huệ vương tư thông với công chúa Thiên Thụy tôi cho rằng Trần Khánh Dư trạc tuổi với Hưng Vũ vương Nghiễn nên người được thượng hoàng nhận làm Thiên tử nghĩa nam là Trần Phó Duyệt và vì chỉ hoàng tử mới được phong nên kiêm thêm chức Phiêu kỵ tướng quân. Qua ghi chép của Toàn thư mục năm 1287 là “Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu Tuyền” chúng ta thấy có đầy đủ các thông tin như tên húy Tuyền, tước thượng vị hầu, tên hiệu Nhân Đức, chức Phán thủ nên nếu như Trần Tuyền giữ thêm chức Phiêu kỵ đại tướng quân thì rất có thể Ngô sử gia sẽ chép lại.
Toàn thư chép: “Đinh Dậu [1237] Lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vợ của Hoài Vương Liễu, anh vua, làm hoàng hậu Thuận Thiên. Giáng Chiêu Thánh làm công chúa. Bấy giờ Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên đã có mang Quốc Khang 3 tháng. Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực bàn kính với vua là nên mạo nhận lấy để làm chổ dựa về sau, cho nên có lệnh ấy. Vì thế, Liễu họp quân ra sông Cái làm loạn (...) Mậu Thân [1248] Tháng 6, hoàng hậu Thuận Thiên băng, truy tôn là Hiển Tử Thuận Thiên hoàng thái hậu (…) Đinh Hợi [1287] Ngày 24 [tháng 11] lệnh cho cấm quân giữ ải Lãnh Kinh. Hưng Đức hầu Quán đem quân đón đánh, dùng tên tẩm thuốc độc bắn giặc chết và bị thương rất nhiều. Giặc lui về đóng ở ải Vũ Cao”.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Truyện Sự tích Doãn công dẹp giặc Tô Định. Ngài là con đức Cao Nguyên công (…) ngày mồng 6 tháng 2 năm Canh Dần [1230 - người viết] giờ Dần, sinh ra ngài, diện mạo khác thướng, đặt tên là Doãn công (…) Khu Bảo Tháp, trang Đông Cứu, huyện Gia Bình, phủ Thuận An có thầy dạy học là Nguyễn Tín công (…) lưu hai mẹ con Doãn công ở nhà [nhận làm con nuôi] Nguyễn công có người con gái là Đào nương bèn gả cho Doãn công làm vợ (…) Hai vợ chồng Doãn công lập dinh trại ở khu Bảo Tháp và đi chiêu mộ quân dân ở các quận huyện được hơn 2 vạn người. Khu Hương Vinh thuộc trang Đông Cứu có Trương Quán công là bậc anh hùng cũng kết đảng được ngàn người, tình nguyện theo giúp Doãn công (…) Doãn công phụng mệnh cùng các tướng đem quân đến thành Lạng Sơn chống cự (…) hơn một năm không phân thắng bại (…) bèn trở về khu Bảo Tháp (…) ngài hóa ngày 20 tháng 7”.
- Sách Truyền thuyết dân gian người Việt giới thiệu 2 truyện về nhân vật Doãn công có nội dung giống nhau. Truyện Doãn công Đào nương không chép về cuộc chiến giữa Doãn công với Mã Viện cũng như ngày hóa của ngài, nhưng có giới thiệu về quê ngài miền Tam Đái, đạo Sơn Tây. Thêm khác biệt nữa là mẹ ngài có họ tên Đào Thị Đức và gia cảnh bần hàn nên phải lưu lạc tới Gia Bình. Thú vị là cha ngài mang họ Nguyễn! Như vậy là trong 2 truyện, thông số Họ có tính thay đổi, trong khi Tên lại cố định.
- Truyện cho biết năm sinh của ngài là Canh Dần, tôi muốn chú thích rõ thêm là năm 1230. Thượng sĩ ngữ lục cho biết Hưng Ninh vương Trần Tung sinh năm 1230 và ngài là đệ nhất tử của Khâm Minh Từ Thiện vương Trần Liễu, chứ không phải là trưởng tử. Truyện cũng cho biết thêm, ngài hóa vào tháng 7, sự kiện làm liên tưởng việc Trần Doãn trốn sang phương bắc.
- Sự kiện mẹ con Doãn công lưu tại nhà Nguyễn công làm liên tưởng tới việc Thuận Thiên công chúa bị ép phải làm hậu của Thái Tông Trần Cảnh. Trên chúng ta có giả thuyết rằng người nhân sơ hở đánh tập hậu quân Mông Cổ năm 1258 là thượng tướng Trần Phó Duyệt. Tôi đặt thêm giả thuyết Trần Phó Duyệt là Vũ Thành vương Trần Doãn. Nếu vậy thì vào tháng 7/1256 Doãn có ý định trốn sang phương bắc thì vào năm 1257 sao có thể cùng triều Trần chống giặc ? Nếu không thể thì làm sao được ban Thiên tử nghĩa nam ?
- Sau khi làm loạn vào năm 1236, những người theo Trần Liễu đều bị giết, Trần Tung thì không rõ hành trạng, Trần Quốc Tuấn thì gửi công chúa Thụy Bà nuôi và Trần Doãn rất có thể theo mẹ là công chúa Thuận Thiên về kinh thành, nên cũng giống như Tĩnh Quốc Khang, Trần Doãn được nhận làm Thiên tử nghĩa nam. Toàn thư chép rằng khi Hiển Từ mất, bị thất thế nên trốn sang phương bắc, nhưng công chúa mất năm 1248, trước khi Vũ Thành vương vượt biên 8 năm, lại thêm anh em của Trần Doãn không thấy ai có ý định trốn sang phương bắc. Nên thất thế cần hiểu là Vũ Thành vương không trụ nổi tại kinh thành, buộc phải trở về đất cũ của cha, khi tình hình chiến sự nóng dẫn, vốn có thiên kiến với triều Trần, Doãn lén trốn sang đất Tống.
- Trong các con của Trần Liễu, do là con của Thuận Thiên nên Trần Doãn có những đặc ân hơn các anh em khác, ngài sinh cùng năm với Hưng Ninh vương, nhưng vốn là con của công chúa nên tuy ngài ít hơn vài tháng nhưng vẫn là trưởng tử. 
Đại Nam nhất thống chí chép: “Sông Bài ở cách huyện Nghiêu Phong 4 dặm về phía đông nam, có tên nữa là sông Cát Nương Kỹ Vĩ, nguồn từ sông Bồi và sông Tranh thuộc huyện Yên Hưng, chảy về phía nam hợp với nhau, chảy 2 dặm đến xã Phù Long, có một chi khác từ phía tây nam chảy đến đổ vào, lại chảy 11 dặm về phía đông đến cửa biển Nghiêu Phong, Sông này có hạt trai, năm Gia Long thứ 6 [1807] thường sai quan thuê người huyện Giáp Sơn trấn Hải Dương lặn mò trai (…) lại sai lấy nước giếng Cổ Loa ở Bắc Ninh để rửa, quả nhiên sắc hạt trai trong sáng (…) Xét Đại Thanh nhất thống chí: trong biển Vân Đồn châu Tĩnh Yên có hạt châu (...) Hòn Ba Áng ở phía đông huyện, lưng núi có động, trong động có thạch nhũ tủa xuống, trông như hình vẽ, cảnh trí dễ yêu (...) Huyện Nghiêu Phong cách phủ 35 dặm về phía tây nam, đông tây cách nhau 129 dặm, năm bắc cách nhau 12 dặm, phía đông ra biển đến dương phận Vạn Ninh 7 dặm, phía tây đến dương phận 2 huyện Nghi Dương và An Dương tỉnh Hải Dương 7 dặm, phía nam đến biển 3 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Yên Hưng 9 dặm (...) Cửa Lục cách huyện Hoành Bồ 17 dặm về phía đông nam, hai bên bờ đều là núi đất chân đá, phía trên lên đến sông Tứ Xuyên, cách tỉnh thành một ngày đường thủy (…) Sử chép năm Trùng Hưng thứ 4 [1288] Phó tướng Vân Đồn là Trần Khánh Dư đánh thuyền lương của tướng Nguyên là Trương Văn Hổ ở biển Lục (…) tức là chỗ này (…) Huyền Hoành Bồ đông tây cách nhau 90 dặm, năm bắc cách nhau 74 dặm, phía đông đến địa giới châu Tiên Yên 65 dặm, phía tây đến địa giới châu Yêu Hưng 25 dặm, phía nam đến biển 9 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Yên Bác tỉnh Lạng Sơn 65 dặm”.
Toàn thư chép: “Canh Tý [1300] Quốc Tuấn lại sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát quái cửu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Nhân Huệ Vương Khánh Dư viết bài tựa cho sách ấy”.
- Toàn thư chép sau khi có chiếu đoạt hết quan tước, tịch thu tài sản Trần Khánh Dư trở về Chí Linh vốn là của riêng Trần Phó Duyệt. Sự kiện này khá thú vị, Nhân Huệ vương thông dâm với con dâu của Trần Quốc Tuấn, bị xử tội chết nhưng trời không nỡ nên thoát, nhưng Trần Khánh Dư lại về sống tại Chí Linh, cũng là bản doanh của Hưng Đạo vương. Lại thêm, qua việc Nhân Huệ vương viết bài tựa cho sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư do Trần Quốc Tuấn soạn thì không thấy oán thù giữa Trần Khánh Dư và người thân của Hưng Vũ vương.
- Lệ nhà Trần, các vương hầu ở ấp phong, được phép lập binh, thu thuế nhưng chịu sự giám sát của Thăng Long. Trần Thủ Độ làm tới thống quốc thái sư, dự triều chính mà vẫn phải lưu tại Quắc Hương, các hoàng tử như Trần Quốc Khang lưu tại Diễn Châu, Trần Quang Khải lưu tại Lạc Đạo. Nên Trần Phó Duyệt và Nhân Huệ vương không thể lưu tại kinh sư được.
- Vào thời điểm Trần Khánh Dư thông dâm với Thiên Thụy hẳn là ngài còn trẻ, như thế nếu Khánh Dư có ấp phong rất có thể do thừa tự. Nhưng nếu Toàn thư chép đúng là biên thu hết tài sản, phế mọi chức tước thì Nhân Huệ vương cũng không thể giữ lại được châu Chí Linh, trừ khi tại thời điểm có chiếu, Chí Linh vẫn đang thuộc sở hữu của Trần Phó Duyệt, thế nhưng Toàn thư chép rất rõ là “Chí Linh châu bản Thượng tướng Trần Phó Thuyết vật, cố Khánh Dư bảo yên”. Như thế vào thời điểm có chiếu, châu Chí Linh đã thuộc sở hữu của Trần Khánh Dư rồi.
- Mùa đông tháng 10 năm 1282 Trần Nhân Tông ngự ra Bình Than, đóng tại vũng Trần Xá để họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu, đồng thời lấy Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân. Bình Than là đoạn sông Lục Đầu chảy qua huyện Chí Linh tỉnh Hải Hưng. Châu Vũ Ninh [Quế Võ, Bắc Ninh] tiếp giáp Bình Than.
- Toàn thư mục năm 1287 có chép sự kiện Trần Quốc Tuấn giao hết công việc biên thùy cho Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Khánh Dư. Rõ ràng là cả Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương đều rất tin tưởng Nhân Đức hầu. Nhưng mà trận đánh úp quân Mông Cổ năm 1257 được thực hiện bởi tài năng của Trần Phó Duyệt, chứ không phải của Nhân Huệ vương. Vậy thì trên cơ sở nào mà Trần Tuyền được tin tưởng ?
Toàn thư chép: “Bính Thân [1296] Nhân Huệ Vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu”.
Minh Tông Trần Mạnh có thơ về Trang trại của Nhân Huệ vương như sau: “Mấy dãy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót / Một chiếc gối nằm khềnh ở xa triều đình và thành thị / Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hóa của vua / Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi / Tiếng suối chảy lặng lẽ vì nước triều ít dâng lên / Bóng cây đường thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập / Mũi rồng đâu có giống mỏ chim / Xin chớ thả thuyển lênh đênh trên Ngũ Hồ xa xôi” [Đào Phương Bình - Nam Trân dịch nghĩa]
Toàn thư chép: “Giáp Thân [1284] Hưng Vũ Vương Nghiễn, Minh Hiến Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện đốc suất 20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hung Đạo Vương để chống quân Nguyên”.
- Truyện cũng chép về anh hùng Trương Quán, người theo Doãn công đánh giặc. Nếu Doãn công là Vũ Thành vương thì Trương Quán rất có thể là Hưng Đức hầu, người đem quân đánh quân Nguyên tại khu vực Đáp Cầu [Thành phố Bắc Ninh] Toàn thư có chép việc Hưng Đạo vương lệnh cho các con trai đốc suất quân tại các ấp phong đến hội tại Vạn Kiệp, như thế rõ ràng binh pháp nhà Trần là tướng nào chỉ huy đội quân lập từ ấp phong của tướng đó và chiến trường tham dự thường tại ấp phong, nhưng đồng thời cũng hiệp thông để nghênh chiến.
- Nên rất có thể Trần Khánh Dư thống lĩnh quân đội riêng chứ không phải từ đạo quân của triều đình hoặc của Hưng Đạo vương. Sự kiện chép ngày 24 tháng 11 là chép gộp 2 sự kiện gồm: vua lệnh cho cấm quân tới giữ ải Lãnh Kinh và Hưng Đức hầu đem quân đánh quân Nguyên. Tôi cho rằng, Trần Quán cũng có quân đội riêng, không lệ thuộc vào triều đình hay Trần Quốc Tuấn.
- Rất có thể ấp phong Bài Áng của Nhân Huệ vương mà Toàn thư chép năm 1296 thuộc huyện Nghiêu Phong, bên kia biển là Vân Đồn. Như thế có khả năng trước khi cuộc chiến Việt Nguyên xảy ra, ấp phong của Trần Khánh Dư tại Nghiêu Phong - Vân Đồn, chứ không phải Chí Linh.
- Tôi cho rằng Trần Khánh Dư tuy mang tội nhưng vẫn có ấp phong và thuộc hạ, chứ không phải là kẻ bán than hèn hạ. Nói thêm về bài thơ nôm Bán than vẫn tương truyền là của Trần Khánh Dư, nhưng theo cuốn Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án thì là của một bậc di thần của chúa Nguyễn.
3. Bia Thần đạo công chúa Phụng Dương khắc: “Công chúa được 7 người con (…) Người thứ 2 là Văn Túc vương Đạo Tái (…) lấy con gái Tĩnh Quốc đại vương, là công chúa Bảo Tư (…) Cháu có 13 người, 7 trai 6 gái. Công chúa Chân Từ (…) lấy con trái Phán thủ thượng vị Vũ Ninh hầu tên là Chiểu”.
Toàn thư chép: “Ất Dậu [1285] Ngày 12 [tháng giêng] giặc đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, bắt được quân của ta, thấy người nào cũng thích hai chữ Sát Thát bằng mực vào cánh tay, chúng tức lắm, giết hại rất nhiều”.
- Bia Phụng Dương có nhắc đến Vũ Ninh hầu, chắc đây là vị thượng hầu có ấp phong tại châu Vũ Ninh, vị thượng hầu còn giữ chức Phán thủ, như thế là đồng tước đồng chức với Trần Khánh Dư. Con trai Chiểu [Dịch giả Đinh Khắc Thuân để là Thiệu] lấy cháu của công chúa Phụng Dương, tôi cho rằng thân phụ của Chân Từ là Văn Túc vương Đạo Tái.
- Trần Quang Khải sinh năm 1241, thì Đạo Tái sinh khoảng 1260. Trần Quốc Tuấn kết hôn với Thiên Thành năm 1251 vậy Hưng Vũ vương sinh khoảng 1255, nên Vũ Ninh hầu sinh vào khoảng từ 1250 đến 1260. Nói cách khác Hưng Vũ vương, Nhân Huệ vương, Vũ Túc vương, Hưng Đức hầu, Vũ Ninh hầu cùng thế hệ. Toàn thư cho biết tháng 1/1285 quân Nguyên có đánh vào Vũ Ninh và rất có thể Vũ Ninh hầu đã chống giặc tại ấp phong.
Truyền thuyết dân gian người Việt viết: “Sự tích sứ quân Nguyễn Siêu. Tục truyền Nguyễn Nê (…) làm quan thời Tấn Vũ Đế [236-290] hàm Kiêu kỵ đại tướng quân, Đô thống quản, Bình Dương hầu (…) Nhân nước Nam có loạn, thừa lệnh vua tiến xuống (…) dựng bản doanh ở Thanh Quả [?] lấy Nguyễn Thị Mai làm vợ lẽ, lưu sống cả thảy 39 năm, sinh được 3 con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu (...) Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn [1269 - người viết] Bình Dương hầu tự nhiên không bệnh mà chết, hưởng 79 tuổi, các tướng Đỗ Hạo, Trần Mưu đưa thi hài về bắc quốc (…) Thời Ngô Vương Quyền phong Nguyễn Khoan làm Cầm hạt tướng quân, Nguyễn Thủ Tiệp làm Tứ Xuyên đô hộ, Nguyễn Siêu làm Thống lĩnh tướng quân”.
Cương mục chép: “Bính Dần [966] Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công giữ Tiên Du. Thủ Tiệp còn một tên hiệu nữa là Ba An quân, mình dài tiếng to, ai nghe thấy tiếng nói cũng phải giật mình, người ta gọi là Ông Sấm. Đến khi khởi binh, Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, đóng giữ huyện Tiên Du, sau lấy cả Vũ Ninh, tự xưng là Vũ Ninh vương, không rõ người ở xứ nào”.
Toàn thư chép: “Mậu Thìn [1269] Mùa xuân tháng giêng, vua từng nói với tôn thất rằng: "Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc ". Đến đây, xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau. Còn như trong các lễ lớn như triều hạ, tiếp tân, yến tiệc thì phân biệt rõ ngôi thứ, cấp bậc cao thấp. Vì thế, các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng”.
- Theo Cương mục thì sau khi thu phục được Lý Huy [Dương Huy] thứ sử châu Vũ Ninh, Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Vũ Ninh vương, Nguyễn sứ quân có tên hiệu khác là Ba An quân, tên tục gọi Lôi Công [Ông Sấm] Nguyễn Thủ Tiệp phong cho Nguyễn Quốc Khanh làm đại tướng quân.
- Truyện có chép đến tước hiệu Vũ Ninh hầu và Tứ Xuyên đô hộ. Cả 2 địa danh đều thuộc vùng đông bắc. Nên nếu Nguyễn Thủ Tiệp là hình ảnh của Vũ Ninh hầu thì Nguyễn Nê là hình ảnh của Vũ Thành vương.
- Truyện cho biết Nguyễn Nê là người đời Tấn Vũ Đế, như thế đến đời Ngô vương cũng khoảng 600 năm. Giải thích cho khó khăn, chúng ta cần biện đến Tấn Vũ Đế. Năm 251 Tư Mã Ý chết, con là Tư Mã Sư nắm triều chính, phế Tào Phương, lập Tào Mao. Năm 254 Tư Mã Sư chết, em là Tư Mã Chiêu nắm triều chính, giết Tào Mao, lập Tào Hoán [Ngụy Nguyên Đế] Năm 265 Tư Mã Chiêu cho con Tư Mã Viêm nối. Tháng 12 năm Ất Dậu [266] Tư Mã Viêm chính thức đại điển đăng cơ trở thành Tấn Vũ Đế.
- Tháng 12/1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Năm 1225 cùng là năm Ất Dậu. Nếu Trần Cảnh là Tư Mã Viêm, thì Trần Thừa là Tư Mã Chiêu, Trần Lý là Tư Mã Ý, Khoái hầu Trần Thẩm là Tư Mã Sư và Trần Liễu là Tư Mã Du. Sự trùng hợp là nguyên cớ để Nguyễn Nê được đưa vào bối cảnh thời Tấn Vũ Đế. Nếu Nguyễn Nê là Trần Doãn, mà Nê giữ chức Bình Dương hầu thì Tấn Vũ Đế cùng có người con tước hiệu Bình Dương công chúa.
- Truyện cho biết thêm Nguyễn Nê hưởng dương 79 tuổi, nhưng rõ ràng số liệu không chính xác, tuy nhiên truyện chép rất sử qua chi tiết “ngày 3 tháng 3 năm Mậu Thìn”. Mậu Thìn tôi đặt giả thuyết là năm 1269, trước chúng ta có xác định Trần Doãn sinh năm 1230, tính ra khoảng 39 năm, vừa khéo bằng thời gian Bình Dương hầu giữ Thanh Quả. Sai lệch tuổi âm dương tôi cho rằng không đáng kể. Nếu Trần Doãn mất năm 1269 thì người đánh giặc Man Lạo ở Bố Chính là Trần Khánh Dư.
- Cũng khá là thú vị khi đúng năm 1269 vua Trần Thánh Tông ban chiếu thể hiện suy nghĩ tình cảm của mình đối với các vương hầu tôn thất, có khi nào lời chiếu bắt nguồn từ cái chết của Vũ Thành vương Trần Doãn không ?
Lịch triều hiến chương loại chí chép: “Trương Phu Duyệt người Kim Đâu, huyện Thanh Miện, năm 30 tuổi đỗ chánh tiến sĩ khoa Ất Sửu [1505] đời Đoan Khánh, vâng mệnh đi sứ, làm đến thượng thư bộ lại. Mạc Đăng Dung cướp ngôi, bắt thảo chiếu. Duyệt trương mắt thét “thế là lẽ gì” rồi không chịu viết, nên bị bãi về làng, được khen tiết nghĩa”.
Toàn thư mục năm 1282 chép (      ) trong đó ( ) có âm Hán Việt gồm Phu, Phó, Phụ và  ) có âm Hán Việt gồm Duyệt, Thuyết, Thuế.
Khá thú vị! Có sự trùng tên giữa người thời Trần và người thời Lê sơ nhưng xưa nay trùng tên là chuyện thường ? Lại thêm, Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên hoàn thành năm 1479 chép từ năm 2879 Tcn đến năm 1427, rõ ràng là Trần Phó Duyệt nằm trong khoảng thời gian do Ngô sử gia soạn mà Trương Phu Duyệt là người cùng thời với Ngô Sĩ Liên. Không hẳn, vì bản khắc hiện đang có không phải là bản năm 1479 gồm 15 quyển. Toàn thư được nhóm Phạm Công Trứ khảo đính và biên soạn tiếp từ năm 1533 đến năm 1662 vào những năm Cảnh Trị (1663-1671). Những năm Chính Hòa (1680-1705) nhóm Lê Hy khảo đính và biên soạn tiếp từ năm 1663 đến năm 1675. Tuy rằng công việc khảo đính có khác nhau nhưng không thể phủ nhận sự can thiệp vào văn bản.
- Lại thêm, xem ghi chép của Việt sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) và Cương mục thì thấy các bộ sách khi chép về Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư rất giống Toàn thư trừ chi tiết quan trọng nhất, chính là về Trần Phó Duyệt! Cũng rất đáng nghi khi các bộ sách lớn chép gần như giống hoàn toàn với Toàn thư lại đều không chép về thượng tướng Trần Phu Thuyết ?

(Việt sử tiêu án - Bản dịch của Hội Việt Nam nghiên cứu liên lạc văn hóa Á Châu)



(Lịch triều hiến chương loại chí - Bản dịch của Viện sử học)
(Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Bản dịch của Viện sử học)
- Hiện người viết chưa đủ cơ sở để khẳng định về thượng tướng Trần Phó Duyệt trong Toàn thư nên tạm nêu ra sau sẽ bàn lại.
4. Nam ông mộng lục viết: “Vua thứ ba của họ Trần là Nhân vương (…) làm am sống ở ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử (…) chị ngài hiệu là Thiên Thụy, nhiều điều trái đạo đàn bà (…) nghe tin chị hấp hối, bèn xuống núi lại thăm”.
Toàn thư chép: “Nhâm Ngọ [1282] Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thuỵ. Bấy giờ Hưng Vũ vương Nghiễn vì là con trai Quốc Tuấn, được lấy công chúa Thiên Thuỵ, lại công đánh giặc. Vua sợ phật ý Quốc Tuấn, mới sai người đánh chết Khánh Dư ở Hồ Tây, nhưng lai dặn chớ đánh đau quá, để không đến nỗi chết”.
- Trần Khánh Dư thông dâm với công chúa Thiên Thụy nhưng theo như ghi chép của Toàn thư thì vào thời điểm xảy ra sự việc, công chúa Thiên Thụy có thể mới chỉ được hứa gả cho Hưng Vũ vương Nghiễm chứ chưa trở thành vợ chính thức.
- Chế độ nhà Trần cho phép trưởng công chúa không có giới hạn ấp thang mộc, lại thêm sự kiện Trần Quốc Tuấn với trưởng công chúa Thiên Thành và Trần Khánh Dư với trưởng công chúa Thiên Thụy, tôi cho rằng không đơn giản mang nghĩa cuộc tình trái ngang, mà rất có thể là cuộc tranh giành quyền lực giữa các gia tộc thông qua hôn nhân với trưởng công chúa.
Toàn thư chép: “Bính Thân [1269] Nhân Huệ Vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu. Người trong trấn kiện Khánh Dư tham lam thô bỉ. Hành khiển đem sự trạng tâu lên. Khánh Dư nhân đó tâu vua: "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ ". Vua không hài lòng, Khánh Dư bèn trở về. Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về, vì sợ ở lâu bị vua khiển trách (...) Nhâm Tý [1312] Mùa hạ tháng 5, dụ bắt được chúa Chiêm Thành Chế Chí đem về; phong em hắn là Chế Đà A Bà Niêm làm Á hầu trấn giữ đất ấy. Trước đó, Chế Chí sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài bí mật ước hẹn với hắn. Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn theo đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn sáu quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến. Lấy Đoàn Nhữ Hài làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước. Vua đến Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng. Nhân Huệ Vương đem quân đuổi theo. Nhữ Hài lập tức chạy thư tâu rằng: "Khánh Dư định cướp công vua". Vua giận lắm, sai bắt giám quân của Khánh Dư là Nguyễn Ngỗi đem chặt chân. Nhân Huệ sợ, đến ngự doanh tạ tội và nói rằng: "Thần sợ nó đến giữa biển lại đổi bụng khác, nên mới chặn đằng sau thôi" (...) Bính Thìn [1316] Mùa đông tháng 11, sai tể thần, tôn thất và các quan gặt ruộng tịch điền. Sai Nhân Huệ Vương Khánh Dư đi Diễn Châu xét duyệt sổ lính, sổ dân, lấy Nội thư hỏa chánh chưởng phụng ngự Nguyễn Bính làm phó. Xong việc về triều, Bính đem tiền bổng dâng nộp. Vua sai hữu ty nhận lấy. Có người hỏi: "Bính nộp tiền bổng mà bệ hạ nhận, thần chưa hiểu là cớ làm sao". Vua đáp: "Bính nộp tiền bổng là thành thực, nếu trẫm không nhận, thì hãm Bính vào tội dối trá, cho nên nhận lấy để tỏ rõ Bính không gian dối". Bính là cận thần của Thượng hoàng, tính người trong sạch thẳng thắn, năm trước đứng đầu hành nhân sang sứ nước Nguyên, trở về không mua thứ gì, Thượng hoàng khen ngợi, đặc cách ban thưởng 2 tư. Theo lệ cũ, những người đi sứ Nguyên về, mỗi người được ban tước 2 tư, người đứng đầu hành nhân trở xuống, mỗi người 1 tư. Bính là người trong sạch thẳng thắn nên được 2 tư (...) Đinh Sửu [1337] Sai Hưng Hiếu Vương dẹp người man Ngưu Hống. [Hưng Hiếu Vương] tiến quân vào trại Trịnh Kỳ, đánh tan quân man, chém tù trưởng của họ là Xa Phần. Quân trở về, quân sĩ đều được ban thưởng. Hưng Hiếu Vương viện dẫn việc Nhân Huệ Vương đi dẹp ấp Nam Nhung khi trước, xin thưởng cả những người giữ thuyền. Thượng hoàng nói: "Khánh Dư đi đánh Nam Nhung, từ Nghệ An đi bộ mấy ngày, đến sông Nam Nhung mới đục gỗ làm thuyền.Đó là giữ thuyền trong đất của giặc, chứ không phải là giữ thuyền ở Nghệ An.Người giữ thuyền lần này thì khác thế. Vả lại, có thưởng tất phải có phạt, thưởng phạt thường phải có cả. Nếu người giữ thuyền muốn nhờ ở chiến thắng để lấy thưởng, giả sử người đi đánh bị chết thì người giữ thuyền cũng chịu chết chăng". Hưng Hiếu trả lời: "Nếu không có người giữ thuyền, trong quân mà nghe tin giặc lấy mất thuyền thì quân sĩ liệu có giữ vững được không". Thượng hoàng nói: "Nếu vậy thì trước hết phả thưởng cho những người trong triều mới phải, vì nếu Kinh sư không yên thì quân sĩ có thể đi đánh giặc được không". Hưng Hiếu không trả lời được. Trong chiến dịch này, gia đồng của Hưng Hiếu là Phạm Ngải có lập chiến công (…) Kỷ Mão [1339] Nhân Huệ Dương Khánh Dư chết”.
- Xưa nay sách sử đều chép Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tham lam thô lậu, có phải không ? Sự kiện năm 1312 có thể hiểu theo 2 cách: trước là Trần Khánh Dư tham lập công, sau là Nhân Huệ vương sợ Chế Chí chạy mất. Sự kiện năm 1316 có thể đặt câu hỏi phó đoàn Nguyễn Bính đem tiền bổng dâng nộp, thế tiền bổng của trưởng đoàn Nhân Huệ vương thì sao ? Vì mục đích sách chép đến sự trong sạch thẳng thắn của Nguyễn Bính nên không chép đến Trần Khánh Dư là có thể hiểu được. Sự kiện Trần Khánh Dư xin thưởng cho cả người giữ thuyền, cũng có thể hiểu theo 2 cách: trước là Nhân Huệ vương tham lam, sau là Trần Khánh Dư rộng lượng (sợ anh em tâm tư) và Trần Minh Tông cũng cho là phải nên ban thưởng. Rất khó để đánh giá về vị tướng Trần Da. Trần Mạnh có 6 câu thơ khá thú vị: “Mấy dãy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót - Một chiếc gối nằm khểnh ở xa triều đình và thành thị - Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hóa của nhà vua - Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi - Mũi rồng đâu có giống mỏ chim - Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ Hồ xa xôi”. Nhân Huệ vương vui với việc câu cá hái củ và xin ngài chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ Hồ, xem ra ngài giống cư trần lạc đạo ?