Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

Giả thuyết về thân phụ của Trần Thủ Độ

(1) Việt sử lược chép: “Kỉ Tị [1209] Sảm lại về Hải Ấp, ở nhà công quán thôn Lưu Gia, lấy con gái thứ hai của Nguyên tổ làm nguyên phi (…) Canh Ngọ [1210] Viên minh tự Thuận Lưu là Trần Tự Khánh đem quân tới bến Tế Giang, xin cậu là Tô Trung Tự cho cùng dự tang lễ vua Cao Tông”.
An Nam chí lược chép: “Đời thứ nhất. Người Giao Chỉ, ngoại thích của nhà Lý, cuối cuộc loại đời Lý, Trần Thừa cùng em là Kiến Quốc đánh giặc có công, được phong chức thái úy, Kiến Quốc được làm đại tướng quân, con trai lấy con gái của Lý Huệ vương là Chiêu Thánh, nhân đó được truyền ngôi”.
Việt sử lược chép: “Tân Mùi [1211] Tự Khánh bèn cắt tóc thề với trời, lại sai công chúa Thiên Trinh tấu rằng mình không có mưu gì khác, thái hậu cũng không tin (…) Quý Dậu [1213] Vương Thường, Phan Thế tiến đánh Tự Khánh ở ngoài cửa Đại Hưng, định nhân đó sẽ vào cung bắt mẹ Tự Khánh là Tô thị. Phạm thị biết mưu đó bèn ngầm đem Tô thị vượt thành, lên thuyền chạy trốn”.
Việt sử lược chép: “Ất Hợi [1215] Tự Khánh gả em gái là Trần tam nương cho Nguyễn Đường (…) Bính Tí [1216] Lấy con cả của Thái tổ là Liễu được tước quan nội hầu, con cả Tự Khánh là Hải được tước vương (…) Nhâm Ngọ [1222] Vua cùng thái hậu ngự ở điện Thiên An xem con của thái úy là Hiển Đạo vương tên Hải dâng lễ vật cầu hôn”.
An Nam chí lược chép: “Đời thứ hai. Con giữa của Thái tổ, lấy tư cách con rể nhà Lý kế vị quốc vương, Chiêu Thánh không con, Cảnh lại lấy người em vợ sinh được 3 người con trai”.
Việt sử lược chép: “Giáp Thân [1224] An táng Kiến Quốc vương ở Mỹ Lộc, lấy Thái tổ làm phụ quốc thái úy, cho thượng phẩm hầu Trần Báo lên tước vương, tên hiệu là Hiển Thánh (…) Ất Dậu [1225] Vua nhường ngôi cho công chúa thứ hai là công chúa Chiêu Thánh, hiệu là Chiêu vương, tôn vua là Thái thượng vương, cải nguyên là Thiên Chương Hữu Đạo. Thượng vương với Phùng Tá Chu bàn rằng: thấy con trai thứ của thái úy là mỗ, tuổi tuy còn bé, nhưng tướng mạo phi thường, tất có thể cứu đời, nên muốn lấy làm con, để làm chủ xã tắc, gả Chiêu vương cho. Thượng phẩm phụng ngự Trần Thủ Độ nói rằng: Thượng vương lấy nhị lang nối ngôi, đó là trời đã cho mà không lấy thì sẽ phải chịu tội”.
Toàn thư chép: “Bính Tí [1216] Hoàng trưởng nữ sinh ở bãi Cứu Liên, sau phong làm công chúa Thuận Thiên (…) Mậu Dần [1218] Hoàng thứ nữ sinh, sau phong làm công chúa Chiêu Thánh (…) Ất Dậu [1225] Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ coi giữ mọi việc quân sự trong ngoài thành. Cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú là Trần Bất Cập làm cận thị thự lục cục chi hậu, Trần Thiêm làm chi ứng cục, Trần Cảnh làm chính thủ”.
An Nam chí lược chép: “Trần Văn Lộng. Con của Nhân Thành hầu Trần Duyệt, cháu nội của Quốc thúc thái sư Trần Thủ Độ, ở nước nhà được phong tước Chương Hoài thượng hầu”.
Toàn thư chép: “Ất Dậu [1225] Thái Tông hoàng đế. Họ Trần tên húy là Cảnh, con thứ của Thừa, mẹ họ Lê. Vì có chú họ là Trần Thủ Độ làm điện tiền chỉ huy sứ nên vua được vào hầu trong cung (…) Nhâm Thìn [1232] Phong con của thượng hoàng [Trần Thừa] là Bà Liệt làm Hoài Đức vương. Trước thượng hoàng còn hàn vi, lấy người con gái thôn Bà Liệt [Huyện Tây Chân – Nam Ninh, Hà Nam] Người đó có mang thì bị ruồng bỏ, đến khi Bà Liệt ra đời, thượng hoàng không nhận con (…) Giáp Ngọ [1234] Lấy thái úy Trần Liễu làm phụ chính, sách phong làm Hiển Hoàng (…) Bình Thân [1236] Giáng Hiển Hoàng làm Hoài vương (…) Đinh Dậu [1237] Lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vợ của Hoài vương Liễu, anh vua làm hoàng hậu Thuận Thiên. Giáng Chiêu Thánh làm công chúa (…) Vua đang ở trong thuyền vội bảo Trần Thủ Độ: Phụng Càn vương (tên hiệu cũ của Liễu hồi còn nhà Lý) đến hàng đấy. Lấy đấy Yên Sinh cho Liễu làm đất thang mộc, nhân đất được phong mà Liễu có tên hiệu là Yên Sinh vương (…) Giáp Tí [1264] Thái sư Trần Thủ Độ chết [thọ 71 tuổi] truy tặng thượng phụ thái sư Trung Vũ đại vương (…) Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều là tể tướng thì triều đình sẽ ra làm sao”.
Bia chùa Thiệu Long viết: “Kiến Quốc đại vương đem con gái lệnh tộc họ Đặng gả cho ông, lại trao cho ông trông coi trấn giữ đất Binh Hợp, làm ấp thang mộc”.
Bia ma nhai trên núi Cô Phong: “Nhờ ân huệ của An Quốc đại vương, lại mở ra nham Bảo Phúc, cho mãi mãi thờ cúng”.
Tên hiệu và tước
– Trần Lý: Minh tự, Nguyên tổ
– Trần Tự Khánh: Minh tự, Chương Thành hầu, Kiến Quốc đại vương
– Trần thị: Ngự nữ, Thuận Trinh hoàng hậu, Thiên Cực công chúa, Linh Từ quốc mẫu
– Trần Thừa: Thái tổ
– Trần Báo: Thượng phẩm phụng ngự, Thượng phẩm hầu, Hiển Thánh vương
– Lê thị: Quốc Thánh hoàng thái hậu, Thuận Từ hoàng thái hậu
– Trần Hải: Hiển Đạo vương
– Trần Liễu: Phụng Càn vương, Hiển hoàng, Hoài vương, Yên Sinh vương
– Trần Bà Liệt: Hoài Đức vương
– Trần Cảnh: Thái tông
– Trần Thủ Độ: Trung Vũ đại vương
– Trần Duyệt: Nhân Thành hầu
– Trần Văn Lộng: Chương Hoài thượng hầu
nha tran 1.jpg
 (Sơ đồ phác thảo 1)
Ghi chú:
– Việt sử lược mục năm 1214, Trần Tự Khánh hợp binh ở đền Đỗ thái úy tại Đông Phù Liệt chia 2 đạo thủy bộ tấn công kinh thành, sau khi giành thắng lợi Trần thái úy cử Trần Thủ Độ giữ Lãng Ải. Thủ Độ đánh nhau với người Hồng là Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Khả Như và giánh chiến thắng. Truyện Anh liệt chính khí Đoàn tướng quân trong Việt điện u linh có chép chi tiết thái sư Trần Thủ Độ giả bộ hòa với Đoàn tướng quân, nhưng thầm khiến Hiếu Võ vương Nguyễn Nộn đem trọng binh đánh úp, làm Đoàn Thượng thua, chạy tới làng An Nhân thì chết.
Theo Toàn thư mục năm 1226, Trần Thủ Độ đem quân đánh Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng, đồng thời phong cho Nguyễn Nộn làm Hoài Đạo vương và hẹn Đoàn Thượng đến hội thề rồi phong vương nhưng Thượng không đến. Có lẽ vì thề mà Trần Thủ Độ và Nguyễn Nộn liên kết đánh Đoàn Thượng chăng ? Cho đến năm 1228 thì Nộn kiêm tính được Thượng, thanh thế lẫy lừng, Thủ Độ phải sai sứ đến chúc mừng, đồng thời gia phong làm Hoài Đạo Hiếu Vũ vương. Như thế rõ ràng vào năm 1228 chỉ có Nguyễn Nộn tấn công Đoàn Thượng, Trần Thủ Độ không tham gia vào cuộc chiến này.
Theo An Nam chí lược người Quốc Oai là Nguyễn Niên xưng hiệu Kim Thiên đại vương, cùng người Hồng Lộ là Đoàn Ma Lôi nổi dậy làm phản, Trần Thừa và Kiến Quốc vương đánh không được, bèn giảng hòa với Ma Lôi, hợp sức đánh Niên, nhưng bị Niên đánh bại.
Rõ ràng là đã có liên minh quân sự giữa họ Trần và Đoàn Ma Lôi, nhưng đó là thời điểm nào ? Như Việt sử lược thì năm 1214, Trần Thủ Độ giao chiến với Đoàn Thượng, Thượng thua chạy. Năm 1217, Nguyễn Nộn giao chiến với Trần Tự Khánh tại đạo Ải bị thua, sau đó người vùng Hồng là Đoàn Thượng ra hàng, được phong tước vương. Năm 1218, Trần Thừa đánh bại Nguyễn Nộn, buộc Nộn lui về giữ Phù Ninh, sau chiến thắng Trần Tự Khánh gả em gái Trần tam nương cho Đoàn Văn Lôi, lại thêm Việt sử lược mục năm 1216 có chép 4 sứ quân gồm: Bắc Giang vương Nộn, Hiển Tín vương Bát, người Hồng Đoàn Văn Lôi, Hà Cao ở Quy Hóa.
Tôi cho rằng ra hàng của Đoàn Thượng năm 1217 là biện pháp hòa hoãn và liên minh giữa họ Đoàn và họ Trần được thiết lập thông qua cuộc hôn nhân giữa Đoàn Văn [Ma] Lôi với Trần tam nương và liên minh quân sự này đã được An Nam chí lược nhắc đến. Năm 1219 xảy ra giao chiến giữa họ Trần với Nguyễn Nộn tại bến Triều Dương, thế bất phân hình thành nhưng sau đó có thông tin Nguyễn Nộn đã bị chết do bệnh. Đến tháng 12/1225, xảy ra sự kiện Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh nên các thế lực đã lấy cớ nổi dậy chống lại họ Trần, chính vì thế mà sau 2 tháng [2/1226] kể từ khi Trần Cảnh nhận thiền vị, Trần Thủ Độ đã phải đem quân đi đánh dẹp Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng và các man.
Thông tin Nguyễn Nộn bị bệnh chết, các thuộc tướng của Nộn ra hàng, cho thấy quân lực của Nộn thời điểm năm 1219 đã khá yếu, nên kẻ địch mạnh nhất lúc này là Đoàn Thượng. Nhưng như Việt điện u linh thì Trần Thủ Độ có giao chiến nhưng không thắng được Thượng nên hòa hoãn đồng thời giả bộ liên kết với Nguyễn Nộn tấn công Thượng, còn Thủ Độ đứng ngoài hưởng lợi.
Thế nhưng như Toàn thư thì sau khi kiêm tính được Thượng, Nguyễn Nộn trở nên rất lực, Thủ Độ rất lo và trong những trường hợp đối đầu quân sự không lại thì họ Trần sử dụng phụ nữ như là mưu kế. Theo như đó thì Đoàn Thượng chết vào năm 1228 và như Toàn thư thì Nguyễn Nộn mới là người đánh giết Đoàn Thượng. Có lẽ do trước đó Thủ Độ có từng giao chiến với Đoàn Thượng nên dân gian nhầm chăng ?
Tuy nhiên, giả sử như Việt sử lược chép nhầm mục năm 1217, người vùng Hồng họ Đoàn ra hàng nếu không phải là Thượng thì với vai trò của Đoàn Văn Lôi rất có thể Thượng chết từ năm 1214. Sau Đoàn Thượng thì Ma Lôi là người quan trọng thứ 2 tại vùng Hồng và kể từ khi Thượng thua Thủ Độ năm 1214 thì Ma Lôi lại là người giữ vai trò quan trọng hơn Thượng và từ năm 1214 cho đến khi kết thúc Việt sử lược chỉ thấy chép đến Thượng duy nhất vào năm 1217 với sự kiện Đoàn Thượng ra hàng ? [Tôi mở ngoặc 1 ở chỗ này vì sau sẽ sử dụng lại đoạn này trong vấn đề khác]
– Theo như Toàn thư thì sau khi kiêm tính được Đoàn Thượng năm 1228, họ Trần lo lắng lắm, bèn sai sứ chúc mừng Nộn, đồng thời gia phong thêm, lại gả công chúa Ngoạn Thiềm cho Nộn để do la tin tức. Công chúa Ngoạn Thiền là ai ? Ngoạn Thiền giữ vai trò ngầm do là tin tức, vậy nàng phải là người thân tín của họ Trần, Trần Cảnh lúc này tuy là vua nhưng còn nhỏ tuổi hẳn là không thể có con gái đến tuổi lấy chồng được, nên thượng hoàng Trần Thừa được nghĩ đến trước tiên.
Toàn thư chép mục năm 1226 việc đưa các cung nhân và con gái họ hàng của Lý Huệ Tông gả cho các tù trưởng người Man. Sự kiện này nói lên điều gì ? Ngay sau khi gả con gái họ hàng của Lý Huệ Tông cho các tù trưởng người Man thì triều đình lại tuyển thêm thục nữ sung làm cung nhân, việc gả cung nhân và con gái họ Lý đi thì việc thiếu cung nhân là rõ ràng, nhưng vì sao họ Trần phải làm việc ấy, trong khi những cung nhân cũ luôn tốt hơn cung nhân mới về kinh nghiệm, nếu do cung nhân cũ lòng còn hướng về họ Lý thì việc gả họ cho các tù Man sẽ tạo ra bất lợi cho họ Trần vì họ sẽ cung cấp nhưng thông tin trong cung mà họ biết được cho đối thủ của họ Trần, vậy thì việc gả các cung nhân cho các tù Man chẳng qua là việc họ Trần muốn thiết lập mối quan hệ giao hảo với các tù Man đã nhân việc họ Trần tiếm ngôi mà làm phản như ghi chép tại mục năm 1226 trong Toàn thư.
Vì thế mà cũng không loại trừ khả năng Ngoạn Thiền công chúa là người con gái họ Lý, được họ Trần gả cho Nguyễn Nộn, nhưng việc Ngoạn Thiền làm gián điệp cho thấy Ngoạn Thiền có mối quan hệ tốt với họ Trần và việc này rõ ràng là khó hiểu khi mà họ Trần vừa tiếm ngôi của họ Lý. Hoặc ngay từ đầu vài người họ Lý đã thuận theo họ Trần [Tôi mở ngoặc 2 ở chỗ này vì sau sẽ sử dụng lại đoạn này trong vấn đề khác] Xem thêm trường hợp của Thuận Thiên hoàng hậu bị giáng thành Thiên Cực công chúa thì không loại trừ trường hợp Ngoạn Thiềm công chúa vốn cũng là hoàng hậu nhưng cũng bị giáng.
– Theo Việt sử lược chép mục năm 1220, lấy Thượng phẩm phụng ngự Trần Báo làm quan nội hầu, năm 1224 cho Thượng phẩm hầu Trần Báo lên tước vương, tên hiệu là Hiển Thánh, năm 1225 Thượng phẩm phụng ngự Trần Thủ Độ khuyên Trần Thừa nên theo di nguyện của Lý Huệ Tông.
Theo Toàn thư thì năm 1225 Trần Thủ Độ giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, không giống với ghi chép của Việt sử lược, tuy nhiên thời gian mà 2 bộ sử đề cập đến lại sai khác, Toàn thư chép Trần Thủ Độ giữ chức điện tiền chỉ huy sứ vào thời điểm trước khi Trần Cảnh nhập cung còn Việt sử lược chép Trần Thủ Độ giữ chức Thượng phẩm phụng ngự vào thời điểm Lý Huệ Tông có ý để Trần Cảnh làm vua.
Thêm vào đó việc vị quan kiêm nhiều chức tước cùng là thường. Trong các tên hiệu thì Hiển thường được dùng cho những người có thế lực và quan trọng (những người có vị trí kế cận) như Hiển Đạo vương Trần Hải, Hiển hoàng Trần Liễu do vậy việc Trần Báo được phong tước vương tên hiệu là Hiển Thánh thì xem ra Trần Báo là nhân vật rất thế lực và lại được phong vào thời điểm Trần Thừa giữ quyền phụ chính thì xem ra Trần Báo rất thân tín với Trần Thừa.
Khi Trần Cảnh nhận thiền vị thì Trần Thủ Độ cũng đang giữ chức Thượng phẩm phụng ngự, giống với Trần Báo và cũng là người thân tín của Trần Thừa. Năm 1264 Trần Thủ Độ chết thọ 71 tuổi, như vậy Thủ Độ sinh năm 1193, trong khi năm 1234 Trần Thừa chết thọ 51 tuổi, tức là Thừa sinh năm 1183, hơn Thủ Độ 10 tuổi. Lại thêm khi nhà Lý còn Trần Thủ Độ không có vai trò quan trọng, chỉ là vị tướng bình thường, nhưng sau khi Trần Cảnh lên ngôi thì Thủ Độ lại đột ngột giữ vai trò quan trọng, nếu cho rằng Thủ Độ chỉ là người thừa hành của Thái Tổ thì cũng không hẳn bởi không phải tự dưng giáng hoàng hậu của Huệ Tông làm Thiên Cực công chúa, đem gả cho Trần Thủ Độ.
Tôi cho rằng họ Trần không chỉ dùng hôn nhân để liên kết các ngoại tộc mà còn dùng biện pháp trong chính nội tộc. Xét về sự tương đồng giữa Trần Báo và Trần Thủ Độ, tôi đặt giả thuyết rằng Trần Báo là thân phụ của Trần Thủ Độ. Tôi không chắc Trần Báo có liên quan tới cái chết của Trần Tự Khánh không, nhưng sau khi Kiến Quốc chết, Trần Thừa giữ chức thái úy phụ quốc, Trần Báo được thăng từ thượng phẩm phụng ngự lên Thượng phẩm hầu, nên Trần Thủ Độ được thay cha giữ chức thượng phẩm phụng ngự.
Khi Trần Cảnh nhận thiền vị, thì sự thân tín được chuyển từ Trần Báo cho con trai là Trần Thủ Độ, vì thế mà Thế Tổ tin dùng, đồng thời để tăng sự trung thành, Trần Thừa đã gả em gái Trần thị cho Thủ Độ. Trần Báo người ở đâu ?
Theo như bia ma nhai trên núi Cô Phong [Minh Giang – Hoa Lư – Ninh Bình] thì anh của Trần Thủ Độ là An Quốc đại vương giúp vị thiền sư đến từ phương nam mở ra nham Bảo Phúc, vậy thì rất có thể vùng Hoa Lư thuộc ấp phong cho An Quốc đại vương và rất có thể cũng thuộc ấp phong của Hiển Thánh vương Trần Báo. Đại Nam nhất thông chí chép: “Tỉnh Ninh Bình. Đền thần An Quốc ở xã Đa Giá, huyện Gia Viễn, đến thờ thiên thần”. Sự trùng hợp tên xưa nay không thiếu, nhưng không vì thế mà loại trừ khả năng đến thờ thần An Quốc vốn được dựng lên để thờ An Quốc đại vương nhưng theo thời gian những ký ức của dân gian về ngài An Quốc bị thế bởi thiên thần.
Ngoài ra còn vài chi tiết khác như Toàn thư mục năm 1232 có kể về thủa hàn vi của Trần Thừa có quan hệ tình cảm với người phụ nữ thôn Bà Liệt thuộc huyện Tây Chân nay là huyện Nam Ninh tỉnh Hà Nam. Năm 1234 sau khi Trần Thừa chết, Trần Thủ Độ được phong Thống quốc thái sư, tri Thanh Hóa phủ sự. An Nam chí lược khi chép về cháu nội của Trần Thủ Độ là Trần Văn Lộng cho biết khi Chương Hoài thượng hầu còn ở nước nam được dùng làm đại tướng trấn thủ sông Tam Đái.
–  Theo Toàn thư mục năm 1225 có chép lời bàn của Trần Thủ Độ với các quan rằng: Nhị Lang Trần Cảnh còn nhỏ nên để thánh phụ tạm coi việc nước, các quan đều cho là phải, nên mới Trần Thừa nhiếp chính. Cương mục chép rõ hơn: Bấy giờ Trần Thừa mới xưng là thượng hoàng, tạm cầm chính quyền. Việt sử lược chép mục năm 1225 rằng: Mùa đông tháng chạp, vua sai nội thị phán thủ Phùng Tá Chu, nội thành khiển tả ti lang trung Trần Trí Hoành đem văn võ bá quan, sửa soạn thuyền xe đến phủ Tinh Cương đón Thái Tổ. Rõ ràng Thế tổ Trần Thừa mới thực là người nắm quyền, còn Trần Cảnh chỉ là hình thức che giấu thiên hạ.
(2) Toàn thư chép: “Bính Tuất [1226] Phong em là Nhật Hiệu làm Khâm Thiên đại vương [khi ấy mới 2 tuổi] Mậu Tí [1228] Phong Khâm Thiên vương Nhật Hiệu làm Quận vương
(…) Quí Tị [1233] Hoàng thái tử Trịnh mất [Xét phép chép sử: hoàng thái tử sinh tất phải chép rõ ngày tháng năm sinh, khi mất cũng thế, đây chỉ chép khi mất, có lẽ vừa mới sinh đã chết ngay, nên không chép ngày tháng năm sinh] Đinh Dậu [1237] Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên đã mang bầu Quốc Khang 3 tháng nên Trần Thủ Độ và Thiên Cực công chúa bàn kín với vua mạo nhận, lấy để làm chỗ dựa về sau
(…) Canh Tí [1240] Tháng 9 hoàng đích trưởng tử là Hoảng sinh lập làm Đông Cung thái tử
(…) Tân Sửu [1241] Tháng 10 hoàng tử thứ 3 Quang Khải sinh, là em cùng mẹ với thái tử Hoảng. Quốc Khang là anh trưởng, sau phong đại vương. Thứ đến Nhật Vĩnh, Ích Tắc, Chiêu Văn đều phong vương. Thứ nữa thì phong thượng vị hầu. Con trưởng của các vương thì phong vương, con thứ thì phong hầu
(…) Mậu Thân [1248] Hoàng hậu Thuận Thiên băng [thọ 32 tuổi] truy tôn là Hiển Tử Thuận Thiên hoàng thái hậu
(…) Tân Hợi [1251] Gả trưởng công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương. Con trai Yên Sinh vương là Quốc Tuấn cướp lấy, công chúa về với Quốc Tuấn. Vua cho công chúa Thiên Thành đến dinh của Nhân Đạo vương [là cha của Trung Thành vương] Quốc Tuấn muốn lấy công chúa Thiên Thành nên nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng. Công chúa Thụy Bà [chị ruột của Thái Tông, cô của Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn làm con] dâng 10 mâm vàng sống, vua bất đắc dĩ phải gả Thiên Thành cho Quốc Tuấn, lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên [Chương Mỹ – Thanh Oai, Hà Tây] để hoàn lại sính lễ cho Trung Thành vương. Yên Sinh vương Liễu mất, thọ 41 tuổi [sinh năm 1210] gia phong đại vương
(…) Giáp Dần [1254] Các vương hầu phần nhiều cho rằng đánh nhau bằng tay không và đi cướp một mình là dũng cảm, Vũ Uy vương Duy [con Thái Tông] cũng làm thế
(…) Ất Mão [1255] Hoàng tử thứ sáu Nhật Duật sinh, hiệu là Chiêu Văn, thọ 77 tuổi
(…) Bính Thìn [1256] Vũ Thành vương Doãn đem cả nhà trốn sang Tống, Thổ quan Tư Minh là Hoàng Bính bắt đưa trả lại. Doãn là con Yên Sinh vương do Hiển Từ sinh. Yên Sinh vương có hiềm khích với vua, đến khi Hiển Từ mất, bị thất thế nên trốn sang Tống
(…) Đinh Tị [1257] Hoàng Bính đem cả nhà đến cửa khuyết, dâng con gái vào cung, vua nhận sách phong làm Huệ Túc phu nhân
(…) Mậu Ngọ [1258] Cho Lê Phụ Trần làm ngự sử đại phu, lại đem công chúa Chiêu Thánh gả cho. Nhường ngôi cho thái tử Hoảng. Lấy con gái thứ năm của Yên Sinh vương là Thiều làm Thiên Cảm phu nhân. Hoàng trưởng tử Khâm sinh. Phong em là Quang Khải làm Chiêu Minh đại vương. Thánh Tông hoàng đế, tên húy là Hoảng, mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng thái hậu Lý thị”.
Thượng sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông viết: “Thượng sĩ [1230-1291] là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện đại vương [Liễu] và là anh cả của hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi đại vương mất, hoàng đế Thái Tông cảm nghĩa, phong cho thượng sĩ tước Hưng Ninh vương” [Dẫn theo tác giả Lý Việt Dũng]
An Nam chí lược chép: “Đời thứ ba. Năm thứ 17 [1280] Vua lại khiển Sái Thung đem chiếu thư qua dụ. Thế Tử sợ, khiển chú [thúc bá] là Trần Di Ái thay mình vào chầu, bèn lập Di Ái làm An Nam quốc vương (…) Trần Ích Tắc. Con thứ năm của Thái vương, thông minh tuấn tú, có tính hiếu học. Lúc ở nước nhà được phong tước Chiêu Quốc vương, kiêm chức đại tướng quân, trấn giữ lộ Đà Giang. Con trưởng tên Bá Ý, được giữ chức Gia nghị đại phu, lĩnh An Vũ sứ lộ Đà Giang. Năm Giáp Tuất [1334] con là Tuyên Vũ sứ Trần Đoan Ngọ vào bệ kiến, cho kiến tập tước cha làm An Nam quốc vương”.
Tên hiệu và chức tước
– Trần Nhật Hiệu: Khâm Thiên đại vương, Quận vương, Tướng quốc thái úy
– Lý Ngọc Oanh: Thuận Thiên công chúa, Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu
– Trần Quốc Khang: Tĩnh Quốc đại vương
– Trần Quốc Tuấn: Hưng Đạo đại vương
– Trần Doãn: Vũ Thành vương / Trần Tung: Hưng Ninh vương
– Trần Thiều: Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu
– Trần Quang Khải: Chiêu Minh đại vương
– Trần Nhật Vĩnh: Bình Nguyên vương / Trần Quang Xương: Chiêu Đạo vương
– Trần Ích Tắc: Chiêu Quốc vương / Trần Nhật Duật: Chiêu Văn vương
– Trần Quốc Uất: Minh Hiến vương
nha tran 2.jpg

Trần triều nghi vấn : Gia thế họ Trần

(1) Việt sử lược chép: “Canh Ngọ [1210] Tháng giêng, vua sai thượng phẩm phụng ngự Đỗ Quảng đến nhà Trung Tự rước vương tử Sảm (…) Tháng 7, Đàm Dĩ Mông đem 28 người nhận tước phong của vương tử dâng vua. Đỗ Anh Doãn kể tội Dĩ Mông (…) Tháng 10, Cao Tông băng, lấy thái phó Đỗ Kính Tu làm thái úy (…) Tháng chạp, chi hậu phụng ngự Đỗ Quảng bắt Kính Tu đưa cho Trung Tự đem dìm ở bến Đại Thông, lấy cớ rằng Kính Tu mưu giết Trung Tự (…) Tô Trung Tự nghe tin quan nội hầu Đỗ Thế Quy cùng chi hậu phụng ngự Đỗ Quảng và tiểu thị vệ nhân hỏa đầu Phí Lệ mưu phế lập nên toan đánh (…) Trung Tự bắt tiểu thị vệ là Đàm Nhập giết ngoài cửa Trường Quảng vì về phe vương tử Thầm (…) vua [Huệ Tông] lấy Trung Tự làm chiêu thảo đại sứ, Đàm Dĩ Mông làm thái úy (…) xuống chiếu chém Đỗ Anh Doãn ở Phong Pha (…) Cho Dĩ Mông lên tước vương (…) Tân Mùi [1211] Tháng giêng, Trung Tự và Đỗ Quảng đánh nhau ở cửa bến Triều Đông (…) Vua cùng thái hậu ngự ở cửa Cảnh Diên nghe xử án Đỗ Quảng. Quảng bảy người đều bị chém”.
– Theo như Việt sử lược thì vào tháng 12/1210 Đỗ Thế Quy, Đỗ Quảng, Phí Lệ mưu phế lập. Chi tiết Tô Trung Tự chém tiểu thị vệ Đàm Nhập vì về phe vương tử Thầm cho chúng ta biết, Đỗ Quảng mưu tính phế Huệ Tông lập Lý Thầm. Sự kiện Trung Tự được phong chiêu thảo đại sứ, Đàm Dĩ Mông làm thái úy cho thấy sau khi Cao Tông chết, tại kinh thành xuất hiện hai phe đảng là: Lý Sảm với Đàm Dĩ Mông cùng Tô Trung Từ và Lý Thầm với Đỗ Quảng cùng Đỗ Anh Doãn.
– Khi nhận được sự giúp sức của họ Trần phe Lý Sảm đánh bại phe Lý Thầm. Nhưng không lâu sau xảy ra xung đột giữa Lý Sảm và Tô Trung Từ. Rốt cục tháng 11/1211 Trung Từ chết. Việc xảy ra xung đột trong nội bộ các phe phái gợi ý cho chúng ta về mối quan hệ giữa Đỗ Quảng và Tô Trung Từ. Vào tháng 1/1210 Trung Từ còn nhờ Đỗ Quảng xin với Cao Tông nhưng tháng 11/1210 Quảng và Từ đã trở thành kẻ thù. Rất nhiều các mối quan hệ trong thời gian biến loạn này đều rất lỏng lẻo, thù bạn cũng chỉ tính theo tháng.
– Sự kiện Đỗ Anh Doãn mắng Đàm Dĩ Mông, cho chúng ta biết Anh Doãn cũng như Đỗ Quảng là ngoại thích triều Cao Tông. Trần Lý tôn Lý Sảm lên ngôi hoàng đế, Tô Trung Từ và Đàm Dĩ Mông đều nhận sắc phong của Lý Sảm nên khi Trần Lý chết, Trung Từ đã đoạt Sảm từ họ Trần đưa về kinh sư, nhờ Đỗ Quảng tấu xin miễn tội, còn Dĩ Mông thì lấy người ở Gia Mưu và Thanh Hóa tấn công Tức Mặc, bắt và đem nộp 28 người nhận tước phong của Sảm cho triều đình. Nhưng sự kiện Đỗ Quảng bắt Đỗ Kính Tu đưa cho Tô Trung Từ đem dìm ở bến Đại Thông thực sự rất khó hiểu. Thêm nữa, theo như Việt sử lược thì vào năm 1210, Đỗ Quảng làm thượng phẩm phụng ngự nhưng sau cái chết của Cao Tông, năm 1211 Quảng làm chi hậu phụng ngự.
– Sau khi Cao Tông băng thì Kính Tu được làm thái úy nếu như thế Kính Tu phải cùng phe với Lý Sảm, thế thì thật khó giải thích vì sao Trung Từ cũng cùng phe với Lý Sảm lại dìm chết Kính Tu, phe Lý Sảm vốn yếu thế hơn phe Lý Thầm thì việc Lý Sảm tự cắt bỏ chân tay lại càng khó hiểu. Kính Tu họ Đỗ, không rõ có cùng thuộc gia tộc với Quảng ? Nếu đúng thì phải chăng đây là kế làm đối phương tin tưởng mất cảnh giác, nhưng xem ra không phải như thế, vì vào thời điểm Trung Từ nghe tin Đỗ Quảng mưu phế lập, Từ định tấn công nhưng do quân lực không đủ nên đành tính kế hoãn binh, rõ ràng là họ Đỗ nhỉnh hơn Trung Từ thì cần chi phải bày mưu kế, cứ tấn công trực diện là lợi thế hơn rồi.
Toàn thư chép: “Tân Sửu [1181] Mùa xuân tháng giêng, thái tử Long Xưởng cầm đầu bọn gia thuộc nô lệ trộm cướp bừa bãi, muốn mưu làm loạn (…) Nhâm Dần [1182] Mùa xuân tháng giêng, lấy Ngô Lý Tín làm Thượng tướng quân, đem quân thủy bộ đi tuần bắt trộm cướp. Lấy Lý Kinh Tu làm đế sư, trong thì hầu việc giảng sách, ngoài thì dạy dân trung hiếu, từ đấy Chiêu Linh thái hậu không dám manh tâm mưu khác nữa (…) Canh Ngọ [1210] Mùa đông tháng 10, vua không khỏe gọi Đỗ Kính Tu và nhận mệnh ký thác”.
Việt sử lược chép: “Tân Sửu [1181] Mùa hạ tháng 4 sao Huỳnh Hoặc phạm vào sao Nam Đẩu (…) Nhâm Dần [1182] Tháng 3, lấy Đỗ An Thuận làm phụ chính, lúc bấy giờ mọi người đều sợ uy An Thuận”.
– Trong bài Lý triều tân biên: Anh Tông hoàng đế, tôi có mô tả về xung đột giữa họ Đỗ với người đứng đầu là Anh Vũ và họ Nguyễn với người đứng đầu là Chiêu Linh thái hậu. Sự kiện thái tử Long Xưởng làm loạn năm 1181 là xung đột cuối cùng và sự kiện này hẳn là tương ứng với ghi chép sao Huỳnh Hoặc phạm vào sao Nam Đẩu trong Việt sử lược. Sự biến Long Xưởng diễn ra sau 2 năm kể từ khi Tô Hiến Thành mất năm 1179. Sách Việt sử lược chép rằng ai cũng sợ uy quyền của Đỗ An Thuận, nếu thế thì như Toàn thư chép sau khi Hiến Thành chết thái hậu lấy An Di làm phụ chính thì việc thái tử làm loạn rất khó xảy ra, do đó mà người thay Hiến Thành làm phụ chính là Trần Trung Tá, nhưng đến năm 1182 thì An Thuận thế chỗ của Trần Trung Tá.
– Ghi chép năm 1182 của Toàn thư và Việt sử lược cho thấy sự sai khác rất nhiều, trong khi Toàn thư chép rằng việc lấy Đỗ Kính Tu làm đế sư đã khiến Chiêu Linh thái hậu từ bỏ dã tâm thì Việt sử lược chép rằng lấy Đỗ An Thuận làm phụ chính, mọi người đều sợ uy của Thuận. Tuy mỗi sách ghi chép về quyền lực của các nhân vật khác nhau song lại không mẫu thuẫn. Và phạm vi quyền lực của Đỗ An Thuận cũng như Lý Kính Tu có lẽ cũng chỉ vượt ra ngoài kinh sư không đáng kể vì như Việt sử lược ghi nhận năm 1184, sách Tư Mông, Trịnh, Ô Mễ làm phản và năm 1185 người Sơn Lão ở sách Linh làm phản. Những sách này có thể đều làm phản từ sự rối loạn của kinh thành năm 1181.
– Theo bài viết Những tư liệu mới về nhân vật lịch sử Đỗ Kính Tu của tác giả Nguyễn Vinh Phúc đăng trên báo Hà Nội Mới số 7120 ngày 6/3/1988 thì Đỗ Kính Tu người làng Hậu Ái thuộc xã Kim Hoàng huyện Hoài Đức nay thuộc xã Vân Canh huyện Hoài Đức. Tuy tác giả dựa vào Thần tích của làng Hậu Ái vốn có những thông tin đáng ngờ như Đỗ Kính Tu sinh năm Nhâm Thìn hoặc thông tin liên tưởng về cái chết như “mọi người mới vớt lên đem về làng chôn cất”. Nhưng theo tác giả Lê Mạnh Thát thì năm 1214 Trần Tự Khánh đóng quân ở bến Đại Thông xây lũy ở Nghĩa Trú, mà Nghĩa Trú được xác định tại huyện Mỹ Hà, Hưng Yên, do vậy bến Đại Thông có thể chính tại xã Xuân Lâm, huyện Văn Giang. Còn theo tác giả Trần Quốc Vượng thì Nghĩa Trú một mặt gần miền sông Đáy một mặt gần Bắc Giang, cứ vào Thiền uyển tập anh truyện sư Bản Tịch nói hương Nghĩa Trú thuộc quận Bình Lạc, mà Bình Lạc gần Quốc Oai, nên Nghĩa Trú gần miền Đan Phượng, Hoài Đức song không rõ đích xác chỗ nào.
– Theo như Việt sử lược thì tháng 1/1213 Vương Thường, Phan Thế, Ngô Nãi tấn công kinh sư, Tự Khánh đang đóng ở bến Đại Thông nên không hay biết, tức giận Tự Khánh kéo quân đột cầu Ngoạn Thiềm rồi lại kéo quân về đóng tại bến Đại Thông. Rồi Khánh cho triệu Nguyễn Nộn từ Bắc Giang về để trị tội, hẳn là đại quân của Tự Khánh đóng ở bến Đại Thông, tiền quân do Nộn chỉ huy đóng ở Bắc Giang, nhưng Nộn đã sơ suất để Vương Thường, Ngô Nãi tấn công kinh sư mà không biết, xem thế rất có thể bến Đại Thông gần Bắc Giang. Sau đó vua tấn công Tự Khánh ở Mễ Sở [Đan Phượng, Hà Tây] Khánh buộc phải đánh Quốc Oai để làm bản doanh, nên rất có thể bến Đại Thông gần Đan Phượng. Vào tháng 4/1214 khi Phan Cụ ở Cam Giá [Sơn Tây] làm phản bị bắt đưa về Mỹ Lộc thì bộ tướng Đỗ Bị thế, Tự Khánh sai Phan Lân đi đánh nhưng bị thua, Lại Linh tới cứu cùng bị thua, Trần Thừa đem quân đánh cũng không thắng phải rút về, đồng thời Nguyễn Nộn ở Bắc Giang cũng làm phản, trong khi Đỗ Năng Tế đang trấn giữ đất Binh Hợp [Phúc Thọ, Hà Nội] cho nên Tự Khánh đến bến Đại Thông đắp lũy Nghĩa Trú hẳn là để ngăn Đỗ Bị từ Cam Giá và Nguyễn Nộn từ Bắc Giang. Do vậy tôi cho rằng chú thích của tác giả Trần Quốc Vượng là phù hợp nên làng Hậu Ái chưa hẳn đã là bản quán của Lý Kính Tu, đó rất có thể là nơi đế sư họ Đỗ bị Tô Trung Từ dìm chết nên được nhân dân lập đền thờ, lâu dần thành ngộ nhận.
Việt sử lược chép: “Tân Mùi [1211] Tháng 6, Nguyễn Tự nghe Tô Trung Từ chết, bèn về kinh cướp tài vật trong phủ vua [rồi] trốn đến Khô Sách, được vài tháng lương ăn áo mặc thiếu thốn, Tự định theo về với Trần Tự Khánh (…) Quý Dậu [1213] Tháng giêng, Tự Khánh sai người đi Bắc Giang triệu viên tướng Nguyễn Nộn. Nộn đến bị trói bằng dây thép 5 vòng”.
An Nam chí lược chép: “Tướng giặc châu Quốc Oai là Nguyễn Niên, xưng hiệu là Kim Thiên đại vương, cùng với người Hồng Lộ là Đoàn Ma Lôi nổi dậy làm phản”.
Toàn thư chép: “Kỉ Sửu [1229] Sau khi kiêm tính quân của Đoàn Thượng, Nộn tự xưng là Đại Thắng vương”.
– Theo An Nam chí lược, Nguyễn Nộn người Quốc Oai và rất có thể Nộn thuộc gia tộc họ Nguyễn rất thế lực mạn Quốc Oai với những nhân vật tầm cỡ như thiền sư Trí Bảo, Nguyễn Tự. Theo Việt sử lược thì Nguyễn Nộn vốn là thuộc hạ của Trần Tự Khánh được coi giữ đất Bắc Giang, cũng rất trùng hợp khi mà Nguyễn Tự giữ Khô Sách vài tháng do thiếu lương nên toan về với Tự Khánh, như thế hẳn là Nguyễn Tự có mối quan hệ tốt với Tự Khánh.
– Theo bản Việt sử lược của dịch giả Nguyễn Gia Tường, tôi cho rằng nguyên nhân Nguyễn Nộn chống lại họ Trần là vì Trần Tự Khánh dan díu với vợ của Nguyễn Nộn. Theo bản Việt sử lược của dịch giả Trần Quốc Vượng, thì xem ra không phải, tháng 1/1213 Trần Tự Khánh cho gọi thuộc hạ Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, khi Nộn đến thì liền bị trói, nguyên nhân có thể là do Khánh nghi ngờ Nộn có liên quan tới sự kiện Vương Thường, Phán Thế, Ngô Nãi ở Bắc Giang tấn công kinh sư. Tháng 9/1213 Tự Khánh thả Nộn, rồi gả em con dì đồng thời trao cho hai ấp mạn ven biển là Thần Khê và Cả Lũ. Khánh thả Nộn vì Khánh cần tướng tấn công kinh sư từ Quốc Oai vào tháng 1/1214. Sau cuộc tấn công kinh sư, Huệ Tông phải chạy lên Lạng Sơn, Khánh cử Nguyễn Nộn tiến giữ Bắc Giang, mưu này của Khánh rất cao, kết cục Huệ Tông và Nguyễn Nộn đánh trận sống chết tại cánh đồng Nhuế Duệ. Tháng 4/1214 Nộn giữ Bắc Giang làm phản, nên Tự Khánh cho vợ của Nộn cũng đồng thời là em gái con dì về Bắc Giang, hẳn là với mục đích dò la tin tức. Chúng ta không biết chính xác kết cục của người em gái con dì của Tự Khánh ra sao nhưng tôi ngờ rằng nàng rất có thể đã bị Nguyễn Nộn giết, vì theo Toàn thư năm 1228 họ Trần gả công chúa Ngoạn Thiềm cho Nguyễn Nộn. Người em gái con dì của Tự Khánh về danh phận thì rất khó để trở thành công chúa được nên việc họ Trần phải gả công chúa Ngoạn Thiềm cho thấy họ Trần không còn nội gián ở Bắc Giang. Thêm nữa, sự kiện Nộn chia nha tướng riêng cho công chúa nên Ngoạn Thiềm không báo được tin tức, cho thấy Nộn biết mưu kế của họ Trần và khi họ Trần không nhận được tin tức từ Ngoạn Thiềm, họ Trần hiểu rằng Nguyễn Nộn đã phát hiện ra mưu kế nên đã quyết định ra tay trên cơ sở hạ độc, dẫn tới cái chết của Nộn vào năm 1229.
Bài viết Một số vấn đề về lịch sử – văn hóa qua văn bia chùa Thiệu Long của hai tác giả Trường Phong và Nguyễn Dung viết: “Theo ghi chép trong thần tích của hai thôn Miếu và Mỹ Giang, rõ ràng thần Tế công và nhân vật lịch sử Đỗ Năng Tế có sự khu biệt, tuy nhiên cũng dễ nhận thấy giữa hai hình tượng có mối liên hệ khá chặt chẽ với nhau. Đối chiếu giữa bia chùa Thiệu Long đầu thời Trần với thần tích, có thể thấy một số chi tiết về vợ chồng Đỗ Năng Tế và chùa Thiệu Long ghi trong bia đã ánh xạ thành tín niệm dân gian và để lại dấu vết trong bản thần tích. Chẳng hạn từ tên nhân vật lịch sử Đỗ Năng Tế sang thần tích thành hai cha con Đỗ Năng và Đỗ Tế. Quê cha Đỗ Năng Tế ở quân Kinh Triệu thành quê ở xứ Sơn Nam. Đỗ Năng Tế từ chỗ là Tiết cấp nhập nội thái tử và Trung tín thái tử thành Tiết cấp nhập nội thái tử quốc chính Trung tín hầu. Từ một người vợ của Đỗ Năng Tế là Đặng Ngũ Nương thành 3 bà vợ, trong đó vẫn có một bà họ Đặng (…) từ chùa Thiệu Long do Đỗ Năng Tế lập đầu thời Trần thành chùa Long do Tế công lập thời Hai Bà Trưng. Tóm lại bản thần tích đã biến nhân vật lịch sử Đỗ Năng Tế cuối triều Lý đầu triều Trần thành vị Tế công thời Hai Bà Trưng, tức là dịch chuyển nhân vật lịch sử này thành người của hơn ngàn năm trước đó, song vẫn giữ lại một số dấu vết từ mẫu gốc (…) hương Binh Hợp thời Trần là đất thang mộc của Đỗ Năng Tế, để tạo phúc truyền lại cho đời sau, vợ chồng Đỗ Năng Tế đã cho xây dựng chùa Thiệu Long (…) nên sau khi mất, có thể vợ chồng ông đã được nhân dân thời phụng (…) trải qua thời gian, dần dần vợ chồng Đỗ Năng Tế được thờ, suy tồn thành thần, đồng thời các chi tiết về cuộc đời thực bị lu mờ dần, trong khi đó Tam Hiệp là một trong các vùng đất liên quan mật thiết đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng để lại dấu ấn sâu đậm trên mảnh đất này nên Đỗ Năng Tế từ nhân vật lịch sử bị truyền thuyết hóa thành nhân vật Tế công thời Hai Bà Trưng, thậm chí là thầy dạy Hai Bà Trưng”.
Sách Đền Hát Môn của tác giả Phạm Thị Thúy Vinh viết Ngọc phả về hai vợ chồng vị Đại thần phụ quốc Triều Trưng Vương họ Việt Thường là Đỗ Tế công như sau: “Lúc bấy giờ đương vào thời thuộc Hán, ở vùng đất thuộc trang Đông Cảo huyện Đông Yên phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam có nhà Bộ trưởng họ Đỗ húy là Năng, lấy vợ người bản ấp họ Đào (…) Tế công nãi [phụ] lập Trưng Trắc vi vương nữ. Tiền Lạc Tướng dĩ giá Trưng Trắc phối dữ Thi Sách, Chu Diên chi nhân, vi Tô Định sở tễ. Thử gian, Giao Nam ngã quốc Thái thú Hán đế nãi khiển Tô Định nhậm chi. Kì Tô Định chi nhân vi chính tham bạo, thả sát thất Trưng nữ phu, do thử đại phấn hùng binh dĩ Tế công vi Phụ quốc”.
 Tôi cho rằng ngoài nguyên nhân đất Binh Hợp mang dấu ấn sâu đậm về các truyền thuyết thời Hai Bà dẫn đến sự chuyển dịch nhân vật từ cuối thời Lý về thời Đông Hán thì còn liên quan tới những nhân vật họ Tô. Theo Việt sử lược tháng 3/1211 vua lấy chiêu thảo đại sứ, quan nội hầu Tô Trung Tự làm thái úy nên rất có thể dân gian đã nhầm lẫn giữa Tô thái úy Trung Từ với Tô thái thú Định, thành ra sự kiện Tế công giúp Trưng vương đánh thái thú Tô Định là ánh xạ của sự kiện Đỗ Năng Tế giúp Trần Tự Khánh đánh thái úy Tô Trung Từ.
– Theo ghi chép của Việt sử lược thì xung đột giữa Từ với Tự Khánh chỉ có thể xảy ra vào 2 thời điểm: trước là khi Tô Trung Từ dẫn quân đánh châu Khoái rồi nhân tấn công Hải Ấp đón vương tử Sảm vào tháng 1/1210 và sau là khi Tự Khánh đóng quân ở bến Tế Giang để xin cậu là Trung Từ được viếng Cao Tông vào tháng 11/1210. Qua việc Tô Trung Từ nghi ngờ chuyện viếng của Trần Tự Khánh cũng như ngay sau đó Huệ Tông xin rước Trần thị nhưng Tự Khánh không chịu, nên tôi cho rằng xung đột được dùng làm nguyên mẫu của thần tích là vào tháng 11/1210.
– Theo Thần tích Đỗ Năng Tế người Khoái Châu, thông tin này không phải là không có cơ sở bởi vì theo bia chùa Thiệu Long thì nghiêm khảo của Đỗ Năng Tế có vợ thuộc lệnh tộc họ Trần và tuy viết rằng cha của Thái tử trung tín người quận Kinh Triệu nhưng cũng có thể đó là lấy quê quán theo tổ tiên gần. Theo Việt sử lược tháng 2/1213 vua dẫn quân đánh Trần Tự Khánh ở Mễ Sở [Đan Phượng, Hà Tây] buộc Tự Khánh phải dẫn quân chiếm Quốc Oai, việc này giải thích vì sao khi Trần Tự Khánh xâm phạm cửa khuyết vào cuối năm 1213 thì vua và thái hậu lại chạy sang huyện Binh Hợp như ghi chép trong Toàn thư. Việt sử lược chép tháng 1/1214 Trần Tự Khánh tấn công kinh sư buộc Huệ Tông phải bỏ thành nhưng đến tháng 4/1214 tướng quân Cam Giá [Sơn Tây, Hà Nội] là Phan Cụ làm phản, như thế xem ra sau cuộc tấn công kinh sư Trần Tự Khánh đã làm chủ vùng đất kéo dài từ biển tới kinh thành và sang tới đất Cam Giá. Phan Cụ được giữ Cam Giá, Nguyễn Nộn được giữ Bắc Giang và Đỗ Năng Tế được giữ Binh Hợp, đến tháng 8/1216 Hiển Tín vương Nguyễn Bát tấn công Binh Hợp, Đỗ Tế phải chạy sang Đan Phượng.
– Theo sách sử năm 1179 Tô Hiến Thành chết, triều đình theo tiến cử của thái úy dùng thái phó Trần Trung Tá làm phụ chính, đến năm 1181 xảy ra nạn đói, thái tử Long Xưởng cầm đầu đám gia nô trộm cướp bừa bãi, mưu làm loạn. Năm 1182 Đỗ thái hậu dùng Ngô Lý Tín làm thượng tướng quân mà vùng Hải Ấp là lãnh địa của họ Trần nên việc đi tuần thủy bộ của Ngô thái phó hẳn sẽ gây ra sự căng thẳng. Cùng năm triều đình lấy Đỗ An Thuận làm thái sư phụ chính, như thế họ Trần không chỉ bị ảnh hưởng về đặc quyền kinh tế mà quyền lực trong triều đình cũng bị giảm đáng kể. Cuối cùng việc dùng Đỗ Kính Tu là thầy dạy của vua đã thực sự củng cố vị trí thống trị của họ Đỗ tại Đại Việt và đúng như sách sử chép: Chiêu Linh thái hậu từ đó về sau không còn manh tâm nữa.
– Nhưng tôi cho rằng: giống như trường hợp của Đỗ Năng Tế, Kính Tu không thuộc gia tộc họ Đỗ của Anh Vũ mà thuộc gia tộc họ Đỗ đến từ quận Kinh Triệu. Gia tộc này có số lượng thành viên ít và cũng không có nhiều người giữ những địa vị quan trọng, nhưng lại có kiến thức vượt trội nên được cử làm đế sư và đó cũng là lý do giải thích vì sao Kính Tu được ban quốc tính nhưng lại không được giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Toàn thư chép năm 1182 lấy Lý Kính Tu làm đế sư, trong thì hầu việc giảng sách ngoài thì dạy dân trung hiếu, rõ ràng đây là người rất có kiến thức, Việt sử lược chép năm 1204 Đỗ Kính Tu đã là thái bảo đem quân đánh Đại Hoàng, Toàn thư chép tháng 10/1210 Kính Tu nhận ủy thác của Cao Tông. Việt sử lược chép tháng 11/1210 vua [Huệ Tông] lấy thái bảo Đỗ Kính Tu làm thái úy. Nhưng tôi cho rằng thái bảo Lý Kính Tu được làm thái úy là do chiếu của vua Cao Tông, vào cùng thời điểm Kính Tu nhận mệnh ủy thác phò tá Hạo Sảm.
– Với thân thế là thầy của Cao Tông nên Đỗ Kính Tu được làm thái úy phò tá Huệ Tông nhưng Kính Tu không có thực quyền, sau khi Cao Tông băng tại kinh thành tồn tại 3 thế lực là họ Đỗ, họ Đàm, họ Tô. Tháng 11/1210 Trần Tự Khánh mượn tiếng đến viếng Cao Tông nhưng thực muốn nhân tang lễ mà chiến kinh thành, mưu kế bị Tô Trung Từ phát hiện ra và rất có thể đã xảy ra xung đột giữa hai cậu cháu, với mối quan hệ tốt giữa Trung Từ và Đỗ Quảng từ tháng 1/1210 nên trong xung đột rất có thể Đỗ Quảng đã giúp Trung Từ, kết cục Tự Khánh phải đem quân về. Tận dụng mối quan hệ với họ Đỗ quận Kinh Triệu, Tự Khánh lên kế hoạch sát hại Tô Trung Từ thông qua Lý Kính Tu nhưng sự không thành. Sau khi đẩy lui được Tự Khánh lại phá được âm mưu của Kính Tu, Đỗ Quảng nhận thấy quyền lực rơi dần vào tay Trung Từ nên đã bàn việc phế Hạo Sảm lập Lý Thầm. Việc bị lộ nên Trung Từ mưu diệt nhưng do quân số thua kém nên dùng kế hoãn binh, xin cùng phù trợ Huệ Tông hứa sẽ chia sẻ quyền lực, Đỗ Quảng tin theo, nhưng Trung Từ ngầm tăng viện binh nhân đó tấn công Đỗ Quảng, hai bên giữ nhau không phân thắng bại, cuối cùng Trung Từ phải xin quân của Tự Khánh mới bắt được Quảng. Lượng quân tăng viện cho Trung Từ trong đêm rất có thể của Đàm Dĩ Mông.
(2) Việt sử lược chép: “Giáp Tuất [1214] Thàng giêng, Chương Thành hầu Trần Tự Khánh họ binh các đạo ở đền thờ Đỗ thái úy ở Đông Phù Liệt, định đánh kinh sư (…) Phan Lân, Nguyễn Nộn đem quân ở Quốc Oai, theo đạo Bình Lạc mà đánh bằng đường bộ (…) Trần Thừa và Trần Tự Khánh đánh bên hữu ngạn sông Lô. Trần Thủ Đạt, Trần Hiến Sâm, Nguyễn Ngạnh đánh bên tả ngạn sông Lô. Vương Lê, Nguyễn Cải đánh cầu Nổi ở bến Triều Đông (…) Bọn Thủ Độ, Hiến Sâm thừa thắng tiến đến bến Từ Điệu, lại thắng được địch”.
– Theo sử liệu trên thì các đạo binh họp ở đền thờ Đỗ thái úy ở Đông Phù Liệt [Thanh Trì, Hà Nội] vị Đỗ thái úy được thờ có lẽ là Đỗ Anh Vũ chăng ? Nhưng như chúng ta đã thấy tháng 3/1213 Tự Khánh đã thả Nguyễn Nộn lại còn gả em gái con dì cho hắn với mong muốn Nộn sẽ dẫn đạo quân tấn công kinh sư từ Quốc Oai, rõ ràng Trần Tự Khánh đã tính toán cho cuộc tấn công kinh sư, Tự Khánh đã dự tính việc tấn công kinh sứ sau khi thả Doãn Tín Dực vào tháng 3/1213 với mục đích Tín Dực tấu xin cho Tự Khánh nhưng không thành công. Nên việc Tự Khánh chọn họp các đạo binh tại đền Đỗ thái úy không phải là ngẫu nhiên, rất có thể sau thảm sát họ Đỗ năm 1210 Trần Tự Khánh đã mượn tiếng xấu đó để vấy lên triều đình, mà có cớ tấn công, nên sau khi chiếm được kinh sư lại không nắm giữ được Huệ Tông, Tự Khánh đã tính lập người con trai của Anh Tông là Huệ Văn vương ở Hạc Kiều là vua, rất có thể Huệ Văn vương là hoàng tử của Anh Tông với Đỗ thị, chúng ta biết ít nhất có 2 nàng Đỗ thì là cháu của Anh Vũ làm phu nhân của Anh Tông.
– Ghi chép đầu tiên của Việt sử lược về Trần Thủ Độ lại rất khó hiểu, theo văn bản thì tên nhân vật được nhắc tới là Trần Thủ Đạt nhưng theo ghi chép lần thứ hai thì có vẻ như ghi chép lần thứ nhất là nhầm lẫn. Việt này rất khó để đoán định nên đành dựa vào chú thích của các dịch giả vậy. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp tồn tại nhân vật Trần Thủ Đạt và đáng lẽ trong ghi chép lần thứ hai của Việt sử lược thì tác giả phải chép là Thủ Đạt, Hiến Sâm thừa thắng tiến đến bến Từ Điệu, nhưng vì lý do nào đó mà chép Đạt thành Độ ?
Việt sử lược chép: “Giáp Tuất [1214] Tháng giêng, lúc bầy giờ bọn hộ vệ nhiều người bỏ đi, duy có bọn nội thị phán thủ Trần Hân 30 người cùng đi, vua và thái hậu lên thuyền ngự đến núi Tam Trĩ ở tại nhà Hoàng Ngũ (…) Năm Ất Hợi [1215] Tháng 3, Tự Khánh nghe tin Nguyễn Đường bị hại, dẫn quân tới cứu, lại sai tướng là Trần Thủ Khánh, Trần Hiến Sâm, Đào Phán đóng ở Lan Kiều đánh tướng của Nguyễn Nộn là Phí Thám (…) Ất Dậu [1225] Mùa đông tháng chạp, vua [Chiêu Thánh] sai nội thị phán thủ Phùng Tá Chu, nội thành khiển tả ti lang trung Trần Trí Hoành đem văn võ bá quan, sửa soạn thuyền xe đến đến phủ Tinh Cương”.
Toàn thư chép: “Giáp Tí [1264] Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: An Quốc là anh thần, nếu cho giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao ? Vua bèn thôi”.
Bia ma nhai trên núi Cô Phong [Hoa Lư, Ninh Bình] viết: “Năm Bình Ngọ niên hiệu Kiến Gia là năm đại hưng thịnh. Đời vua thứ hai nhà Trần, có một người tu hành từ phía nam tới, thiền sư mở tiệc ở núi Cô Phong, nhờ ân huệ của An Quốc đại vương, lại mở ra nham Bảo Phúc, cho mãi mãi thờ cùng, đời sau nếu ai qua đây, thấy lời này, giúp đỡ thêm cho nhà thiền”.
– Việc xuất hiện nhân vật Trần Thủ Khánh năm 1215 tạo ra sự hồ nghi về nhân vật Trần Thủ Đạt năm 1214 và rất có thể An Quốc đại vương trên bia ma nhai tại núi Cô Phong là em trai của thái sư Trần Thủ Độ. Việc An Quốc đại vương giúp đỡ vị thiền sư đến từ phương nam mở nham Bảo Phúc gợi ý chúng ta đất Hoa Lư là ấp thang mộc của An Quốc đại vương.
Tiểu kết: Kết thúc loạt bài Trần triều nghi vấn tôi gom lại vài điểm đang cố gắng chứng minh
– Trần Lý chết trong cuộc tấn công kinh sư vào tháng 8/1209. Trần Tự Khánh quản lĩnh mọi việc của họ Trần và rất có thể bị Trần Thừa hạ độc vào tháng 12/1223.
– Họ Trần là gia tộc rất mạnh ở phía đông và rất có thể có những người giữ chức vụ quan trọng trong triều đình, những nhân vật có thể kể đến trong buổi đầu kiến lập như Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa, Trần thị, Trần Tam Nương, Ngoạn Thiềm công chúa, Trần Báo, Trần Hiến Sâm và Trần Thủ Độ.
– Việc sử dụng phụ nữ cũng như y thuật trong chiến tranh của họ Trần rất mạnh, trong buổi đầu kiến lập Trần Thủ Độ là hình ảnh bên ngoài của Trần Thừa.
– Lấp ló những mối quan hệ giữa họ Trần với các dòng họ khác, rất có thể thông qua hôn nhân mà từ đó gợi ý cho chúng ta về việc mở rộng họ Trần tới thái bảo Trần Trung Tá.

Trần triều nghi vấn: Quốc mẫu Trần Thị

Việt sử lược chép: “Kỷ Tị [1209] Rước vương tử Thầm lên ngôi ở tại nhà đó. Lúc bấy giờ, gia thần của Sảm là Lưu Thiệu nói với Nguyên Tổ và người Giao Hào là Phạm Ngu rằng: Thầm tuy lớn nhưng là con thứ, Sảm tuy bé nhưng là con cả, xin 2 ông lo liệu. Nguyên Tổ bèn cùng Ngu rước Sảm về Mang Nhân lên ngôi, xưng là Thắng vương, giáng Thầm làm vương (…) lấy Nguyên Tổ làm Minh sự, Ngu làm Thượng phẩm phụng ngự”.   
Việt sử lược chép: “Canh Ngọ [1210] Vua sai người đi đón con gái thứ họ Trần. Tự Khánh không chịu cho đón (…) Tân Mùi [1211] Mùa xuân tháng giêng, vua lại sai đón con gái thứ họ Trần. Tự Khánh không chịu cho đón (…) Ngày Quý Dậu, vua lại sai đón con gái thứ họ Trần. Tự Khánh sai nội điện trực là Phùng Tá Chu và tướng là Phan Lân, Nguyễn Ngạnh đưa con gái thứ của họ Trần về kinh sư”.
Toàn thư chép: “Tân Mùi [1211] Tháng 2 vua lại sai Phụng ngự là Phạm Bố đi đón Trần thị. Tự Khánh bèn sai bọn Phùng Tá Chu đưa Trần thị đi. Gặp khi Tô Trung Từ và Đỗ Quảng đang đánh nhau ở [bến] Triều Đông, Tá Chu bèn đỗ thuyền ở bến Đại Thông [Trung Từ mượn binh của Lân và Ngạnh] Đỗ Quảng bị thua. Bố và Trung Từ đưa Trần thị vào cung, lập làm nguyên phi; cho Trung Từ làm Thái uý phụ chính; phong Thuận Lưu bá Trần Tự Khánh làm Chương Thành hầu”.
– Khoảng tháng 10/2010 Cao Tông băng, xảy ra xung đột giữa các quan lại cũ của triều đình với Tô Trung Từ. Huệ Tông nhiều lần muốn rước Trần thị về kinh sư, nhưng Tự Khánh không chịu. Khánh giận bởi khi Cao Tông mất, muốn vào dự lễ tang như Trung Tự không cho. Theo Toàn thư thì tháng 2/1211 Huệ Tông lại sai người đi rước Trần thị và lần này Tự Khánh chấp thuận, nhưng trong các lần vua sai người đi rước, tuyệt không thấy chép đến tên sứ giả, lần rước được Trần thị thì Toàn thư chép rất rõ là Phụng ngự Phạm Bố. Không rõ Phạm Bố có mối quan hệ gì với Phạm Ngu hay không ?
– Vua sai sứ đi rước vợ thì ai dám cướp mà Trần Tự Khánh phải cử Phùng Tá Chu, Phan Lân, Nguyễn Ngạnh đưa Trần thị về kinh sư. Đỗ Quảng và Tô Trung Tự giữ nhau từ tháng 12/1210 đến tháng 2/1211 vẫn chưa phân thắng thua. Nhưng khi có Lân và Ngạnh giúp sức thì Quảng bại. Rõ ràng Tự Khánh đã cử rất nhiều binh lính để hộ tống Trần thị. Hoặc là Trung Tự thấy sức không đủ chống lại quan quân cũ của triều đình nên có ý liên kết với người cháu là Tự Khánh, nên nhân việc rước Trần thị cũng tiện việc mượn binh và điều kiện mà Khánh đưa ra có lẽ là tước Chương Thành hầu chăng ?
Việt sử lược chép: “Tân Mùi [1211] Tháng 10, người Hồng đánh Phạm Vũ ở Nam Sách (…) Vũ thắt cổ chết. Người Nam Sách cầu cứu Tự Khánh (…) Quý Dậu [1213] Tháng 7, người Nam Sách là Phạm Dĩ đánh Đinh Khôi phải bỏ chạy (…) Tháng 9, tướng của Tự Khánh là Đinh Khôi làm phản. Tự Khánh bắt giết đi (…) Giáp Tuất [1214] Phạm Ngữ giữ Bần Ải [Bần Yên Nhân, Mỹ Hào, Hưng Yên ? – TQV] Đinh Sửu [1217] Tháng 4, Nguyễn Nộn đem binh đánh Phạm Ân. Quân của Ân bị hãm ở cửa đầm Lãnh Kinh (…) Vua ngự ở tòa Lương Thạch, xét tội Phạm Ân thua trận, truất Ân làm tiểu thị vệ, đánh 80 trượng (…) Kỷ Mão [1219] Thái úy sai Vương Lê đem binh đến Nam Sách hợp cùng Phạm Dĩ đánh Nộn. Gặp lúc Dĩ bệnh nặng, thái úy sai thầy thuốc Thạch Chương sang chữa, chưa tới nơi thì Dĩ đã mất”.
– Trong những người họ Phạm theo Trần Tự Khánh khởi binh thì thấy rằng có nhóm người Nam Sách như Phạm Vũ, Phạm Dĩ và nhóm người Giao Hào như Phạm Ngu, Phạm Ngữ. Mỹ Hào trước là Đường Hào, quê của Phạm Ngũ Lão (1255-1320). Tôi phỏng đoán bà Phạm thị, vợ của Trần Tự Khánh có mối liên hệ với họ Phạm ở Đường Hào, bởi vì việc tôn Hạo Sảm lên ngôi, rồi giáng Thầm làm vương là việc rất quan trọng. Phạm Ngu, Trần Lý và Lưu Thiệu phải có mối quan hệ rất tốt mới cùng nhau thực hiện việc phế lập ?
Toàn thư chép: “Kỉ Mùi [1259] Mùa xuân tháng giêng, phu nhân của Trần Thủ Độ là Linh Từ quốc mẫu Trần thị mất. Trần thị được gọi là quốc mẫu vì đó vốn là hiệu của Ngô phu nhân trước kia, tức là hoàng hậu. Thái Tông thấy Linh Từ đã từng làm hoàng hậu của Lý Huệ Tông, không nỡ gọi là công chúa, cho nên phong làm quốc mẫu, cũng là biệt danh của hoàng hậu. Xe kiệu mũ áo quân hầu của bà đều ngang với hoàng hậu”.
– Theo như Toàn thư thì Trần thị được gọi là quốc mẫu, tức là hoàng hậu. Quốc mẫu vốn là hiệu của Ngô phu nhân. Chúng ta biết gì về vị Ngô phu nhân này ? Theo như Toàn thư thì Thái Tông “không nỡ” gọi Trần thị là công chúa nên mới phong làm quốc mẫu vì Trần thị đã từng là hoàng hậu của Lý Huệ Tông. Xem như thế Quốc mẫu là để dùng cho những người từng là hoàng hậu ?
Việt sử lược chép năm 1188, thái sư Đỗ An Thuận mất, lấy thái phó Ngô Lý Tín làm phụ chính. Năm 1190, thái phó Ngô Lý Tín chết, dùng Đàm Dĩ Mông làm phụ chính. Rõ ràng dưới triều Cao Tông có nhân vật họ Ngô giữ chức vụ rất lớn trong triều đình. Nhưng điều thú vị là người thay thế Ngô thái phó là Đàm Dĩ Mông, chính là chú của Đàm thái hậu và là em trai của tướng Đàm Thì Phụng (và Thì Phụng có lẽ mới là vị tả cụ thánh trong sự biến liên quan tới Đỗ Anh Vũ năm 1148 chứ không phải Đàm Dĩ Mông như Toàn thư chép).
Cũng tương tự, tiền nhiệm của Ngô thái phó là Đỗ An Thuận, chính là em trai của Đỗ thái hậu Thụy Châu. Nên ngờ rằng Ngô Lý Tín hẳn là có quan hệ với vị Ngô phu nhân, nhưng vào thời điểm mà Ngô thái phó còn làm phụ chính thì Ngô phu nhân vẫn còn là hoàng hậu. Nhưng Việt sử lược có chép một sự kiện liên quan tới Mạc Hiển Tích tư thông với Thái hậu Thụy Châu năm 1189. Trước hết, Đỗ thái hậu và Mạc Hiển Tích (như Toàn thư chép năm 1086 trúng Hàn lâm viện) thì cả 2 vị này cũng đã rất lớn tuổi, việc tư thông rất khó xảy ra ? Có lẽ do cái tiếng của vị thái hậu này trước đây đã từng tư thông với Đỗ Anh Vũ nên nay chịu tiếng ngờ hoặc của người đời chăng ?
Như vậy là năm 1188, Ngô Lý Tín giữ chức phụ chính, năm 1189 thì liên quan tới vụ án Mạc Hiển Tích, năm 1190 thì chết. Có lẽ vụ án Mạc Hiển Tích không đơn giản như sách sử đã chép, tôi ngờ rằng nó liên quan tới âm mưu chính trị, mà kết cục là Ngô thái phó chết, Ngô hoàng hậu bị biếm thành quốc mẫu.
– Bằng chứng khác cho thấy sự biến năm 1189 là một âm mưu chính trị, đó là vào tháng 2/1190 Đỗ thái hậu chết thì sau đó Ngô thái phó cũng chết. Việc này cũng cho thấy Ngô thái phó có mối quan hệ tốt với Đỗ thái hậu. Theo tài liệu của tiến sĩ Ngô Đăng Doanh thì đền Gắm [thôn Cẩm Khê, Tiên Lãng, Hải Phòng] là nơi thờ thượng tướng quân Ngô Lý Tín, ngài sinh năm 1126 và mất năm 1190, cha ngài là Ngô Huy Hiếu và mẹ ngài là Đào Thị Phúc, quê trang Vĩnh Đồng, huyện Khoái Châu, trấn Sơn Nam. Tôi cho rằng: Ngô Lý Tín có liên quan tới mạn ven biển vì như Toàn thư chép: năm 1182 lấy Ngô Lý Tín làm thượng tướng quân, đem quân thủy bộ đi tuần bắt trộm cướp nên năm 1184 hai nước Xiêm La và Tam Phật Tề vào trấn Vân Đồn xin buôn bán.
Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Trì Bát ( ? – 1190). Chùa Thanh Tước, núi Du Hý, làng Cát Lợi Hy, Thường Lạc. Người Ô Diên Vĩnh Khương, họ Nguyễn, nguyên là cậu của Thái úy Tô Hiến Thành, triều vua Anh Tôn nhà Lý”.
Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Khuông Việt (933-1011). Chùa Phật Đà, làng Cát Lợi, Thường Lạc. Người Cát Lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (…) Sau Sư lấy cớ già yếu, xin từ về núi Du Hí ở quận mình, lập chùa trụ trì; người học tìm tới đông đảo”.
Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Tịnh Lực (1112-1175). Am Việt Vương Trì, Tỉnh Cương, Vũ Ninh. Người Cát Lăng, Vũ Bình họ Ngô, tên Trạm”.
Thiền uyển tập anh chép: “Thiền sư Trí Nhàn. Am Phù Môn, núi Cao Dã, Yên Lãng. Người Phong Châu, họ Lê, tên Thước là miêu duệ của Ngự Man Vương triều Lê (…) Hai triều đại Anh Tôn và Cao Tôn, nhiều lần triệu thỉnh mà Sư không đáp. Phụ quốc thái úy Tô Hiến Thành và thái bảo Ngô Hòa Nghĩa đem lễ thầy trò đến tìm, trải qua 10 năm chưa hề biết mặt. Bỗng một hôm, Sư cùng các vị ấy gặp nhau, họ vui mừng khôn xiết”.
Việt sử lược chép: “Tân Mùi [1211] Tướng của Nguyễn Tự là Nguyễn Thử báo với Trung Từ rằng: Tự định giết con rể Từ là Nguyễn Ma La, rồi làm phản. Trung Từ giận, đoạt hết binh quyền của Tự. Tự sợ chạy sang Quốc Oai (…) Nhâm Thân [1212] Tự đánh người Cát Lợi là Ngô Thưởng Vu và Vũ Cao, bị trúng tên bèn về ở ngõ Tây Dương (…) Quý Dậu [1213] Thái hậu ngầm sai tên tiểu thị vệ hỏa đầu Vương Thường vời tướng ở đạo Phù Lạc là Phan Thế, ở đạo Bắc Giang là Ngô Nãi hẹn phát binh đánh Tự Khánh”.
– Theo tác giả Lê Mạnh Thát núi Thanh Tước chính là núi Du Hí và chùa Thanh Tước mà Trì Bát ở, rất có thể là do Khuông Việt dựng. Khi Nguyễn Tự bị chủ tướng Tô Trung Từ tước binh quyền, Tự sợ hãi chạy về Quốc Oai, sau khi Trung Từ chết, Tự dẫn người Quốc Oai cướp phủ vua. Như thế tôi cho rằng Nguyễn Tự người Quốc Oai và rất có thể có mối quan hệ thân tộc với Trí Bát thiền sư. Trì Bát thiền sư là cậu của thái úy Tô Hiến Thành và như thế rất có thể Tô Trung Từ có quan hệ thân tộc với Tô Hiến Thành.
Theo Thiền uyển tập anh thì thiền sư Trí Nhàn gặp Tô Hiến Thành và Ngô Hòa Nghĩa đồng thời, như thế cuộc gặp phải diễn ra trước khi Tô Hiến Thành mất, tức là trước năm 1179. Cũng theo Thiền uyển tập anh thì Tô thái úy và Ngô thái phó trải 10 năm dâng lễ mới gặp được thiền sư, xem như vậy thì 10 năm, trước cuộc gặp bất ngờ thì thiền sư Lê Thước đã rất nổi tiếng.
 Theo trình tự ghi chép của Thiền uyển tập anh thì triều Cao Tông cho thỉnh nhưng sư không đáp, rồi bỗng một hôm sư gặp Tô thái úy và Ngô thái phó, sau đó là họ vui mừng khôn xiết, như thế xem ra rất có thể kịch bản diễn ra như sau: thiền sư Lê Thước đã rất nổi tiếng dưới triều Anh Tông, triều đình thỉnh nhưng sư không đáp, các thái úy Tô Hiến Thành, thái phó Ngô Hòa Nghĩa dâng lễ. Sang thời Cao Tông triều đình tiếp tục thỉnh nhưng sư không đáp, nhưng bỗng một hôm sư xuất hiện ở kinh thành và gặp đồng thời 2 vị đệ tử là Tô thái úy và Ngô thái phó. Vậy thì thời điểm diễn ra cuộc gặp vào khoảng từ năm 1175 đến năm 1179.
Theo Việt sử lược thì vào tháng 9/1175 có ánh sáng thần xuất hiện ở núi Thái Lãm, phải chăng đây là điềm báo sự xuất hiện của thiền sư tại kinh thành ? Nhưng nếu đúng thì vì sao thiền sư tự dưng lại xuất hiện ở kinh sư, trong khi nhiều lần triều đình cho thỉnh mà sư không đáp ?
 Đó có thể là do vào tháng 7/1175 đã xảy ra 1 sự kiện lớn, chính là việc vua Anh Tông mất. Mẹ vua Lý Anh Tông là người trong gia tộc họ Lê của thiền sư Trí Nhàn. Nếu cuộc gặp diễn ra vào tháng 9/1175 thì đến  1188 là 13 năm, mà trước đó vào năm 1182, Ngô Lý Tín mới được phong thượng tướng quân, tất nhiên là lối chép truyện của Thiền uyển tập anh thường không chính xác giữa thời gian và chức tước, nhưng dù sao tôi cũng thấy rất khó để Ngô Hòa Nghĩa là Ngô Lý Tín! Nhưng tôi ngờ rằng 2 nhân vật này có mối quan hệ thân tộc, vì thời gian khá sát nên tôi cho rằng có thể họ là anh em chăng ?
– Theo tác giả Lê Mạnh Thát thì thiền sư Tịnh Lực quê Cát Lăng, thuộc huyện Tiên Lữ, phủ Khoái Châu. Trùng hợp với ba của Ngô Lý Tín là Ngô Huy Hiếu theo thần tích truyền thuyết. Còn vị tướng Ngô Thưởng Vu người Cát Lợi và Ngô Nãi người Bắc Giang có lẽ liên quan tới Khuông Việt đại sư chăng ?
Việt sử lược chép: “Nhâm Thân [1212] Mùa xuân tháng giêng, Quan Minh Tự ở Thuận Lưu là Trần Tự Khánh cùng với Nguyễn Tự hội họp nhau ở bến Triều Đông thề là đến chết vẫn kết giao với nhau mà hết lòng giúp nước, cùng chung dẹp yên cho dân cái họa nhiễu loạn. Rồi chia theo hai bờ con sông lớn, mỗi người tự quản lãnh mọi việc một bên. Từ Thượng Khối đến Na Ngạn, con đường ven theo Bắc Giang và làng ấp ở Lục Lộ thì thuộc về Trần Tự Khánh. Từ Kinh Ngạn đến Ô Diên thì thuộc về Nguyễn Tự. Hẹn nhau đến tháng 3 họp binh đánh người vùng Hồng (…) Tháng 2, Nguyễn Tự đánh người Cát Lợi là Ngô Thưởng Vu và Võ Cao, bị tên bắn trúng bèn trở về ở ngõ Tây Dương. Hơn một tuần thì vì lầm lỡ ăn nằm cùng với đàn bà nên khí độc lại phát lên mà chết. Nhà vua sai người đến vỗ về tướng lĩnh của Tự. Nhưng người vua sai bị tên phó tướng là Nguyễn Cuộc giết. Nhà vua giận lắm, mới tự làm tướng dẫn quân đi đánh Nguyễn Cuộc ở ngoài thành Tây Dương. Lúc tiến đến ngõ Phổ Hỷ, quan quân nhà vua thua to. Cây bảo kiếm nhà vua dùng cũng mất. Vua phải ra roi giục ngựa mà chạy về đến ngõ Diêu Tắc mới thoát được”.
– Ghi chép của Việt sử lược về cái chết của Nguyễn Tự cũng rất đang nghi ngờ ? Thoặt xem qua thấy Việt sử lược chép Nguyễn Tự lỡ ăn nằm với đàn bà nên độc khí lại bốc lên dẫn tới cái chết (độc khí phục phát nhi tốt) làm chúng ta nghĩ rằng khi đánh Cát Lợi vào tháng 2/1212 Tự trúng tên có độc, nhưng xem kỹ thì thấy rằng mô tả của Việt sử lược không hề nhắc tới tên có độc tố (vi lưu thỉ sở trúng).
Theo ghi chép của Việt sử lược thì Nguyễn Tự chỉ bị trúng tên lạc mà thôi, nhưng hẳn là vết thương nặng, tuy nhiên cơn nguy kịch đã qua, cũng hơn 10 ngày kể từ thời điểm trúng tên, Tự vẫn sống dù là chưa bình phục hẳn. Việc tử vong khi quan hệ tính dục là chuyện không hiếm, nhưng ở đây tôi muốn hướng đến giả thuyết về cái chết của Nguyễn Tự liên quan tới âm mưu chính trị.
Cái chết của Nguyễn Tự liên quan tới đàn bà nên đối tượng mà chúng ta nghĩ đến đầu tiên là họ Trần, nhưng trước khi đánh Cát Lợi, Tự đã có thỏa thuận với Khánh sẽ cùng công người Hồng vào tháng 3/1212. Thỏa thuận này rất có lợi cho Khánh nên rất khó để họ Trần là thủ phạm ?
Thú vị là sau khi Tự chết, Huệ Tông sai sứ đến chiêu an phó tướng của Tự là Nguyễn Cuộc. Nhưng Nguyễn Cuộc đã giết sai sứ của vua. Chúng ta không biết chính xác thì vì lý do gì mà Cuộc phải giết sứ giả của vua ? Nhưng bình thường thì chủ tướng vừa chết, lòng quân hỗn loạn, trước mắt Cuộc cứ tạm nhận đề nghị của vua, rồi toan tính tiếp hoặc chí ít nếu có từ chối cũng không nhất thiết phải giết sứ giả của vua, vì việc đó rõ ràng đã khiến triều đình tức giận và bằng chứng là cuộc tấn công do đích thân vua tiến hành.
Về phía triều đình, việc cử sứ giả đi chiêu an, khi sứ bị chém, triều đình đã tức giận, dẫn quân thảo phạt, nhưng nếu sức triều đình yếu thế thì cũng không nên vì sứ giả bị chém mà tấn công, lại thêm nếu có thảo phạt thì cũng không nhất thiết phải đích thân vua tiến hành, có thể dùng em của thái hậu là Đàm Kinh Bang, người được giữ chức  phụ chính vào tháng 1/1212. Nhưng Huệ Tông vẫn thân chinh thảo phạt, ấy là vì vua muốn khẳng định với các sứ quân cát cứ và rất có thể Huệ Tông đã có kế hoạch tấn công Nguyễn Cuộc nếu như việc chiêu an không thành ?
Kế hoạch đã được toan tính kỹ nên vua mới tự tin dẫn quân thảo phạt. Vào tháng 12/1211 Trần Tự Khánh đem quân đóng ở Tế Giang khiến vua và thái hậu đã vội đi chơi ở bến Lãnh Kinh, trong khi Khánh phải chịu thỏa thuận chia đất, hòa bình với Nguyễn Tự. Tôi cho rằng sau khi thua người Cát Lợi, Huệ Tông đã lên kế hoạch kiêm tính Nguyễn Tự.