Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

Lịch sử kinh tế Việt Nam (bài 2)

(5) Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quang Thái năm thứ 5 [năm 1392] Quý Ly soạn sách Minh đạo gồm 14 thiên dâng lên. Đại lược cho Chu công là tiên thánh, Khổng Tử là tiên sư. Cho sách Luận ngữ có 4 chỗđáng ngờ như Khổng Tử ra mắt nàng Nam Tử, Khổng Tử bị hết lương ở nước Trần, Công Sơn, Phật Hất cho gọi mà Khổng Tử đều muốn tới giúp, cho Hàn Dũ làđạo nho, cho Chu Mậu Thúc, Trình Di, Dương Thi, La Trọng Tố, Lý Diên Bình, Chu Tử tuy học rộng nhưng ít tài, không sát với sự việc, chỉ thạo cóp nhặt. Thượng hoàng ban chiếu dụ khen (…) Quang Thái năm thứ 6 [năm 1393] mùa xuân tháng giêng lấy Hồ Cương coi quân Tả thành dực. Quý Ly ngầm tìm được dòng dõi họ Hồ, muốn đổi theo họ cũ, đưa Cương ra làm người tâm phúc (…)Quang Thái năm thứ 7 [năm 1394] mùa xuân tháng giêng thuyền buôn nước Chà Bàtới dâng ngựa lạ (…) mùađông tháng 11 bãi bỏĐăng văn kiểm pháp viện, đặt Thượng lậm tự. Lấy Lê Nguyên Trưng con cả của Lê Quý Ly làm Phán tư sự. Tháng 12 thượng hoàng băng (…) Quang Thái năm thứ 8 [năm 1395] Lấy Quý Ly làm Nhập nội phụ chính thái sư bình chương quân quốc trọng sự (…) Quý Ly nhân biên chép thiên Vô dật, mệnh lệnh ban ra thì xưng là Phụ chính cai giáo hoàng đế (…) Quang Thái năm thứ 9 [năm 1396] mùa xuân tháng giêng xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến 50 tuổi trở xuống, bắt phải hoàn tục. Tháng 3 xét duyệt quân ngũ. Mùa hạ tháng 4 bắt đầu phát hành tiền giấy Thông bảo hội sao[Thiếu bảo Vương Nhữ Chu đề nghị đổi lại chế độ tiền, Quý Ly nghe theo] In xong ra lệnh cho người đến đổi, cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Thể thức tiền giấy: Tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 5 tiền vẽ phượng, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất tài sản tịch thu. Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trìở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như làm tiền giả. Xuống chiếu quy định cách thức thi chọn nhân tài, dùng thể văn bốn kỳ, bãi bỏ phép viếtám tả cổ văn (…) tháng 6 quy định các kiểuáo mũ quan văn võ (…) tháng 11 Quý Ly làm sách Quốc ngữ thi nghĩa và bài tựa, sai sư nữ dạy ngự phi và cung nhân học tập. Bài tựa phần nhiều theo ý mình, không theo tập truyện của Chư Tử (…) Quang Thái năm thứ 10 [năm 1397] mùa xuân tháng 2 sai Lại bộ thượng thư kiêm thái sư lệnh Đỗ Tỉnhđi xem đất vàđo đạc động An Tôn phủ Thanh Hoá, đắp thànhđào hào, lập nhà tông miếu, dựngđàn xã tắc, mở đường phố, cóý muốn dời kinh đô đếnđó (…) mùa hạ tháng 4 [đổi lại các trấn] bãi các chứcđại tiểu tư xã, đại toát còn chức quản giáp vẫn giữ theo quy chế cũ. Định quy chế quan lại trấn nhiệm bên ngoài. Lộ đặt chức An phủ sứ và An phủ phó sứ. Phủ đặt chức Trấn phủ sứ và Trấn phủ phó sứ. Châu đặt chức Thông phán và Thiêm phán. Huyện đặt chức Lệnh uý và Chủ bạ để cai trị. Các việc hộ tịch, tiền thóc, ngục tụng đều làm chung thành sổ sách của 1 lộ, đến cuối năm báo lên sảnh để làm bằng cứ màkhảo xét (…) tháng 5 xuống chiếu lệnh cho các phủ lộ Nam Sơn, Kinh Bắc, HảiĐông đều đặt 1 học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau. Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ, cứ cuối năm thì chọn ngườiưu tú tiến cử lên triềuđình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc (…) tháng 6 xuống chiếu hạn chế danh điền[ruộng tư]Đại vương và trưởng công chúa số ruộng không hạn chế, đến thứ dân số ruộng là 10 mẫu, cho tuỳý lấy ruộngđể chuộc tội, số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước[trước các nhà tôn thất thường sai nô tỳđi đắpđê bồiở bờ biểnđể ngăn nước mặn, sau 2-3 năm khai khẩn thành ruộng, cho họ lấy nhau, sinh sốngở đấy, lập ra nhiều ruộng đất tư trang do đó mới có lệnh trên] mùađông tháng 11 Quý Ly bức vua dời kinh đô về phủ Thanh Hoá (…) Quang Thái năm thứ 11 [năm 1398] mùa xuân tháng 3 Lê Quý Ly bức vua nhường ngôi cho hoàng tử An (…) ra lệnh cho những người có ruộng phải khai báo số mẫu ruộng. Hành kiểm Hà Đức Lân nói kín với người nhà rằng: Đặt ra phép này chỉđể cướp ruộng của dân thôi. Lại lệnh cho dân phải nêu rõ họ tên cắmở đầu ruộng. Ruộng nào không có giấy khai sinh báo hay cam kết thì lấy làm quan điền (…) Kiến Tân năm thứ 2 [năm 1399] Quý Ly sai xa kỵ vệ thượng tướng quân Phạm Khả Vĩnh thắt cổ[thái thượng hoàng] chết. Thái bảo Trần Hãng, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Quý Lý không thành bị giết (…) tháng 9 sai người phủ Thanh Hoá trồng tre bao quanh thànhđô, tháng 10 đổi người bị tùđày làm línhđi khơi sông ngòi (…) Kiến Tân năm thứ 3 [năm 1400] mùa xuân tháng giêng Quý Ly lập con là Hán Thương làm thái tử (…) tháng 2 Quý Ly bức vua nhường ngôi, tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu làĐại Ngu, đổi thành họ Hồ, nhận là dòng dõi xa của Hồ Công Mãn, tế Ngu Thuấn là thuỷ tổ (…) sai thuộc quan chia nhau đi các lộ, bí mật hỏi dò việc lợi việc hại trong dân (…) mùađông tháng 12 Quý Ly tìm phả hệ họ nội ngoại (…) đem 15 vạnđánh Chiêm Thành (…) Quý Ly nhường ngôi cho con là Hán Thương [mẹ là Huy Ninh công chúa con gái của Trần Minh Tông] tự xưng là thượng hoàng, cùng coi chính sự(…) sai sứ sang nhà Minh, nói rằng họ Trầnđã tuyệt tự, Hán Thương là cháu ngoại Minh Tông, tạm trông coi việc nước. Hán Thương đánh thuế các thuyền buôn, định 3 mức thượng trung hạ. Mức thượngđánh thuế mỗi thuyền 5 quan, mức trung 4 quan, mức hạ 3 quan (…) Thiệu Thành năm thứ 1 [năm 1401] mùa xuân tháng 2 đổi lịch Hiệp kỷ của nhà Trần, dùng lịch Thuận Thiên (…) mùa hạ tháng 4 sai làm sổ hộ tịch trong cả nước (…) lập phéphạn chế gia nô, chiếu theo phẩm cấp được có số lượng khác nhau, còn thừa phải dâng lên, mỗi tên được trả 5 quan tiền, người nàođáng được có gia nô phải trình xuất chúc thư 3 đời. Nô người nước ngoài thì không theo lệ này (…) đặt kho thóc thường bình[khi thóc hơn thìđong vào, khi thóc kém thì bán ra để giá thócổnđinh] phát tiền giấy cho các lộ, theo giá cả mua thóc chứa vào kho (…) Thiệu Thành năm thứ 2 [năm 1402] điều An phủ sứ lộ Thuận Hoá Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa [đất chiếm được của người Chiêm Thành] dâng thư nói xin theo việc cũ của nhà Hán, Đường (…) Quý Ly phê: biết được mấy chữ mà giám nói chuyện Hán Đường, thực là thằng ngọng hay nói (…) định lại các lệ thuế và tô ruộng. Triều trước mỗi mẫu thu 3 thăng thóc, nay thu 5 thăng. Bãi dâu triều trước thu mỗi mẫu 9 quan hoặc 7 quan tiền, nay thu hạng thượng đẳng mỗi mẫu 5 quan tiền giấy, hạng trung đẳng mỗi mẫu 4 quan tiền giấy, hạng hạ đẳng 3 quan tiền giấy. Tiền nộp hàng năm củađinh nam trước thu 3 quan, nay chiếu theo số ruộng, người nào chỉ có 5 sào thì thu 5 tiền giấy, từ 6 sào đến 1 mẫu thì thu 1 quan, 1 mẫu 1 sào thì thu 2 quan, từ 2 mẫu 1 sào đến 2 mẫu 5 sào thu 2 quan 6 tiền, từ 2 mẫu 6 sào thu 3 quan. Đinh nam không có ruộng và trẻ mồ côi, đàn bà goá thì dẫu có ruộng thì thôi không thu (…) Khai Đại năm thứ 1 [năm 1403] mùa xuân tháng 2 Hán Thương đem những người không có ruộng nhưng có của dời đến Thăng Hoa, biên chế thành quân ngũ. Quan lạiở các lộ phủ châu huyện chia đất cho họở (…) đặt chức thị giám[chức coi chợ] ban hành cân thước thưng đấuđịnh giá tiền giấy cho mua bán với nhau. Người mua bán phần nhiều chê tiền giấy. Lại lậpđiều luật để xử tội không tiêu tiền giấy, bán giá cao, đóng cửa hàng, bao che giúp nhau (…) Khai Đại năm thứ 2 [năm 1404] Hán Thương định thể thức thi chọn nhân tài (…) phỏng theo lối văn tự ba trường của nhà Nguyên (…) Khai Đại năm thứ 3 [năm 1405] đói kém, lệnh cho các quan phủ lộ châu huyệnkiểm tra xem các nhà giàu có bao nhiêu thóc, bảo họ bán cho dân, số lượngít nhiều khác nhau (…) cấm nấu rượu vì lãng phí thóc” [nhà Trần đã đoàn kết được toàn dân cùng chống lại giặc phương bắc và giành chiến thắng tuy nhiên sau cuộc chiến Đại Việt cũng bị tổn hại rất nhiều, thêm vào đó những hiểm hoạ thiên tai xảy ra liên tục cũng như cuộc chiến liên miên với Chiêm Thành khiến nhà Trần suy kiệt [có lẽ sau 2 công cuộc lớn là trị thuỷ và chống giặc ngoại xâm vua quan nhà Trần có cái nhìn trọng dân nên đã dẫn đến việc các phú gia trở thành thế lực đối kháng] năm 1378 ngân khố trống rỗng, triều đình đã thực hiện chính sách tăng thuế và áp dụng luật thuế dung của nhà Đường, đây là chính sách có thể giải quyết ngay khó khăn tài chính của triều đình, tuy nhiên lại gây ra tổn hại rất lớn đối với nền kinh tế. Sau khi thu gom tiền thuế và kinh nghiệm những lần Chiêm Thành tấn công vào kinh đô, triều đình quyết định đem giấu tiền nhưng do sự cố thiên tai mà số lượng tiền đem giấu không lấy lại được. Giai đoạn này Lê Quý Ly chỉ là đại tướng cầm quân, phải đến những năm 1395 khi làm Nhập nội phụ chính thì Quý Ly mới có những quyết sách, những cải cách của Hồ Quý Ly diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống mà gây chú ý lớn nhất là việc cho phát hành tiền giấy. Quý Ly cho thấy 1 con người rất am tường nho họcvà nhiều cải cách theo lối phương bắc nên việc phát hành tiền giấy [theo gợi ý của Vương Nhữ Chu] là sự học tập của người phương bắc và áp dụng vào phương nam từ những đòi hỏi của hoàn cảnh [người phương bắc đã phát hành và sự dụng tiền giấy trước đó] Qua những sự kiện như đổi họ, tìm gia phả nội ngoại, dời kinh đô về phủ Thanh Hoá cho thấy Quý Ly là con người tự phụ và cục bộ. Các cải cách củaQuý Ly nhiều nhưng chỉ có 1 số cải cách là có ảnh hưởng mạnh mẽ như: phát hành tiền giấy [nguyên nhân đầu tiên là do thiếu tiền, nguyên nhân sau cùng là do cần tiền]; hạn chế quyền tư hữu ruộng đất; hạn chế quyền tư hữu nô tỳ [sức lao động chính của ruộng đất]; định lại các khoản thuế tuy đúng nhưng thuế suất lại cao [thêm đó là đặt kho thóc thường bình; sai quan lại kiểm tra các nhà giàu bảo họ bán thóc cho dân, cấm nấu rượu vì lãng phí gạo] từ đó cho thấy mục đích của Quý Ly là kiểm soát xã hội trong đó ưu tiên là thóc gạo. Quý Ly áp đặt các mệnh lệnh song luôn tuân thủ nguyên tắc triều đình mua lại của dân [và như thế Quý Ly cần 1 khoản tài chính khổng lỗ nếu áp dụng tiền đồng thì việc này là không khả thi do đó phát hành tiền giấyđã đượcđặt ra]Cải cách quan trọng khác của Quý Ly là việc đặt học quan cũng như tiến cử. Như vậy cuối thời Trần, ngân khố trống rỗng, triều đình không kiểm soát được vấn đề lương thực kéo theo sự mất ổn định trong xã hội. Trước tình trạng ấy trong thời gian 10 năm (từ năm 1395 đến năm 1405)Hồ Quý Ly đã nỗ lực kiểm soát xã hội trong đó trọng tâm là vấn đề thóc gạo thông qua rất nhiều các cải cách.Tuy nhiên vì có qua nhiều các cải cách mà trong đó có những cải cách không cần thiết hoặc có thể thực hiện theo [tiến trình] từng phủ lộ châu dẫn đến sự phiền hà trong dân. Cuối nhà Trần tuy Đại Việt suy yếu song vua chúa không có tiếng xấu lại thêm công lao chống giặc phương bắc nên lòng dân vẫn hướng về nhà Trần, nhưng Quý Ly đã có quyết định sai đó là tiếm quyền nhà Trần, việc này đã gây ra sự phẫn nộ khiến Quý Ly buộc phải nhường ngôi cho cháu ngoại của nhà Trần là Hán Thương và cũng là con thứ của Quý Ly. Về phía nam Chiêm Thành không còn là mối lo ngại, chiếm nhiều hơn mối quan tâm là phía bắc, nhà Minh được dựngmuốn lấy phương nam, nên có nhiều động thái thăm dò Đại Việt, trong nhận thức của phương bắc về phương nam chắc chắn có 3 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của nhà Trần, trong nhận thức, nhà Minh không thể không đắn đo suy tính, thế nhưng nay phương nam đang rất hỗn loạn thì phương bắc lại thấy đó là cơ hội. Nếu Quý Ly giữ bổn phận của quân thần như Tô Hiến Thành thì chưa hẳn phương bắc đã động binh và giả như nếu có động binh thì cũng chưa hẳn Đại Việt thất bại. Tất nhiên Hồ Quý Ly không phải là Tô Hiến Thành vì Quý Ly tự phụ và cục bộ]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đinh Hợp[năm 1407] mùa hạ tháng 4 nhà Minh lấyĐô chỉ huy Lữ Nghị giữđô ty. Bắc Kinh hành bộ thượng thư Hoàng Phúc giữ 2 ty Bố Chính vàÁm Sát. Lại cấm sai phái[dịch] và ngừng thu các loại thuế 3 năm (…) Minh triều thống kê thu được: 48 phủ châu, 168 huyện, 3.129.500 hộ, 112 con voi, 35.750 con trâu bò, 8.865 chiếc thuyền (…) năm [1407] đói và dịch bệnh, dân không cày cấy được, người chết gối lên nhau (…) Kỷ Sửu [năm 1409] đói và dịch bênh nhiều hơn trước (…) Canh Dần[năm 1410] mùa xuân tháng giêng Trương Phụ sai người Minh mở thêm đồnđiềnở những nơi gần thành và thu thóc lúaở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Tam Giang để dự trữ lương quân (…) Hoàng Phúc xin cấp ruộng cho các thổ quan, tuỳ theo phẩm trật, để họ cho người cày cấy thu tô thay cho bổng lộc, còn các lưu quan thì cấp lính để cấy ruộngthu thóc, chi cấp lương ăn (…) Tân Mão[năm 1411] mùa thu tháng 7 sông Đáy nước lớn vỡđê trôi cả nhà cửa của dân (…) Quý Tị[năm 1413] tháng 2 Trương Phụ nhà Minh lệnh cho quân nhân đem đổi lấy thóc lúaở Tam Giang, Tuyên Hoá, Quy Hoá để trữ lương quân, lại mộ khách buôn nộp thóc, chở thuyềnđem về các xứ QuảngĐông, Phúc Kiến, Chiết Giang, Tứ Xuyên, Vân Nam để bán (…) Giáp Ngọ[năm 1414] mùa xuân tháng giêng chia đặt quan cai trị cùng làm việc với thổ quan khám xét nhân khẩu gộp làm sổ hộ (…) nhà Minh bắt khai số ruộng và đất trồng dâu, trưng thu lương thực tơ tằm, mỗi hộ 1 mẫu thì bắt khai thành 3, mỗi mẫu thu 5 thăng thóc, đất bãi mỗi hộ 1 mẫu thu 1 lạng tơ, mỗi cân tơ dệt được 1 tấm lụa (…) Ất Mùi[năm 1415] mùa thu tháng 8 nhà Minh khám thu các mỏ vàng bạc, mộ phu đãi nhặt vàng bạc, bắt voi trắng, mò trân châu. Thuế khoá nặng vơ vét nhiều dân chúngđiêu đứng. Bãi muối ven biển cấm dân mua bán riêng, sai nội quan coi giữ cả[trước hết sai viên cục sứ và viên phó đốc thúc dân nấu muối, mỗi tháng được bao nhiêu đưa về ty Đề cử thu giữ. Các viên nội quan mộ người buôn bỏ tiền ra lĩnh giấy khám hợp[giấy có dấu xác nhận] của ty Bố chính. Giấy khám hợp lớn thì lấy 10 cân muối, giấy khám hợp nhỏ thì lấy 1 cân rồi mới đượcđem bán. Nếu không có giấy khám hợp thì xử tội như nấu lậu (…) Mậu Tuất[năm 1418] mùa hạ tháng 4 trướcđây nhà Minh ra lệnh cho các phủ huyện châu ở nước ta trồng hồ tiêu, nay đã lên tốt sai nội quan Lý Lượng sang thu về dùng. Từ đấy quan lại đốc thúc bắt trồng, mỗi cây giống giá tới 5 quan tiền (…) Tân Sửu[năm 1421] tháng 6 lộ Tam Giang lụt lớn, mùa thu tháng 9 nước sôngĐáy dâng tràn (…) Giáp Thìn[năm 1424] mùa xuân tháng giêng nhà Minh ra lệnh khai thác[thêm] mỏ bạc (…) lệnh cho bọ Mã Kỳ lại sang lấy vàng bạc, châu báu, hương liệu (…) Đinh Mùi[năm 1427] Hạ lệnh cho dân phiêu bạt trở về quan quán để cấy cày, người nào không cóđiền sản thì cho phép buôn bán, kẻ nào bỏ nghề nghiệp thì bị xử tội nặng (…) lệnh cho các lộ cùng quan văn làm sổ hộ tịch (…) hễ thấy ngườiáođỏ Mường Mộc chở mắn muối về thì không được ngăn cấm (…) lệnh cho các lộ rằng dân quân chở lương đi bán thì cấp giấy và chỉ bảo cho đến nơi bán, không đượcđi lung tung”.
(6) Thuận Thiên năm thứ 1 [năm 1428] chi cả nước làm 5 đạo[Tây Đạo, Đông Đạo, BắcĐạo, Nam Đạo, Hải Tây Đạo] đạo đặt vệ quân, vệ đặt tổng quản (…) mùa hạ tháng 4 chiếu rằng: các thứ thuế như tô ruộng, vàng bạc, đầm phá, bãi dâu trong cả nước đều tha cho 2 năm không thu, những người già trên 70 được miễn sai dịch, các gia đình nếu trong 1 hộ có 3 người sung quân thì cho miễn 1 người (…) chiếu những giấy tờ văn khế, khoán ước về mua bán, đổi chác vay mượn không theo đúng như trong chiếu thư thì không có giá trị (…) tháng 11 làm sổ ruộng đất hộ tịch (…) đặt xã quan, xã lớn trên 100 người thì có 3 viên, xã vừa đến 50 người thì có 2 viên, xã nhỏ dưới 10 đặt 1 viên (…) đúc tiền Thuận Thiên thông bảo cứ 50 đồng là 1 tiền[Bấy giờ có nạn khan tiền, có người dâng thư kiến nghị dùng tiền giấy thay tiền đồng. Vua xuống chiếu cho triềuđình hội họp, chiếu viết: Thứ tiền đồng cổ bị nhà Hồ tiêu huỷ chỉ còn 1 phần trăm, đến nay việc trong quân, nước luôn tỏ ra thiếu thốn eo hẹp. Bây giờ muốn tìm cách cho tiền lưu thông để cho dân được tiêu dùng. Có người dâng thư kiến nghị dùng tiền giấy thay tiền đồng. Vì rằng tiền giấy là vật vô dụng màđem lưu hành giữa nhân dân là những người hữu dụng thật không phải là biết dùng tiền, vậy hạ lệnh cho các khanh họp bàn kỹ càng] [Tống sử chép: Nữ Chân khan hiếm đồng nên theo phép giao tử[khoảng giữa niên hiệu Khánh Lịch (1041-1048) nhà Tống, người đất Thục vì thấy tiền sắt nặng quá, không tiện trong việc lưu thông, nên tự làm ra 1 thứ khoản phiếu để tiêu với nhau gọi là giao tử] làm ra tiền giấy gọi là sao dẫn. Loạiđại sao (tiền giấy lớn) có 5 hạng: 1 quan, 2 quan, 3 quan, 5 quan, 10 quan. Loại tiểu sao (tiền giấy nhỏ) có 5 hạng: 100, 200, 300, 500, 700 (đồng) những tiền giấy này lưu hành với các tiền đồng, cứ 7 năm là 1 hạn (đem tiền giấy cũ đổi lấy tiền giấy mới)][rõ ràng là trong hoàn cảnh thiếu tiền và cần tiền, đồng thời việc dùng tiền giấy thay cho tiền đồng của phương bắc đã gợi ý Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy. Lê Lợi cũng ở trong hoàn cảnh của Quý Ly nhưng lại có quyết định trái ngược vì cho rằng tiền giấy là vật vô dụng [cùng với sự kiện vua quan nhà Trần đem tiền đồng đi cất giấu cho thấy thời điểm này hầu hết người Việt chưa phát hiện ra tiền là vật ngang giá, mà coi nó là tài sản] Trường hợp của Hồ Quý Ly là rất đặc biệt [việc Quý Ly cho phát hành tiền giấy và cấm lưu hành tiền đồng] cầm khảo thêm. Sử chép tiền đồng bị nhà Hồ tiêu huỷ hết chỉ còn lại 1 phần trăm. Quý Ly dùng để đúc súng thần công chăng hay trong 20 năm thuộc nhà Minh tài nguyên bị vơ vét trong đó có cả tiền đồng]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thuận Thiên năm thứ 2 [năm 1429] mùa xuân tháng giêng ra lệnh kẻ nào du thủ thực vàđánh bạc thì quan ty và quân dân bắt trị tội (…) ngườiđi đánh giặc thì nghéo, kẻ rong chơi thì giàu nên ra lệnh cho cácđại thần bànđịnh số ruộng cấp cho quan lại, quân nhân và dân chúng, trong tứđại thần trở xuống, dưới đến người già yếu, mồ côi, goá chống, đànông đàn bà trở lên, loại nào được cấp bao nhiêu thì tấu lên (…) ra lệnh cho đại thần và trăm quan phải nộp số vàng lấy đượcở bếnĐông cho nhà nước tuỳ theo thứ bậc: chánh nhất phẩm nộp 2 lạng, tòng nhất phẩm 1 lạng rưỡi, chánh nhị phẩm 1 lạng, tòng nhị phẩm 5 đồng cân, chánh tam phẩm đồng cân, tòng tam phẩm 2 đồng cân, chánh tứ phẩm đến chánh ngũ phẩm 1 đồng cân, còn từ tòng ngũ phẩm trở xuống không phải nộp (…) định các hạng ruộng đất của nguỵ quan (…) ra lệnh cho các tăng đạo trình diện, xét duyệt cho thi, ai qua thì được giữ làm tăng đạo, ai không qua bắt hoàn tục (…) làm sổđinh (…) tháng 12 xuống chiếu: xã nào có nhiều ruộng đất nhưng ít người, để bỏ hoang thì cho phép các quan nơi đó cho những người không có ruộngở các xã khác đến cấy cày, người chủ ruộng xãđó không được chiếm giữ rồi bỏ hoang, ai vi phạm sẽ bị xử tội cưỡng bức chiếmđoạt (…) Thuận Thiên năm thứ 3 [năm 1430] mùa hạ tháng 6 quy định các ngạch thuế, ban hành luật lệ (…) Thuận Thiên năm thứ 4 [năm 1430] xin theo lệ cống 3 năm 1 lần đời Hồng Vũ[theo sách Hộiđiển nhà Minh thì lệ cống gồm có: các đồ dùng bằng vàng bạc, sừng tê ngà voi, lụa bạch hương xông, hương giáng chân, trầm hương tốc hương mộc hương hương vòngđen và quạt giấy] Thiệu Bình năm thứ 1 [năm 1434] ra lệnh tiền đồng sứt mẻ nhưng còn xâu dây được thì phải lưu thông tiêu dùng không được chê bỏ, nếuđã mẻ không xâu dây được thì thôi không tiêu dùng, người nào trái lệnh từ chối không nhận hay kén chọn tiền lành thì phải tội như nhau (…) tháng 5 ra lệnh các loại thuế dân đinh, đầm hồ năm nay thì theo lệ năm Quý Sửu[năm 1433] còn thuế bãi dâu thì theo lệ mới quy định (…) tháng 6 nước biển dâng lên mạnh (…) tháng 9 ban hơn 600 quan tiền Thiệu Bình mớiđúc cho các quan văn võ (…) thuyền buôn nước Trảo Oa vào cống sản vậtđịa phương (…) lệnh cấm quan lại và dân chúng không được mua bán vụng trộm hàng hoá với nước ngoài (…) mùađông tháng 10 có sâu hại lúa, sai các quan chia nhau đi các nơi khám xét lúa đồng (…) sứ nhà Minh mang theo hàng hoá phương bắc, tính giá rất cao bắtức triềuđình phải mua (…) giảm tô ruộng và thuế nhân đinh (…) tiền quân tổng quản Lê Thự sai người nhà xuất cảnh mua bán vụng trộm với người nước ngoài[bị vua] tịch thu 15 lạng vàng, 100 lạng bạc (…) Thiệu Bình năm thứ 2 [năm 1435] định các ngạch thuế ruộng đất đầm ao bãi dâu (…) dân các lộ Lạng Sơn, Nam Sách đều bị bệnh dịch[sắc lệnh: đất bãi công ở sở tại đều chia cấp cho quân và dân làm sản nghiệp, quân thì 5 sào, dân thì 4 sào đều được miễn thuế, hạng người quan quả cũng được miễn tô 3 sào] tháng 10 xuống lệnh: phàm là đất kinh thành thì cấm chỉ không được trồng dâu nếu là ruộng đất nhà nước ban cho thì được trồng những loại hoa quả (…) phát hơn 5000 quan tiền cấp cho tướng hiệu và quân nhân đi đánh dẹp theo thứ bậc khác nhau, Mường Bồn sang cống các thứ ngà voi sừng tê, bạc vải (…) ban tiền cho các quan văn võ theo thứ bậc khác nhau (…) Thiệu Bình năm thứ 5 [năm 1438] mùa xuân tháng giêng sai dân chúng 4 đạođào kênh ở Trường Yên, Thanh Hoá, Nghệ An (…) xuống chiếu: nhiều năm nay hạn hán sâu bệnh liên miên, tại dị luôn luôn xuất hiện (…) Thiệu Bình năm thứ 6 [năm 1439] tháng 3 ra lệnh quy định: 60 đồng là 1 tiền, lụa lĩnh mỗi tấm dài 30 thước rộng 1 thước 5 tấc trở lên, vải gai nhỏ mỗi tấm dài 24 thước rộng 1 thước 3 tấc trở lên, vải tơ chuối mỗi tấm dài 24 thước, vải bông thô mỗi thước dài 22 thước, giấy thì tính 10 tờ (…) Đại Bảo năm thứ 1 [năm 1440] tháng 3 làm sổ hộ tịch, tháng 6 lộ Thanh Hoá lụt to” [bãi dâu và vải lụa là mối quan tâm lớn của triều đình, lệ cống và sứ phương bắc là nỗi ám ảnh đối với vua quan nhà Hậu Lê, sau hạn hán lũ lụt thường là cầu phong. Các chính sách về ruộng đất và tô thuế phù hợp, tạođiều kiện cho kinh tếổnđịnh và phát triển]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thái Hoà năm thứ 3 [năm 1445] tháng 10 nước lũ tràn ngập vào trong thành sâu tới 3 thước, lúa má bị ngập mất tới 1 phần 3, triềuđình ra chiếu giảm thuế khoá, nhẹ hình phạt (…) Thái Hoà năm thứ 6 [năm 1448] mùa hạ tháng 4 cấm viên quan và quân dân không được chiếm ruộng công đểđào ao, làm vườn tược nhà cửa (…) giảm bớt số tướng hiệuở các vệ quân. Các quân ngự tiền mỗi quân nguyên trước 8 viên này chỉ giữ lại 2 viên, 5 quân thiết đột mỗi quân nguyên trước có 4 viên này chỉ giữlại 2 viên [mùa thu tháng 7 miền Tây Đạođói kém, triềuđình xuất thóc trong kho ra cho dân vay] (…) Thái Hoà năm thứ 7 [năm 1449] giảm nhẹ thuế đầm ao [quy định rõ ràng về luật hộ: ruộng đấtđã cầm đợ rồi sau không xin chuộc lại theo số tiềnđã đợấy mà lạiđem bán đợ hay bán đứt cho người khác thì phạt 50 roi, truy lấy số tiền trả lại cho chủ mua đợ; bán đợ ruộng đất muốn chuộc lại mà không cho chuộc, không muốn chuộc mà cưỡngép bắt chuộc, đều phạt 80 trượng; kẻ nào tranh chiếm đất ruộng của người ta rồiđem bán thì phạt 50 roi; con trai từ 10 tuổi, con gái từ 20 tuổi ruộng đất của phần mình bị người trong họ hay người ngoài cày cấy hoặc cư trúđã quá kỳ hạn mới tranh chận thì bị phạt 80 trượng và mất hẳn ruộng đấtấy, kỳ hạn 30 năm với người trong họ và 20 năm với người ngoài họ, luật không áp dụng với người gặp binh lửa hoặc phiêu bạt] Thái Hoà năm thứ 10 [năm 1452] mùa thu tháng 7 xuống chiếu: mấy năm nay tại dị liên tiếp xảy ra, mùa màng liền năm mất mát (…) nay dùng người tài giỏi liêm khiết, thải bỏ bọn tham nhũng, tiến hành thưởng phạt, miễn các loại thuế, xét việc oan uổng (…) Diên Ninh năm thứ 1 [năm 1454] mùa xuân tháng giêng đúc tiền Diên Ninh, tuyển trángđinh bổ sung quân ngũ, sa thải người già, làm sổ hộ tịch (…) Diên Ninh năm thứ 4 [năm 1456] mùa hạ tháng 5 cấp tiền lương bổng hằng năm cho các thân vương, công chúa, đại thần và các quan văn võ theo thứ bậc khác nhau (…) Quang Thuận năm thứ 1 [năm 1460] tháng 8 ra lệnh: người nào có nhiều thóc tình nguyện dâng lên, thì trình báo với các quan sở tại lập làm danh sách, tuỳ theo số thóc dâng lên nhiều hay ít mà trao cho quan tước: từ 200 hộc thì cho chức quan nhàn tản chánh thất phẩm, 150 hộc thì cho chức quan nhàn tản tòng thất phẩm, 100 hộc thì cho chức quan nhàn tản tòng bát phẩm, con cái họ đều được miễn tuyển, nếu là 60 hộc thì thưởng 1 tư, chỉ được miễn bản thân (…) cấp ruộng thế nghiệp cho 30 viên công thần, số mẫu theo thứ bậc khác nhau: Lê Lăng 300 mẫu, Lê Niệm 200 mẫu, Lê Nhân Thuận 150 mẫu, Lê Thọ Vực, Lê Sư Hối, Lê Nhân Khoái 130 mẫu, từ Trịnh Văn Sái trở xuống được cấp theo thứ bậc khác nhau (…) Quang Thuận năm thứ 3 [năm 1462] tháng 2 tăng 2 lần số tiềnđại bô[tiệc cho thần dân vào những dịp lễ lớn] Quang Thuận năm thứ 6 [năm 1465] mùa thu tháng 7 làm sổ hộ tịch, đều lấy 6 năm làm mức (…) Quang Thuận năm thứ 7 [năm 1466] mùa xuân tháng giêng truy đòi tiền thuế[tháng 5 cho 1 nửa quân sĩ về làm ruộng] Quang Thuận năm thứ 8 [năm 1467] tháng 3 thuyền buôn nước Tô VấnĐáp Lạt dâng phẩm vật (…) tháng 8 xuống chiếu giảm tô ruộng và thuế nhân đinh ở mức độ khác nhau vì hộ bộ tâu lúa má sút kém và mất mùa. Hạ lệnh cho quan thừa tuyên Nghệ An lấy tiền công đong thóc chở về kinh, bấy giờ giá gạoở kinh đô rất đắt, ở Nghệ An rẻ hơn, nên sai vào mua. Sắc cho hộ bộ khai mương đắp đập, không được để cho đồng ruộng ngậpúng hay khô cạn. Sai hộ bộ gửi công văn tới các ty khuyến nông và hàđê xứ (…) tháng 9 lúa chín sớm có sâu cắn lúa (…) thuyềnđi biển của nước Xiêm La tới trang Vân Đồn (…) các phủ ven biển là Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương nước biển lên to đê bị vỡ, lúa mà bị ngập dân ven biển chếtđónhiều (…) tháng 12 lệnh cho bí thư sảnh làm ngọc tịch” [triều đình muốn dùng người tài giỏi liêm kiết, thải bỏ bọn tham nhũng nhưng lại dùng chức tước trao đổi với dân chúng]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quang Thuận năm thứ 10 [năm 1469] tháng 9 cấm dùng tiền giả để đổi làm tiền thế (…) tháng 12 ra sắc lệnh cho quan phủ huyện phải thân hành xem xét việc ruộng nương trong hạt của mình (…) Hồng Đức năm thứ 2 [năm 1471] tháng 3 dẹp được Chiêm Thành, uy thanh chấn động khắp chốn, cho nên các nước phiên thuộc phía tây đều tranh nhau sang cống (…) tháng 9 định lệ thuế bãi dâu, tính theo mẫuđịnh các hạng nhất nhì ba mà nộp tiền[nhân đinh mỗi người 8 tiền] Hồng Đức năm thứ 3 [năm 1471] hạ lệnh rằng ruộng đất mỗi mẫu 10 sào, mỗi sào 16 thước 5 tấc (…) Hồng Đức năm thứ 4 [năm 1472] mùa xuân tháng giêng vua thân hành cày tịchđiền và đốc suất các quan cày (…) mùa hạ tháng 4 ra sắc chỉ cho các nha môn các bản tấu thì dùng giấy trúc. Định chế độ lương bổng cho các quan trị nhậm trong ngoài (…) tháng 5 ra sắc lệnh làm sổ hộ tịch và ruộng đất, quan làm sổ có thể chia thành xã lớn nhỏ, cho nhân phu chịu sai dịch, mỗi ngườiđóng 3 tiền mua giấy bút, trình quan thừa ty đối chiếu soát lại (…) Hồng Đức năm thứ 6 [năm 1475] định lệnh cấm vơ vét xoay tiền trong việc xây dựng sửa chữa[mùa thu tháng 7 vỡđê Tô Lịch] ra sắc chỉ cho cả nước sửa chữa những chỗđê đập và đường xá, đặt các chức quan khuyến nông và hàđê[lệnh phàm là ruộng cấy lúa mùa nào có thể giữ được nước lại để cấy lúa chiêm, thì sau mùa nướcđã rút, các quan hàđê và khuyến nông phảiđi xem địa thế, đốc suất sức dân bồi đắp bờ ruộng để giữ nước, để có thể cày cấy kịp thời vụ, không được tráo mắt ngồi nhìn] Hồng Đức năm thứ 8 [năm 1477] [mùa hạ tháng 4 hạ sắc lệnh cho các quan thừa chính, hiếu sát và phủ huyện phải hết lòng về việc làm ruộng] mùađông tháng 10 định ngạch thuế bãi dâu ven sông nhỏ, định lệ chia mở chợ mới, sắc lệnh rằng: sinh dân ở các huyện châu xãở các xứ trong nước mỗi ngày mộtđông, nếu muốn mở thêm chợ mới cho tiện việc buôn bán thì quan phủ huyện châu phải xét thực tế, nếu quả là có lợi cho dân thì phải làm bản tấu lên, cho theo tiện lợi mà họp chợ, không cứ là có ngạch cũ hay không (…) định chế độ bộc lộc cho các quan cai trị trong ngoài (…) định lệ cấp ruộng cho các quan viên [phàm công điền của dân đinh các xã, cứ 6 năm 1 lần, quan phủ huyện hoặc châu phải kiểmđiểmđo đạc, chia ruộng làm 3 bậc: nhất đẳng, nhị đẳng và tam đẳng, rồi chiểu theo khoản thức kê khai số quan quân dân và số ruộng nhiềuít thế nào, chia từng hạng để quân cấp. Nếu ruộng nhiều thì lấy mẫu chia thành từng phần, ruộngít thì lấy sào thước chia làm từng phần. Quan viên từ nhị phẩm trở lên được cấpđiền lộcở nơi khác rồi thì không được cấp phần ruộng nữa, còn từ tam phẩm trở xuống người nàođiền lộcít thì được quân cấp theo như thể lệ] Hồng Đức năm thứ 9 [năm 1478] mùa xuân tháng 2 ra sắc chỉ cho các quan thừa tuyên, phủ huyện các xứ trông nom đồng ruộng, khuyên dân lấy nước vào ruộng để kịp gieo cấy (…) Hồng Đức năm thứ 10 [năm 1479] vua xem bắt cảở Tây Hồ, tháng 3 ra sắc lệnh: các quan viên lười biếng, bìổi, đê tiện, yếu hèn nếu là con cháu công thần thì bãi làm dân thường, nếu là con cháu dân thường thì bãi chức sung quân (…) mùa hạ tháng 5 hạ lệnh thu lương khô chức vào kho của các thừa ty các xứ, lại viên các nha môn trong ngoài mỗi người nộp 20 thăng lương (…) Hồng Đức năm thứ 12 [năm 1481] mùa xuân tháng giêng chiếu kẻ nào xâm chiếm ruộng đất của người khác và chặt nêu nhổ mốc, tự tiện lập giới hạn thì phải phạt trượng và biếm truất, nếu phá bỏ bờ ruộng thì chỉ phát tiền thôi (…) tháng 5 xuống chiếu rằng: mở đồnđiền là để dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở rộng nguồn tích trữ cho nhà nước, nay lệnh cho các xứđịnh đồnđiền thành 3 bậc thượng trung hạ. Tháng 6 chiếu quan viên quá nhiều, tiêu phí lộc kho, lục khoa phải tra xét xem từ năm Quang Thuận thứ 2, quan viên nàođã từng phạm lỗi thì thải bớt (…) mùađông tháng 10 quan các vệ sở người nào giám hạch sách tiền của như trước thì bãi chức sung quân như lệ quan viên tham nhũng (…) Hồng Đức năm thứ 14 [năm 1483] mùa xuân tháng giêng cấm yến tiệc công làm cỗ bàn tiếm lễ, cấm thả kỳ quân để thu tiền và thông đồng với con buôn (…) tháng 6 mưa gió to nướt lụt, định lệ giảm bớt xã trưởng (…) Hồng Đức năm thứ 15 [năm 1484] ra sắc chỉ: kể từ nay ai khai đào mỏ bạc thì phải nộp thuế theo quy định (…) ra sắc chỉ: việc cấm mua bánức hiệpđã có lệnh rất nghiêm mà các nhà quyền hào vẫn chưa đổi thói cũ, hại dân chúng hỏng chính sự không gì tệ bằng, kể từ nay phủ Phụng Thiên và 2 ty Thừa, Hiến các xứ phải nhắc lại lệnh cũ, cấmđoán, răn bảo. Các nhà sắm sửa lễ vật xin cưới, nếu mua bánở hàng chợ dân gian, hàng hoá lớn nhỏ đều phải tuân theo thời giá, kẻ nào vi phạm sẽ bị trị tội theo như lệnh trước (…) mùa hạ tháng 4 bắt đầu cấm những kẻ giàuỷ pháp quấy nhiễu xưởng khai thắc vàng bạc (…) mùa thu tháng 8 định lệnh đắp bờ ruộng để giữ nước (…) Hồng Đức năm thứ 16 [năm 1485] mùa xuân tháng giêng định lệnh: các quan phủ huyện châu trong nước nộp thuế nhân đinh điền tô, đầu nguồn nếu dám lười biếng không chăm thu nộp, đến nỗi dây dưa để thiếu thìđòi tiền bồi thường theo như lệnhđãđịnh[lệnh chia làm 10 phầnđòi người thiếu thuế 7 phầnđòi người thu thuế 3 phần] Nếu người nàođói rét khốn khổ thì thôn trưởng phải làm tờ cam đoan và cùng nhau đảm bảo theo như lệnh trước mà thi hành (…) mùa thu tháng 10 định lệnh cho thừa ty Quảng Nam chuyển giao thuế hiện vật cho 3 ty của Thuận Hoá để sai người chuyển nộp lên [tháng 11 hạ lệnh cho các quan khuyên nhủ dân làm ruộng, trồng dâu] Hồng Đức năm thứ 17 [năm 1486] mùa xuân tháng giêng định lệnh đắp dựng mốc giới ruộng đất công tư (…) tháng 2 định lệnh xây đắp vào lúc rỗi việc nông (…) tháng 5 ra sắc chỉ: việc dùng tiền quýở chỗ lưu thông, chứaở kho quýở chỗ để lâu không hỏng, nha môn trong ngoài truy đòi các khoản tiền phạt công tưđem vào kho công chứ lại cần chọn lấy đồng tiền thực, tuy sứt mẻ 1 chút nhưng để được lâu không hỏng cũng nên nhận lấy, còn tiền cho quan lại và tiền dân chúng sử dụng trong mua bán hễ còn xâu được đều phải nhận lấy không được kén chọn (…) tháng 6 ra lệnh: nơi nào có ruộng bỏ hoang ở bờ biển mà ngườiít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn để nộp thuế thì phủ huyện phải thực cấp cho làm (…) mùađông tháng 10 cấm mò trộm ngọc trai (…) Hồng Đức năm thứ 19 [năm 1488] tháng 8 sa thải lại viên các nha môn (…) Hồng Đức năm thứ 21 [năm 1490] tháng 2 phát thóc công cho dân nghèo vay ăn (…) mùa hạ tháng 4 định bản đồ toàn quốc: 13 xứ thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường (…) lệnh năm nay gạo kém, 1 đồng chỉ đong được 2 thưng gạo” [những năm Hồng Đức vua cai trị Đại Việt bằng pháp luật [phù hợp với thực tiễn] và đồng thời xây dựng bộ máy chính quyền từ trên xuống dưới hoạt động tốt. Mối quân tâm lớn nhất của triều đình là ruộng đất – dân chúng – tô thuế. Triều đình đã có những chính sách – hoạt động kịp thời – hợp lý đảm bảo 3 vấn đề ruộng đất – dân chúng – tô thuế do đó mà Đại Việt hưng thịnh]
(7) Đại Việt sử ký toàn thư chép:“Hồng Đức năm thứ 22 [năm 1491] mùađông tháng 10 thóc lúa được mùa lớn (…) Hồng Đức năm thứ 23 [năm 1492] tháng 12 đói lớn, dân có người phảiăn củ nâu, đặt kho tiềnở hồ Hải Trì, trong có Thượng Lâm Tự (…) Hồng Đức năm thứ 27 [năm 1496] tháng 9 sửa lại lệ làm bãi chăn ngựa và tàu nuôi ngựa (…) Hồng Đức năm thứ 28 [năm 1497] mùa xuân tháng giêng ra lệnh: các hạng thuế năm nào thu nộp năm ấy đến cuối năm phải nộpđủ, không được như trước, thuế năm nay sang năm mới thu (…) tháng 2 xuống sắc chỉ: chợ nào to đã có ngạch thuế thì cứ theo như trước, chợ nào chưa có ngạch thuế thì không được biên thêm vào ngạch. Cònở Nghệ An thì các sắc dân quân, những người không vợ goá chồng, đói rét bệnh tật nếu có ai thiếuăn thì 2 ty Thừa Hiến giao xuống cho các quan phủ huyện, kê khai làm bản tấu lên cấp cho thóc công trong kho chứa, mỗi người 100 thăng, đến khi lúa chín thì chiếu theo số thóc vay mà thu nộp (…) tháng 3 định lệ thuếđàn bà khiêng kiệu, lệ nộp vàng và nộp trứng tằm, muối mắm (…) mùa hạ tháng 4 chuẩn y lệnh cấp tiền bổng theo kỳ theo phiên (…) tháng 5 định lệnh truy thu thuế bông vải mùa hạ của nữđinh (…) Cảnh Thống năm thứ 1 [năm 1498] tháng 3 định lệ thu nộp các thứ thuế (…) thải vài trăm cung nữ (…) trong hạt Nghệ An, Thuận Hoá bọn trộm cướp đều nổi lên, quân bên cạnhđánh dẹp không được (…) vua xem sổ tiền thóc của Hộ tào dâng lên và hỏi các quan tả hữu biết được tình trạng dự trữ của nhà nước và tư nhân, từđây lại càng đểý tới việc nông trang (…) định lệ nộp thuế tơ sống (…) Cảnh Thống năm thứ 2 [năm 1499] mùa xuân tháng giêng quy định ngày nộp tiền thuế thân trong kỳđại tập (…) cày ruộng tịchđiền (…) nêu rõ việc cấm cỗ bàn xa xỉ (…) tháng 5 xuống chiếu: năm nào được mùa to thóc lúa bội thu thì thừa tuyên sứ ty các xứ bắt các nông trưởng, thôn trưởng phải quan tâm khuyên bảo người trong xã nên dự trữ thóc gạo cho dồi dào, không được xa xỉ dùng bậy cho tổn phí (…) tháng 6 chiếu rằng: trướcđây lựa chọn không công bằng bọn lại quá nhiều rất nhũng tạp nên thải bớt lại viên [theo chế độ cũ các sắc dân quân ai tình nguyện nộp thóc thì tuỳ theo số thóc nộp nhiều hay ít mà trao cho quan tước không phân biệt được người hay kẻ dở, đến nay vua hạ sắc lệnh: phàm ai là người lương thiện, mới chuẩn y cho nộp thóc và trao quan tước, nếu ai là những kẻác nghịch, trộm cướp, hào cường ngỗ ngược, phường chèo con hát thì bản thân họ và con cháu họ đều không được dự] tháng 11 xứ Quảng Nam không được cướp bắt người Man và mua bán nô tỳ tư” [trong hoàn cảnh thóc gạo giữ vai trò quyết định đối với xã hội triều đình chủ trương nộp thóc gạo đổi lấy chức tước, lệ này có 2 điểm hại: trước hết là những người có chức quyền do dùng thóc gạo đổi lấy sẽ làm suy giảm bộ máy chính quyền sau cùng là kích thích sự thao túng thóc gạo trên thị trường]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Cảnh Thống năm thứ 3 [năm 1500] tháng 2 định lệ về kỳ hạn truy đòi tang vật và tiền bạc (…) mùa hạ tháng 4 định lệ kiểm xét vật hạng nộp thuế, thứ nào tráo lẫn vào thì trả lại (…) Cảnh Thống năm thứ 6 [năm 1503] mùa xuân tháng giêng hạn hán (…) tháng 2 đại hạn[tháng 5 có thuỷ tai lớn] tháng 9 cháy lớnở chợĐông phố xá bị thiêu rụi (…) Cảnh Thống năm thứ 7 [năm 1504] mùa xuân tháng giêng xuống chiếu: tăng cường xây dựng trong cung tường, lăng miếu, nhà giải vũ (…) Đoan Khánh năm thứ 1 [năm 1505] mùa hạ tháng 4 dựngđiện Chân Nguyên, Quang Mỹ (…) Đoan Khánh năm thứ 5 [năm 1509] mùa xuân tháng 2 vua cày ruộng tịchđiền (…) tháng 3 từ khi lên ngôi vua đêm nào cũng cùng cung nhân vui đùa uống rượu vô độ, khi say rượu liền giết cả cung nhân, uy quyền thuộc về họ ngoại (…) mùa thu tháng 8 ra lệnh bắt giết hết những người Chiêm bị giam giữ (…) Hồng Thuận năm thứ 3 [năm 1511] phânđịnh lệ thuế vàng bạc (…) Hồng Thuận năm thứ 4 [năm 1512] hạn hán trong nước đói to, làmđiện lớn hơn trăm nóc (…) Hồng Thuận năm thứ 5 [năm 1513] mùa hạ tháng 6 nước lũ vỡđê phường Yên Hoa (…) Hồng Thuận năm thứ 6 [năm 1514] [mùa hạ tháng 5 có thuỷ tai lớn] Hồng Thuận năm thứ 7 [năm 1515] tháng 8-9 nước lớn, mùađông tháng 10 thu lúa đồnđiền để dùng cho việc nước (…) Hồng Thuận năm thứ 8 [năm 1516] mùa xuân tháng giêng vua thích làm nhiều công trình, dùng hết tiền của trong nước, dân chúngđau khổ, binh lĩnh mỏi mệt (…) mùa hạ tháng 4 Nguyên quận công Trịnh Duy Sản cùng với bọn Lê QuảngĐộ, Trịnh Chí Sâm giết vua ở cửa nhà Thái Học (…) Quang Thiệu năm thứ 2 [năm 1517] trong nước đói to xác người chếtđói nằm gối lên nhau (…) Quang Thiệu năm thứ 4 [năm 1519] tháng 2-4 trời nắng dữ, lúa hại gạo kém, tháng 5-7 mưa to (…) tháng 9 phong MạcĐăng Dung làm Minh quận công (…) Quang Thiệu năm thứ 7 [năm 1522] mùa hạ tháng 4 MạcĐăng Dung chuyên quyền, mua mưu ngầm mật chiếu vào Tây Kinh bảo Trịnh Tuy nghênh viện, Đăng Dung tha Trịnh Chí Sâm và Nguyễn Thì Ung ra khỏi tù, lập em vua là Xuân (…) tháng 8 dựng hànhđiệnở[Hải Dương] chuyển vận vàng bạc, tiền của tới (…) mùađông tháng 10 trời mưa có nhiều sâu cắn lúa (…) Thống Nguyên năm thứ 2 [năm 1523] tháng 8 có sâu cắn lúa (…) Thống Nguyên năm thứ 4 [năm 1525] mùa hạ tháng 6 đại hạn (…) Thống Nguyên năm thứ 5 [năm 1526] mùađông tháng 12 Thái phó Nhân quốc công MạcĐăng Dung giết vua Quang Thiệu (…) Thống Nguyên năm thứ 6 [năm 1527] tháng 6 MạcĐăng Dung từ Cổ Trai vào kinh bắt vua nhường ngôi, thần dân trong kinh đều theo (…) giáng phong vua làm vương, giam giữ và bắt phải tử tự” [Đại Việt nông nghiệp 2 vụ song kỹ thuật yếu kém phụ thuộc nhiều vào trời đất, thiên nhiên thường không ôn hoà nên thóc gạo mùa nào chỉ đủ ăn năm ấy. Loạn phản đã có dấu hiệu xuất hiện nhưng vua quan lại không chú trọng việc nước, chỉ ham chơi tàn bạo, xây dựng nhiều công trình, làm những việc bất công nên loạn ngày càng đông, thậm chí đến các triều thần cũng bất mãn làm phản, kết cục là đẩy Đại Việt tới loạn lạc suy kiệt]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Minh Đức năm thứ 2 [năm 1528] mùa xuân tháng giêng bèn sai đúc tiền Thông Bảo theo kiểu cách đồng tiền cũ nhưng phần nhiều không thành. Sau lạiđúc các loại tiền gián pha kẽm và sắt ban hành các xứ trong nước để thông dụng[Đăng Dung định quy định binh chế, điền chế và lộc chế] Đại Chính năm thứ 1 [năm 1530] mùa xuân tháng giêng MạcĐăng Dung đại xá thiên hạ (…) tháng 3 đại hạn lúa má chết khô (…) Đại Chính năm thứ 2 [năm 1531] chỉ có dân [Thanh Hoa] chịu nhiều tai hoạ, không được nghỉ ngơi, nhân dân đói kém, 1 thăng gạo giá tới 1 quan tiền (…) Đại Chính năm thứ 3 [năm 1532] mùa xuân cấm người các xứ trong ngoàiđi được không được cầm vũ khí, từ đấy người buôn bán đềuđi tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phảiđem về, trong khoảng vài năm, ngườiđi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phảiđóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên (…) tháng 12 An Thanh hầu Nguyễn Kim tôn lập con Chiêu Tông là Ninh ở Ai Lao (…) Đại Chính năm thứ 4 [năm 1533] Nguyễn Kim liên kết với vua Ai Lao Xạ Đẩu nhờ họ giúp binh khí, lương thực để mưu đánh lấy lại nước. Sai Trịnh Duy Liêu sang nhà Minh tấu rằng MạcĐăng Dung tiếm loạn, chiếm giữ kinh thành (…) Đại Chính năm thứ 5 [năm 1534] nhà Minh đem quân sang hỏiđánh (…) Đại Chính năm thứ 8 [năm 1537] mùa hạ tháng 4 nước biển dâng tràn, người và xúc vật chết nhiều (…) Đại Chính năm thứ 10 [năm 1539] đại hạn (…) Quảng Hoà năm thứ 5 [năm 1545] tháng 5 Nguyễn Kim trúng độc chết, phong con thứ Hoàng là Hạ Khê hầu[dùng Trịnh Kiểm làm đô tướng, tiết chế các doanh quân thuỷ quân bộ, kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự[Đinh Tị[năm 1557] tháng 9 Thanh Nghệđói to] Chính Trị năm thứ 1 [năm 1558] tháng 10 Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu dâng biểu xin sai Nguyễn Hoàngđem quân vào trấn thủ xứ Thuận Hoáđể phòng giặc phía đông, Trấn quận công ở xứ Quảng Nam cứu viện cho nhau. Mọi việc của xứ này không cứ lớn hay nhỏ, các ngạch thuế đều giao cả cho, hằng năm đến kỳ hạn thì thu nộp[ban đầu Gia Dụ lập bản doanh ởÁi Tử, vỗ về chăn dắt dân quân, thu dùng những người hào kiệt, giảm sưu nhẹ thuế, lòng người mền phục] Chính Trị năm thứ 2 tháng 3 đi khámđo ruộng đất công tưở Thanh Hoa đểđịnh ngạch thuế. Tháng 8 Thanh Hoa Nghệ An nước lũ tràn ngập, đêđiều đường xá bị vỡ lở, trôi mất vài trăm nhà. Trong thành Tây Đô do vậy bị ngập, kho tàng phần nhiều nước ngập, nhân dân đói kém” [vua Lê không lo lắng chính sự để Đại Việt rơi vào loạn lạc, Mạc Đăng Dung có tài dựng được cơ nghiệp, dân chúng trong nước ủng hộ, chính sự tốt đẹp. Nhưng nhiều người không chấp nhận thế cục, chiếm đất chống lại, đẩy Đại Việt rơi tiếp vào loạn lạc, vua Lê cầu trình nhà Minh can thiệp khiến Đăng Dung 2 mặt chống giặc]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Chính Trị năm thứ 3 [năm 1560] được mùa lớn, lệnh cho dân địa phương đã quy thuậnở trấn Kinh Bắc nộp lúa để cung cấp cho quân lính (…) Chính Trị năm thứ 6 [năm 1563] tháng 9 quân đến vùng Thanh Trì, Thượng Phúc sai lậpđại dinh ở huyện Sơn Minh [Hà Tây] lệnh thu thóc lúa để làm kế lâu dài (…) Chính Trị năm thứ 11 [năm 1568] mùa hạ tháng 4 đánh phá các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hoá, Gia Viễn hạ lệnh thu thóc lúa rồi về (…) Chính Trị năm thứ 13 [năm 1570] tháng giêng Thượng tướng[Trịnh Kiểm] dâng tấu xin cho [em vợ là] Nguyễn Hoàngđi các xứ Thuận Hoá và Quảng Nam thống suất binh tượng thuyền bè và trấn phủ dân địa phương để cõi phiên trấn được vững mạnh (…) tháng 2 Trịnh Kiểm chết sắc phong cho [con là] Trịnh Tùng làm trưởng quận công, tiết chế các dinh thuỷ bộ, cầm quân đi đánh giặc (…) họ Mạc ra quân lớn Thanh Hoa dắt già cõng trẻ chạy nhớn nhác ngoài đường, không biết nương tựa vàođâu, tiếng kêu khóc vang trời, bao nhiêu tiền củađàn bà con gái đều bị quân Mạc lấy cả (…) Chính Trị năm thứ 14 [năm 1571] Thanh Hoa mất mùa, dân đói to, nhiều người xiêu dạt (…) Hồng Phúc năm thứ 1 [năm 1572] mùa thu tháng 7 lệnh cho quân dân dọc sông di chuyển của cải súc vật vào rừng để đề phòng quân giặc, tháng 8 quân Mạc tấn công Thanh Hoa nhưng chỉ còn là vùng đất bỏ không (…) Nguyễn Hoàng vỗ trị mấy chục năm chính lệnh khoan hoà, thưởng ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răn tướng sĩ bản bộ, cấm chỉ trừ bỏ bọn hung ác, dân trấn 2 miền đều cảm phục nhân đức, thay đổi phong tục, chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không phảiđóng, thuyền buôn nước ngoài đều tới buôn bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắng sức, trong cõi được an cứ lập nghiệp (…) Gia Thái năm thứ 1 [năm 1573] mùa xuân tháng giêng ban chiếu mệnh: người dân nào bị nạn binh lửa không còn tài sản gì đều được tha tạp dịch, dân nghèo xiêu dạt cho về quê cũ được tha thuế khoá sai dịch (…) sai mang sắc thư vào Thuận Hoá phong Nguyễn Hoàng làm Thái phó, sai chứa thóc để sẵn dùng nơi biên ải, còn tiền sai dư[tiền nộp hằng năm] là 400 cân bạc, 500 tấm lụa (…) tháng 10 Mạc KínhĐiển đem Mạc Mậu Hợp trở về thành Thăng Long (…) Gia Thái năm thứ 5 [năm 1577] tháng 5 hạ lệnh cho quan lại các xứ Thanh Hoa Nghệ An đôn đốc dân các xã huyện hạn từ trước tháng 6 phải kịp thời cấy cày không được để chậm, phòng khi quân đi qua ảnh hưởng tới việc nông (…) tháng 9 nước lụt lúa má bị ngập hết dân đói to (…) Quang Hưng năm thứ 3 [năm 1580] tháng 7 nhà Mạcđem quân xâm lấn Thanh Hoa cướp bóc tiền của, súc vật của dân cư các huyện dọc sông rồi rút về (…) Quang Hưng năm thứ 6 [năm 1583] Tiết chế Trịnh Tùng ra quân vùng Sơn Nam Hạ lộ, thu lấy thóc lúa rồi rút về [Ất Dậu[năm 1585] mùa hạ tháng 6 Đông Đạo và BắcĐạo lúa má chết khô nhân dân bịđói kém] Quang Hưng năm thứ 9 [năm 1586] mùa hạ tháng 4 lụt lớn, mùa thu tháng 7 lụt lớn, tháng 8 đại hạn (…) Quang Hưng năm thứ 11 [năm 1588] tháng 6 lúa mạ chết không, nhân dân xiêu tán (…) Quang Hưng năm thứ 12 [năm 1589] tháng giêng gạo kém (…) tháng 7 nước lụt (…) Quang Hưng năm thứ 16 [năm 1593] tháng giêng bắt được Mạc Kính Chỉ (…) mùa hạ tháng 4 vua về Thăng Long đại xá thiên hạ (…) Quang Hưng năm thứ 18 [năm 1595] tháng 5 mất mùađói to lại thêm ôn dịch, người chết xác gối lên nhau (…) tháng 12 trộm cướp nổi lên khắp nơi, đốt nhà giết người, cướp bóc của cải gia súc (…) Quang Hưng năm thứ 19 [năm 1596] mùa hạ tháng 4 đại hạn thóc lúa vụ chiêm đều không thu được, đầm phá khô cạn, cây cỏúa vàng, hoa không kết trái, trộm cướp quần tụ trong dân gian, ngàyđêm đốt phá nhà cửa, cướp bóc của cải gia súc, thuỷ bộ không thông, đường xá bế tắc, dân đói nhiều chết đến quá nửa (…) tháng 5 lệnh khámđạc đấtđai bãi dâu xứấy đểđịnh ngạch thuế[xứ Thanh Hoa] tháng 8 đúc 2 tượng vàng bạc, 2 đôi bình hoa bạc, 5 chiếc bình hương nhỏ bằng bạc, sắm sẵn lụa thổ quyến và các cống vật để phòng sang sứ phương bắc (…) Quang Hưng năm thứ 20 [năm 1597] tháng 5 hạn lúa đậu chết khô (…) tháng 8 dân tứ chiếng khổ vì phải cắt cỏ voi lại bị quan địa phương quấy nhiễu, không chịu nổi theo đảng nguỵ cướp bóc trong dân (…) Quang Hưng năm thứ 21 [năm 1598] tháng giêng đại xá thiên hạ, thuế khoá bỏ thiếu nhiều năm đều được miễn (…) tháng 3 lúa má cây cỏ chết khô (…) Quang Hưng năm thứ 22 [năm 1599] mùa hạđại hạn trời không mưa lúa má chết khô” [Đại Việt luôn phải đối chọi với thiên tai khắc nghiệt nay lại thêm chiến tranh tàn khốc coi đồng bào bên kia chiến tuyến như kẻ thù không đội trời chung, nạn dân không biết sao để sống. Nguyễn Hoàng cai trị 2 xứ phiên thuộc, chính sự tốt đẹp không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh [người dân phía bắc có lẽ cùng tìm cách chạy nạn vào 2 xứ Quảng Nam Thuận Hoá] hình thành vùng lãnh thổ tương đối riêng biệt]

Lịch sử kinh tế Việt Nam (bài 1)

Bài viết giới thiệu lịch sử kinh tế việt nam từ năm 880 đến năm 1945.
Trong bài tham khảo chủ yếu 3 tác phẩm là: Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tác giả cố gắng chỉ ra cơ cấu của nền kinh tế việt nam qua các thời kỳ, những chính sách và những biến động về kinh tế trong lịch sử, rộng hơn là mối tác động giữ nền kinh tế và các lĩnh vực khác trong quá khứ.
(1) Nguyên Hòa quận huyện đồ chí do Lí Cát phủ soạn năm Nguyên Hòa thứ 8 [năm 813]
An Nam đô hộ phủ [thượng] quản 13 châu: Giao châu, Ái châu, Hoan châu, Phong châu, Lục châu, Diễn châu, Trường châu, Quận châu, Lạng châu, Vũ An châu, Đường Lâm châu, Vũ Định châu, Cống châu. Quản 39 huyện và 32 châu kimi.
Giao châu. Chiều đông – tây dài 516 dặm, chiều nam – bắc dài 791 dặm. Phía bắc đến Thượng đô dài 6.415 dặm đường thủy dài 6.640 dặm. Phía tây bắc đến Phong châu dài 130 dặm. Phía tây nam đến Ái châu dài 500 dặm đường thủy dài 700 dặm. Phía đông đến biển lớn đường thủy khoảng 400 dặm. Phía đông bắc đến Lục châu đường thủy dài 109 dặm. Quản 8 huyện: Tống Bình – Vũ Bình – Bình Đạo – Thái Bình – Nam Định – Chu Diên – Giao Chỉ – Long Biên. Những năm Khai Nguyên có: 25.694 hộ, 55 hương. Cống: Chim khổng tước, vải sợi chuối, sừng tê, gan nhiêm xà, chim anh vũ, vàng, thảo đậu khấu, long hoa nhị, lông chim phỉ, lông chim thúy, da cá mập, quả tân lang, cây hoàng tiết, rong bạch lộ. Những năm Nguyên Hòa có: 27.135 hộ, 56 hương.
Ái châu [hạ]. Chiều đông – tây dài 282 dặm, chiều nam – bắc dài 410 dặm. Phía đông đến Thượng đô dài 6.475 dặm. Phía đông đến bờ biển dài 140 dặm. Phía đông bắc đến Trường châu đi đường thủy dài 450 dặm. Phía tây đến đất của người Tiểu Lão đi đường thủy dài 190 dặm. Phía nam đến Diễn châu dài 250 dặm. Phía tây bắc đến An Nam Đô hộ phủ dài 500 dặm đi đường thủy dài 700 dặm. Quản 5 huyện: Cửu Chân [núi Cư Phong ở phía tây huyện 4 dặm, trên núi có hang gió, gió lớn từ đó thổi ra. Trong núi có vàng. Núi Trân ở phía tây huyện 3 dặm. Núi An Trấn ở phía nam huyện 31 dặm, núi có đá ngọc tốt hơn đá ngọc huyện Ling Lăng của Tương châu] – An Thuận – Sùng Bình – Nhật Nam – Quân Ninh. Những năm Khai Nguyên có: 14.056 hộ, 29 hương. Cống: Đuôi chim khổng tước. Phú: Gấm. Những năm Nguyên Hòa có: 5.379 hộ, 8 hương. Cống: 10 bó đuôi chim khổng tước, 100 bó đuôi chim phỉ, 500 quả tân lang, 20 cân sừng tê.
Hoan châu [hạ]. Phía bắc đến Thượng đô dài 6.875 dặm. Phía đông bắc đến Đông đô dài 6.615 dặm. Phía đông đến biển dài 100 dặm. Phía nam đến đất nước Lâm Ấp dài 190 dặm. Phía bắc đến Diễn châu dài 150 dặm. Quản 2 huyện: Cửu Đức – Việt Thường. Những năm Khai Nguyên có: 6.649 hộ, 14 hương. Cống: Ngà voi, gỗ trầm hương, lông chim thúy, sừng tê, rèm vàng, cây hoàng tiết. Những năm Nguyên Hòa có: 3.842 hộ, 6 hương.
Phong châu [hạ]. Chiều đông – tây dài 97 dặm. Phía bắc đến Thượng đô dài 6.150 dặm. Phía đông nam đến An Nam Đô hộ phủ dài 130 dặm. Phía nam đến sông Lậu Khẩu dài 100 dặm. Phía bắc đến đất Nam Bình châu kimi dài 200 dặm. Quản có 2 huyện: Gia Ninh – Thừa Hóa. Những năm Khai Nguyên có: 3.561 hộ, 15 hương. Cống: Tư bát tàm, quả tân lang, quả đậu khấu, gan nhiêm xà. Những năm Nguyên Hòa có: 1.482 hộ, 8 hương. Cống: 3.300 quả đậu khấu, 100 bó lông chim thúy, 40 cân sừng tê.
Lục châu [hạ]. Phía tây bắc đến Thượng đô đi đường thủy – bộ ngang nhau dài 6.120 dặm. Phía đông đến đất Liêm châu dài 300 dặm. Phía đông bắc đến Khâm châu dài 600 dặm. Phía tây nam đến An Nam Đô hộ phủ dài hơn 100 dặm. Quản 3 huyện: Ninh Hải – Ô Lôi – Hoa Thanh. Những năm Khai Nguyên có: 1.934 hộ, 6 hương. Những năm Nguyên Hòa có: 231 hộ, 3 hương.
Diễn châu [hạ]. Phía bắc đến Thượng đô dài 6.725 dặm. Phía bắc đến Ái châu dài 250 dặm. Phía nam đến Hoan châu dài 150 dặm. Phía đông đến biển lớn dài 6 dặm. Quản 3 huyện: Trung Nghĩa – Hoài Hoan – Long Trì. Những năm Nguyên Hòa có: 1.450 hộ, 3 hương. Những năm Khai Nguyên cống: Đuôi chim khổng tước, cây hoàng tiết, mạt vàng. Những năm Nguyên Hòa có cống: Mạt vàng, cây hoàng tiết.
Trường châu [hạ]. Phía tây bắc đến phủ khoảng 100 dặm. Quản 4 huyện: Văn Dương – Đồng Thái – Trường Sơn – Kì Thường. Hộ đô: 648. Cống: vàng.
Quận châu. Phía tây bắc đến phủ khoảng 159 dặm. Quản 2 huyện: Quận Khẩu – An Lạc. Hộ đô: 335. Cống: 20 cân sáp trắng, 2 bó đuôi chim khổng tước, 2 tâm gan nhiêm xà.
Lạng châu. Phía tây bắc đến phủ khoảng 200 dặm. Quản 2 huyện: Văn Lạng – Trường Thượng. Hộ đô: 550. Cống: 23 cân sáp trắng.
Vũ An châu. Phía tây đến phủ khoảng 180 dặm. Quản 2 huyện: Vũ An – Lâm Giang. Hộ đô: 456. Cống: Vải triều hà, thực đơn.
Đường Lâm châu. Phía bắc đến phủ khoảng 1.000 dặm. Quản 2 huyện: Đường Lâm – An Viễn. Hộ đô: 317. Cống: 20 cân sáp trắng.
Vũ Định châu. Phía đông đến phủ khoảng 320 dặm. Quản 2 huyện: Phù Da – Đàm Nhi. Hộ đô: 1.200. Cống: 220 bó đuôi chim thúy.
Cống châu. Phía tây nam đến phủ dài 250 dặm. Quản 2 huyện: Vũ Hưng – Cổ Đô. Hộ đô: 318. Cống: 300 bó lông chim thúy.
* Cựu Đường thư do Lưu Hú soạn xong vào năm Khai Vận thứ 2 [năm 945]
Năm Hàm Thông thứ 7 [năm 866] An Nam Đô hộ phủ lĩnh 12 châu là: Ái châu, Phong châu, Hoan châu, Trường châu, Vũ An châu, Lạng châu, Vũ Định châu, Đường Lâm châu, Lục châu, Diễn châu, Quận châu, Tô Mậu châu.
Thượng Đô hộ phủ gồm: 1 viên Đô hộ, chính tam phẩm. 2 viên Phó Đô hộ, tòng tứ phẩm thượng. 1 viên Trưởng sử, chính ngũ phẩm thượng. 1 viên Tư mã, chính ngũ phẩm thượng. 1 viên Lục sự tham quân sự, chính thất phẩm hạ. 2 viên Lục sự. 1 viên Công tào tham quân sự, tòng thất phẩm hạ. 1 viên Thương tào tham quân sự, tòng thất phẩm hạ. 1 viên Hộ tào tham quân sự, tòng thất phẩm hạ. 1 viên Binh tào tham quân sự, tòng thất phẩm hạ. 3 viên Tham quân sự, tòng bát phẩm thượng.
Hạ châu gồm: 1 viên Thứ sử, chính tứ phẩm hạ. 1 viên Biệt giá, tòng ngũ phẩm thượng. 1 viên Tư mã, tòng lục phẩm hạ. 1 viên Lục sự tham quân sự, tòng bát phẩm thượng. 1 viên Lục sự, tòng cửu phẩm hạ. 1 viên Tư thương tham quân sự, tòng bát phẩm hạ. 1 viên Tư hộ tham quân sự, tòng bát phẩm hạ. 1 viên Tư pháp tham quân sự, tòng bát phẩm hạ. 8 viên Điển ngục, chính cửu phẩm hạ. 4 viên Vấn sự, chính cửu phẩm hạ. 16 viên Bạch trực, chính cửu phẩm hạ. 1 viên Thị lệnh, chính cửu phẩm hạ. 1 viên Tá, chính cửu phẩm hạ. 1 viên Sử, chính cửu phẩm hạ. 2 viên Soái, chính cửu phẩm hạ. 1 viên Thương đốc, chính cửu phẩm hạ. 1 viên Kinh học bác sĩ, chính cửu phẩm hạ, 1 viên Trợ giáo, 40 viên Học sinh. 1 viên Y học bác sĩ, tòng cửu phẩm hạ, 10 viên Học sinh.
Thượng huyện của các châu gồm: 1 viên Lệnh, tòng lục phẩm thượng. 1 viên Thừa, tòng bát phẩm hạ. 1 viên Chủ bạ, chính cửu phẩm hạ. 2 viên Úy, tòng cửu cửu phẩm thượng. 2 viên Lục sự, 3 viên Sử. 1 viên Tư hộ, 4 viên Tá, 7 viên Sử, 1 viên Trướng sử. 1 viên Tư pháp, 4 viên Tá, 8 viên Sử. 2 viên Thương đốc. 10 viên Điển ngục. 4 viên Vấn sự. 10 viên Bạch trực. 1 viên Thị lệnh, 1 viên Tá, 1 viên Sử. 1 viên Soái. 1 viên Bác sĩ, 1 viên Trợ giáo, 40 viên Học sinh.
Trung huyện của các châu gồm: 1 viên Lệnh, chính thất phẩm thượng. 1 viên Thừa, tòng bát phẩm hạ. 1 viên Chủ bạ, tòng cửu phẩm thượng. 1 viên Úy, tòng cửu phẩm hạ. 1 viên Lục sự, 4 viên Sử. 1 viên Tư hộ, 3 viên Tá, 5 viên Sử, 1 viên Trướng hộ. 1 viên Tư pháp, 2 viên Tá, 6 viên Sử. 1 viên Thương đốc. 8 viên Điển ngục. 4 viên Vấn sự. 8 viên Bạch trực. 1 viên Thị lệnh, 1 viên Tá, 1 viên Sử. 2 viên Soái. 1 viên Bác sĩ, 1 viên Trợ giáo, 25 viên Học sinh.
Trung hạ huyện của các châu gồm: 1 viên Lệnh, tòng thất phẩm hạ. 1 viên Thừa, chính cửu phẩm hạ. 1 viên Chủ bạ, tòng cửu phẩm thượng. 1 viên Úy, tòng cửu phẩm hạ. 1 viên Lục sự. 1 viên Tư hộ, 2 viên Tá, 3 viên Sử, 1 viên Trướng sử. 1 viên Tư pháp, 2 viên Tá, 4 viên Sử. 6 viên Điển ngục. 4 viên Vấn sự. 8 viên Bạch trực. 1 viên Thị lệnh, 1 viên Tá, 1 viên Sử. 2 viên Soái. 1 viên Bác sĩ, 1 viên Trợ giáo, 25 viên Học sinh.
Hạ huyện của các châu gồm: 1 viên Lệnh, tòng thất phẩm hạ. 1 viên Thừa, tòng cửu phẩm hạ. 1 viên Chủ bạ, tòng cửu phẩm thượng. 1 viên Úy, tòng cửu phẩm hạ. 1 viên Lục sự. 1 viên Tư hộ, 2 viên Tá, 4 viên Sử, 1 viên Trướng hộ. 1 viên Tư pháp, 1 viên Tá, 4 viên Sử. 6 viên Điển ngục. 8 viên Bạch trực. 1 viên Thị lệnh, 1 viên Tá, 2 viên Sử, 2 viên Soái. 1 viên Bác sĩ, 1 viên Trợ giáo, 20 viên Học sinh.
* Thông điển – Thực hóa chí: Năm (Vũ Đức) thứ 2 hạ chế rằng: “Mỗi 1 đinh phải đóng tô 2 thạch (thóc). Còn các châu của đạo Lĩnh Nam thì đóng thuế gạo, thượng hộ thì 1 đinh đóng 1 thạch 2 đấu, thứ hộ thì 1 đinh đóng 8 đấu, hạ hộ thì 1 đinh đóng 6 đấu; nếu là hộ người Di – Lão thì chỉ đóng một nửa. Những người phiên (Hồ) nội thuộc, thượng hộ thì 1 đinh đóng 10 đồng tiền, thứ hộ thì 1 đinh đóng 5 đồng tiền, hạ hộ thì miễn đóng, đã nội phụ được 2 năm thì thượng hộ 1 đinh đóng 2 con dê, thứ hộ thì 1 đinh đóng 1 con dê, hạ hộ thì cứ 3 hộ đóng chung 1 con dê. Hễ những năm gặp thủy tai châu châu sương tuyết, nếu tổn hại 4/10 trở lên thì miễn đóng tô, tổn hại 6/10 trở lên thì miễn đóng tô lẫn điệu, tổn hại 7/10 trở lên thì miễn cả khóa – dịch”.
* Tân Đường thư – Thực hóa chí: “Trước đây Dương châu lấy tiền để đóng tô – điệu, Lĩnh Nam lấy gạo để đóng, An Nam lấy tơ để đóng, Ích châu lấy vải la – sợi thô – lụa mỏng – lụa sống và lụa màu để đóng. Nhân đó hạ chiếu miền Giang Nam cũng được lấy vải để đóng tô”. [theo Ẩn Sĩ]
(2) . Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Canh Tý [năm 880] mùa xuân tháng 3 quân ở phủ đô hộ làm loạn, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ chạy khỏi thành. Các đạo quân nhà Đường đóng giữ Ung Quản thường tự ý bỏ về”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Bính Dần [năm 906] mùa xuân tháng giêng, nhà Đường gia phong chức đồng bình chương sự cho quan Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ là Khúc Thừa Dụ (…) Đinh Mão [năm 907] Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo giữ Giao Châu, tự xưng là tiết độ sứ (…) chia đặt các lộ, phủ, châu, xã ở các xứ; đặt ra chánh lệnh trưởng và tá [phó] lệnh trưởng; bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị (…) theo sách An Nam kỷ yếu, Khúc Hạo làm tiết độ sứ (…) đổi các hương ở các huyện làm giáp, đặt mỗi giáp một quản giáp và một phó tri giáp để giữ việc đánh thuế” [thông tin về các chính sách rất khó để kiểm chứng]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Hơi [năm 939] mùa xuân [Ngô Quyền] bắt đầu xương vương, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục (…) Canh Tuất [năm 950] [Ngô Xương Văn] giáng [Dương Tam Kha] làm Chương Dương công [còn] ban cho thực ấp (…) Mậu Thìn [năm 968] [Đinh Bộ Lĩnh] lên ngôi [vua] đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh hoàng đế. Vua muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ ở trong cũi, hạ lệnh ai trái phép bỏ vạc dầu, cho hổ ăn. Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm (…) Thái Bình năm thứ 1 [năm 970] mùa xuân tháng giêng đặt niên hiệu. Sai sứ sang nhà Tống giao hảo [vì] tướng Phan Mỹ [nhà Tống] đánh dẹp Lĩnh Nam (…) Thái Bình năm thứ 2 [năm 971] bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ cư, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Ngô Chân Lưu [làm Tăng thống] ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng Lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Giáp Tuất [năm 974] mùa xuân tháng 2 (…) chia nước làm 10 đạo (…) mỗi đạo [có] 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thái Bình năm thứ 6 [năm 975] mùa xuân, quy định áo mũ cho các quan văn võ. Sai Trịnh Tú mang vàng, lụa, sừng tê, ngà voi sang [biếu] nhà Tống (…) Năm Thái Bình thứ 7 [năm 976] mùa xuân thuyền buôn của nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ (…) Thái Bình năm thứ 9 [năm 978] mùa xuân tháng giêng động đất (…) tháng hai mưa đá (…) mùa hạ tháng sáu nắng hạn”.
Đại Việt sử lược chép: “Nhâm Ngọ [năm 982] [Lê Đại Hành đem binh đánh Chiêm Thành] bắt [sống được quân sĩ của chúng nhiều vô kể] cùng bọn cung nữ mấy trăm người [và một nhà sư Thiên Trúc] chở về những vũ khí nặng, tịch thu vàng bạc, của cải quý báu kể có đến muôn số (…) năm [982] đói lớn (…) Quý Mùi [năm 983] khi đánh Chiêm Thành [đường núi hiểm trở, đường biển sóng to nên] đào một con kênh do đó thuyền bè lưu thông được”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thiên Phúc năm thứ 5 [năm 984] mùa xuân tháng 2 đúc tiền Thiên Phúc (…) làm nhiều cung điện nhà cửa” [sau cuộc chiến với Chiêm Thành, Đại Việt có thêm nguồn nhân lực và tài chính để kiến thiết kinh ấp. Cần khảo thêm yếu tố Chăm trong kiến trúc của Hoa Lư để xác định]
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Ất Dậu [năm 985] mùa thu tháng 7 ngày sinh nhật hoàng đế, đua thuyền (…) sai sứ đem vàng và ngà voi sang biếu nhà Tống (…) Bính Tuất [năm 986] mùa thu tháng 8 tuyển [dân] làm lính thân quân (…) mùa đông tháng 10 (…) dùng Từ Mục làm Tổng quản giữ việc quân và dân, ban cho tước hầu; Phạm Cự Lang làm Thái uý”.
Đại Việt sử lược chép: “Đinh Hợi [năm 987] vua [Đại Hành] bắt đầu cày ruộng ở núi Đội bắt được hũ vàng. Lại một lần cày ở núi Bà Hối bắt được hũ bạc [năm 987 được mùa]” [hẳn là vua Đại Hành đã sắp đặt việc cày ruộng được vàng bạc nhằm mục đích khuyến khích nông nghiệp. Sự kiện khuyến nông này diễn ra không lâu sau nạn đói năm 982, rất có thể sau nạn đói tình trạng nông nghiệp không có nhiều chuyển biến nên vua đã quyết định cày ruộng nhằm cổ vũ cho việc phát triển nông nghiệp. Về nguyên nhân của nạn đói, thì có thể là do khi tập trung cho việc xây dựng Kinh ấp, vua đã sử dụng quá nhiều nguồn nhân lực, thành ra thiếu nguồn nhân lực dành cho nông nghiệp]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kỷ Sửu [năm 989] mùa xuân tháng giêng đổi niên hiệu đại xá (…) vua sai viên Quảng giáp Tiến Lộc đi thu thuế hai châu Hoan Ái, Tiến Lộc đem người hai châu ấy xin theo về với Chiêm Thành. Chiêm Thành không nhận (…) Nhâm Thìn [năm 992] mùa thu tháng 8 sai Phụ quốc Ngô Tử An đem 3 vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến châu Đại Lý”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Đinh Dậu [năm 997] mùa hạ tháng 4 (…) trước đây sứ Tống đến thường nói về việc cống muối rồi dây dưa cả việc thuế khoá (…) mùa thu tháng 7 có thuỷ tai lớn (…) Mậu Tuất [năm 998] mùa xuân tháng 3 động đất [3 ngày (…) mùa hạ tháng 5-6 không mưa. Dân bị bệnh ho, trâu ngựa chết nhiều] (…) Nhâm Dần [1002] mùa xuân tháng 3 lựa tuyển trong dân đinh lấy những người khoẻ mạnh bổ sung vào các đội ngũ. Chia tướng hiệu làm hai ban, chế mấy nghìn chiếc mũ đâu mâu, ban phát cho sáu quân [đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu] (…) Quý Mão [1003] vua cho [vét con kênh Đa Cái thẳng đến châu Ám] (…) Giáp Thìn [1004] [vua] xem đánh cá trên sông Đại Hoàng (…) Bính Ngọ [năm 1006] [vua Long Đĩnh] đặt lại quan chế văn vũ và triều phục, đều theo như kiểu mẫu của nhà Tống (…) Kỷ Dậu [năm 1009] Đô đốc Kiều Hành Hiến xin đào sông đắp đường và lập đồn dựng mốc ở Ái châu, nhà vua nghe theo, xuống chiếu cho dân và quân châu ấy đào sông từ cửa ải Chi Long qua núi Đính Sơn đến sông Vũ Lũng”.
(3) . Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Kỷ Dậu [năm 1009] mùa đông tháng 10 phong Đào Cam Mộc làm Nghĩa tín hầu, ban áo mặc cho hàng tăng đạo [mùa đông tháng 11 tha hết những người bị tù tội, đốt bỏ những dụng cụ tra tấn] (…) Canh Tuất [năm 1010] mùa xuân tháng 2 sang chơi châu Cổ Pháp, ban tiền và lụa cho các kỳ lão có thứ bậc khác nhau (…) mùa thu tháng 7 rời kinh phủ về Đại La đổi thành Thăng Long. Khởi công xây cung điện [đổi châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức] phát 2 vạn quan tiền [thuê thợ] làm chùa [chiếu những kẻ trốn tránh phải về quê cũ. Mùa đông tháng 12 đại xá thuế khoá cho thiên hạ 3 năm liền, những người mồ côi, goá chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả] Đổi 10 đạo thành 24 lộ, Ái châu và Hoan châu làm trại [độ dân làm sư, phát bạc ở kho 1.680 lạng để đúc chuông lớn (…) Tân Hợi [năm 1011] mùa xuân tháng 2 đánh giặc Cử Long ở Ái châu (…) xây sửa cung điện (…) Nhâm Tý [năm 1012] mùa hạ tháng 4 sửa cung điện (…) mùa đông tháng 12 Chân Lạp sang cống (…) vua thân đi đánh dẹp giặc ở Diễn châu” [từ năm 1009 đến năm 1012 triều đình chi rất nhiều, nguồn tài chính có đáp ứng nổi không]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thuận Thiên năm thứ 4 [năm 1013] mùa xuân tháng 2 định các lệ thuế trong nước: 1 – Ao hồ ruộng đất, 2 – Tiền và thóc về bãi dâu, 3 – Sản vật ở núi nguồn các phiên trấn, 4 – các quan ải xét hỏi về muối mắm, 5 – Sừng tê, ngà voi, hương liệu của người Man Lão, 6 – Các thứ gỗ và hoa quả ở đầu nguồn. Cho các vương hầu, công chúa quản các thuế theo thứ bậc khác nhau [mùa đông tháng 10 người Mán trước đây đến châu Vị Long đổi chác mua bán, nhà vua sai người đến bắt, được hơn 1 vạn con ngựa, Trắc Tuấn làm phản ngả theo người Mán] Thuận Thiên năm thứ 5 [năm 1014] mùa thu tháng 9 phát 310 lạng vàng trong kho để đúc chuông (…) Chân Lạp sang cống (…) mùa đông tháng 10 phát 100 lạng bạc trong kho để đúc 2 quả chuông, đắp thành đất ở 4 mặt kinh thành” [sau 3 năm miễn thuế triều đình định lại lệ thuế, về cơ bản có 2 loại: thuế sản xuất và thuế thương mại, việc áp thuế thương mại đã dẫn tới sự nổi loạn ở châu Vị Long]
 Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thuận Thiên năm thứ 7 [năm 1016] được mùa, 30 bó lúa giá 70 tiền, cho thiên hạ 3 năm không phải nộp tô thuế [những năm tiếp theo triều đình sửa chữa cung điện, miễn 1 nửa tô ruộng cho thiên hạ, lấy dân làm tăng làm lính, đánh dẹp ở các châu quận, sang cống nhà Tống, nhận cống của Chân Lạp]” [trong buôn bán lấy: vàng, bạc và tiền đồng do triều đình phát hành làm vật ngang giá]
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Mậu Thìn [năm 1028] thái tử Phật Tử lên ngôi, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ [lấy Lương Nhậm Văn làm thái sư, Ngộ Thượng Đinh làm thái phó, Đào Xử Trung làm thái bảo, Lý Đạo Kỷ làm tả khu mật, Lý Triệt là Thiếu sư, Xung Tân làm hữu khu mật, Lý Mật làm tả tham tri chính sự, Kiểu Bồng làm hữu tham tri chính sự, Liêu Gia Trinh làm trung thư thị lang, Hà Viễn làm tả giám nghị đại phu, Đỗ Sấm làm hữu giám nghị đại phu, Nguyễn Quang Lợi làm thái uý, Đàm Toại Trang làm đô thống, Vũ Ba Tu làm uy vệ thượng tướng, Nguyễn Thắng làm định thắng đại tướng, Đào Văn Lôi làm tả phúc tâm, Lý Nhân Nghĩa làm hữu phúc tâm, Phan Đường Liệt làm nội thị] đặt 10 vệ cấm quân: Quảng Thánh, Quảng Vũ, Ngự Long, Bổng Nhật, Trừng Hải chia tả hữu”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thiên Thành năm thứ 2 [năm 1029] sai trung sứ đốc suất người Đản Nãi đào kênh (…) châu Hoan cống kỳ lân (…) Thiên Thành năm thứ 3 [năm 1030] mùa hạ tháng 4 đặt kiểu mũ áo cho các công hầu văn võ (…) mùa đông tháng 10 được mùa to, vua thân ra ruộng Điểu Lộ xem gặt (…) Thuận Thành năm thứ 4 [năm 1031] tháng 2 vua thân đánh châu Hoan (…) tháng 3 phát tiền thuê thợ làm chùa ở các hương ấp (…) mùa thu tháng 8 đại xá thiên hạ (…) Thuận Thành năm thứ 5 [năm 1032] mùa hạ tháng 4 vua ngự đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền, có nhà nông dâng một cây  lúa chiêm có chín bông thóc (…) mùa đông tháng 11 ban yến cho các quan [Quý Dậu [năm 1033] mùa xuân tháng giêng, Chân Lạp sai sứ đến triều cống (…) mùa thu tháng 7 sai sứ đi tìm ngọc trai (…) Ất Hợi [năm 1035] mùa thu tháng 7 phong 13 người làm hậu phi, 18 người làm ngự nữ, hơn 100 người làm ca nữ] [xây cất chợ Tây và chợ Trường Lan, làm cầu Thái Hoà ở sông Tô Lịch] Thông Thuỵ năm thứ 2 [năm 1036] mùa hạ tháng 4 đặt hành dinh ở châu Hoan, nhân đó đổi tên châu ấy là Nghệ An [Đinh Sửu [năm 1037] mùa thu tháng 7 có nạn lụt lớn] Thông Thuỵ năm thứ 5 [năm 1038] mùa xuân tháng 2 vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền [mùa đông tháng 10 làm kho ngự khố] Thông Thuỵ năm thứ 6 [năm 1039] Nùng Tồn Phúc châu Quảng Nguyên không nộp cống thổ sản xưng thần, vua chiếu vâng mệnh trời đi đánh, bắt được đem chém ở chợ kinh đô (…) tháng 5 động Vũ Kiến thuộc châu Quảng Nguyên dâng 1 khối vàng sống năm 112 lạng, huyện Liên, châu Lộc Thạch, châu Định Biên tấu rằng trong bản xứ có hố bạc”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Canh Thìn [năm 1040] tháng 2 vua sai cung nữ dệt được gấm vóc thành tấm do đó phát gấm vóc của nhà Tống cho bầy tôi, tỏ ý không dụng gấm vóc nhà Tống nữa (…) mùa hạ tháng 4 chiếu việc kiện tụng giao cả cho Khai Hoàng vương Nhật Tôn xét xử, định đoạt rồi tấu lên (…) mùa đông tháng 10 xá 1 nửa tiền thuế cho cả nước (…) Nhâm Ngọ [năm 1042] mùa xuân tháng 3, vua đi Kha Lãm chính mình cày ruộng tịch điền (…) mùa thu tháng 9 nhuận, khi dân đóng thuế, ngoài 10 phải nộp vào kho công, quan lại được phép lấy 1/10 nữa (gọi là hoành đầu) kẻ nào thu quá thì bị xử tội ăn trộm, nhà dân nào tố cáo đúng được miễn [lao] dịch 3 năm, người coi kho thu thuế lụa [nếu thu quá qui định] bị phạt mỗi thước 100 trượng (…) mùa đông tháng 10 ban hình thư [sách luật] định rõ các lệnh cấm: Ăn trộm trâu của công phạt 100 trượng, ăn trộm 1 con bắt phạt thành 2 con (…) tháng 11 thiên hạ đói to (…) Quý Mùi [năm 1043] mùa xuân tháng 3 châu Ái, châu Văn làm phản (…) mùa thu tháng 9 đóng thuyền chiến (…) mùa đông tháng 12 chiếu cho quân sửa binh khí và áo giáp (…) đúc tiền Minh Đạo ban cho các quan (…) Giáp Thân [năm 1044] mùa xuân tháng giêng đánh Chiêm Thành (…) mùa thu tháng 9 bầy tôi dâng tù bình hơn 5 nghìn tên và các thứ vàng bạc châu báu (…) mùa đông tháng 11 xuống chiếu: “mới rồi vì có việc hành quân, trở ngại đến công việc canh nông, ngời đâu vụ đông năm nay mùa màng lại được phong đăng, trăm họ no đủ, vậy xá cho dân 1 nửa tiền thuế” [tháng 11 năm 1042 thiên hạ đói lớn có lẽ đã góp phần dẫn đến việc làm phản tại các châu Ái, Văn vào đầu năm 1043, nguyên nhân khác rất có thể do yếu tố tác động của Chiêm Thành. Triều đình trước hết là đánh dẹp các thế lực chống đối, tiếp theo là phát hành tiền để củng cố và đảm bảo sự hoạt động của bộ máy chính quyền, cuối cùng là đánh chiếm Chiêm Thành bắt quy phục cống nộp và tạo nguồn thu khác cho ngân sách]
 Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thiên Cảm Thánh Vũ năm thứ 5 [năm 1048] mùa thu tháng 9 sai tướng quân là Phùng Trí Năng đi đánh Ai Lao, bắt được người và súc vật rất nhiều đem về (…) [Canh Dần [năm 1050] mùa hạ tháng 6 có nạn thuỷ tai lớn] Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ 3 [năm 1051] mùa thu tháng 8 ban cho dân tiền bạc vải lụa theo thứ bậc (…) mùa đông tháng 11 đào kênh Lẫm (…) Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ 5 [năm 1052] mùa thu tháng 7 – 8 có nạn thuỷ tai (…) Long Thuỵ Thái Bình năm thứ 2 [năm 1055] mùa xuân tháng giêng sửa sang cung điện đại nội (…) Chiêm Thành sang cống (…) Long Thuỵ Thái Bình năm thứ 3 [năm 1056] mùa xuân tháng giêng Chân Lạp sang cống (…) mùa hạ tháng tư xuống chiếu khuyến nông, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng làm chuông lớn (…) Long Thuỵ Thái Bình năm thứ 4 [năm 1057] mùa xuân tháng giêng xây bảo tháp (…) sai sứ sang cống nhà Tống (…) mùa đông tháng 12 dựng 2 chùa, đúc 2 tượng bằng vàng (…) Chương Thành Gia Khánh năm thứ 1 [năm 1059] mùa xuân tháng 3 đánh Khâm Châu nước Tống (…) Chương Thành Gia Khánh năm thứ 2 [năm 1060] châu mục Lạng châu là Thân Thiệu Thái bắt lính bỏ trốn vào đất Tống, bắt được chỉ huy sứ Dương Bảo Tài và quân lính, trâu ngựa đem về (…) Long Chương Thiên Tự năm thứ 1 [năm 1066] lái buôn nước Trảo Oa dâng ngọc châu dạ quang, trả tiền giá 1 vạn quan (…) Long Chương Thiên Tự năm thứ 2 [năm 1067] mùa xuân tháng 2 các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ sản vật địa phương (…) cho viên ngoại lang là Nguỵ Trọng Hoà và Đặng Thế Tư làm đô hộ phủ sĩ sư, đổi 10 người thư gia làm án ngục lại, bổng hàng năm là 50 quan tiền, 100 bó lúa và các thứ cá muối, ngục lại mỗi người 20 quan tiền, 100 bó lúa để nuôi đức liêm khiết của họ (…) Thiên Huống Bảo Tượng năm thứ 2 [năm 1069] mùa xuân tháng 2 vua thân đi đánh Chiêm Thành, vua Chiêm Thành là Chế Củ xin dâng 3 châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (…) Thần Vũ năm thứ 2 [năm 1070] mùa hạ tháng 4 đại hán, phát thóc và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo (…) Thần Vũ năm thứ 3 [năm 1071] định tiền chuộc tội theo thứ bậc khác nhau”.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Ất Mão [năm 1075] mùa đông tháng 11 sai Lý Thường Kiệt đem binh đánh nhà Tống (…) Bính Thìn [năm 1076] mùa hạ tháng 4 ân xá, trưng cầu lời nói thẳng (…) Đinh Tị [năm 1077] mùa xuân tháng 2 thi lại viện bằng phép viết, phép tính và hình luật [mùa thu đắp đê ở sông Như Nguyệt, mùa đông vua đi Phù Nhân xem gặt lúa (…) Mậu Ngọ [năm 1078] tháng 2 hạ chiếu bỏ lễ tiệc mùa thu (…) nước lụt vào trong thành] Kỷ Mùi [năm 1079] mùa xuân thả người Tống bị bắt làm tù binh (…) được mùa (…) nhà Tống trả lại châu Quảng Nguyên (…) châu Quảng Nguyên nhiều vàng [Canh Thân [năm 1080] mùa xuân tháng 3 vua đi Cùng Giang để xem đánh cá (…) mùa thu tháng 8 vua đi Phù Nhân để xem gặt lúa (…) Giáp Tý [năm 1084] mùa đông tháng 11 hạ chiếu cho trong nước làm nhà ngói] Bính Dần [năm 1086] đặt các chùa trong nước làm 3 hạng: đại danh lam, trung danh lam, tiểu danh lam. Chùa thì có điền nô [nô bộc làm ruộng và] kho chứa đồi vật. Dùng quan văn cấp cao kiêm làm chức Đề cử [chức quan coi quản về việc đền chùa] Kỷ Tị [năm 1089] mùa xuân tháng 3 quy định các chức của bách quan” [sau cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt vào đất Tống chắc chắn nhà Lý thu được nhiều phẩm vật chiến tranh. Hình như chùa không chỉ là nơi truyền bá tư tưởng mà còn là cơ quan hoạt động về tài chính của triều đình. Triều đình xây dựng chùa, bổ quan văn quản lý chùa, đúc chuông, độ dân làm tăng sư, rõ ràng chùa do triều đình quản lý và tất nhiên là quản lý cả những công đức của dân vào chùa]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quảng Hựu năm thứ 7 [năm 1092] mùa thu tháng 8 được mùa lớn, định sổ ruộng thu tô mỗi mẫu 3 thặng để cấp lương cho quân (…) Hội Phong năm thứ 4 [năm 1095] mùa hạ tháng 6 đại hạn, thả tù, giảm hoặc miễn các khoản tang thuế (…) Hội Phong năm thứ 5 [năm 1096] mùa xuân tháng 3 Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết [Đinh Sửu [năm 1097] mùa đông tháng chạp cấm trăm họ làm nhà ngói và đóng thuyền lớn] Hội Phong năm thứ 9 [năm 1100] mùa đông tháng 12 bệnh dịch lớn [Tân Tị [năm 1101] vua xem cày bừa ở Ứng Long] Long Phù năm thứ 2 [năm 1102] tháng 2 lụt lớn [Quý Tị [năm 1103] mùa xuân tháng giêng hạ chiếu cho dân ở trong và ngoài thành đều phải đắp đê giữ nước (…) tháng 2 thái hậu xuất tiền trong kho để chuộc lại số con gái nhà nghèo đem gả cho những người goá vợ [Ất Dậu [năm 1105] mùa đông tháng 10 ở châu Đông Lương có vàng sống trồi lên (…) tháng 11 Chiêm Thành sang cống, có nạn dịch lớn] [Mậu Tí [năm 1108] mùa xuân tháng 2 đắp đê ngăn nước sông ở Cơ Xá] Hội Tường Đại Khánh năm thứ 2 [năm 1111] mùa thu được mùa to” [Lê Văn Thịnh là người đỗ cao nhất trong khoa thi đầu tiên, lại là người có vai trò quan trọng trong ngoại giao Việt – Tống nhưng lại mưu đồ làm phản. Rõ ràng là có rất nhiều nghi vấn. Cần làm rõ thêm lệnh cấm trăm họ [khu vực kinh tế tư nhân] làm nhà ngói và đóng thuyền lớn]
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Đinh Dậu [năm 1117] mùa xuân tháng 3 nhà vua đi Ứng Long xem xét việc cày ruộng (…) chiếu phàm những kẻ trộm trâu hay giết trâu thì cả vợ lẫn chồng đều bị phạt 80 trượng, người láng giềng không cáo tỏ phạt 80 trượng (…) mùa đông tháng 10 nhà vua đi Khai Thuỵ xem xét việc gặt lúa (…) Mậu Tuất [năm 1118] mùa hạ tháng 5 hạn hán [Hộ Tường Đại Khánh năm thứ 10 [năm 1119] Rồng hiện ở quán bán nước chè ở Kinh sư (…) tháng 12 khao thưởng tướng sĩ, ban tiền lụa theo thứ bậc khác nhau] Canh Tý [năm 1120] mùa xuân tháng giêng đâu đấy được mùa (…) Tân Sửu [năm 1121] mùa hạ tháng 5 nước ngập tới ngoài cửa Đại Hưng (…) mùa thu tháng 7 phát sinh nhiều hoang trùng (…) Quý Mão [năm 1123] mùa đông tháng 10 nhà vua đi Ứng Long xem xét việc gặt lúa, nhà vua cho rằng trâu bò là loài giúp ích cho việc cày cấy, bèn xuống chiếu: dân cứ 10 nhà làm 1 bảo, phải giữ lẫn cho nhau, không được giết trâu, nếu ai vi phạm sẽ bị xử theo pháp luật (…) Giáp Thìn [năm 1124] mùa thu tháng 7 hạn hán (…) Bính Ngọ [năm 1126] mùa xuân tháng giêng lệnh: Mùa xuân cấm chặt cây (…) mùa hạ tháng 6 hạn hán (…) Mậu Thân [năm 1128] mùa xuân tháng giêng đại xá. Phàm ruộng đất của dân bị sung công đều được trả lại hết, những tội phối dịch thuộc hạng điền nhi và lộ ông đều được tha cả (…) xuống chiếu cho sáu quân thay phiên nhau về làm ruộng [Lời bàn của Ngô Thì Sĩ: Phép Phủ vệ nhà Đường là ngự binh ư nông. Nhà Lý ban đầu đã làm theo phép ấy, về sau thay đổi thất thường, đến đây mới trở lại làm theo phép cũ, đó là một chính sách tốt đẹp của Lý Thần Tông khi mới cầm quyền] (…) mùa hạ tháng 4 hạn hán (…) [Kỷ Dậu [năm 1129] tháng 3 đại thủ lĩnh châu Tây Nông là Hà Văn Quảng dâng 2 khối vàng sống cộng nặng 33 lạng 5 đồng cân] Canh Tuất [năm 1130] tháng 6 hạn hán (…) Tân Hợi [năm 1131] mùa hạ tháng 5 hạn hán [Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 5 [năm 1137] tháng 5 thiếu sư Lý Công Tín dâng 1 khối vàng sống nặn 47 lạng (…) Thiên Chương Bảo Tự năm thứ 6 [năm 1138] mùa hạ tháng 5 nội nhân hoả đầu là Hứa Viêm dâng 1 khối vàng sống nặng 66 lạng (…) tháng 6 han hán, chư vệ là Phạm Tín xin đến vu đàn làm lễ cầu mưa (…) ban cho các quan áo mùa đông] Canh Thân [năm 1140] đâu đấy được mùa cả”.
Đại Việt sử lược chép: “Canh Thân [năm 1140] mùa đông tháng chạp vua hạ chiếu: những ruộng đất đã cày cấy được mà đem cầm thế bán [đở] thì trong 20 năm phải cho chuộc lại. Phàm những việc giành giựt nhau về ruộng đất mà ngoài 50 năm thì không được bày tỏ, kiện tụng gì nữa. Những ruộng đất đã bán dứt hẳn, có kế ước thì không được chuộc [Nhâm Tuất [năm 1142] tháng 12 phàm những ruộng hoang bị người khác cấy cày rồi, thì trong hạn 1 năm được phép thưa kiện mà nhận lại, quá hạn ấy đều cấm chỉ]” [triều đình đã có chính sách hợp lý đối với nền kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đảm bảo mọi người dân đều được tham gia vào nền kinh tế. Pháp luật giữ được vai trò quan trọng trong điều chỉnh xã hội vì nó được làm ra từ những sự kiện trong thực tế của suốt quá trình lịch sử]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đại Định năm thứ 4 [năm 1143] mùa xuân tháng 2 xuống chiếu thiên hạ từ nay về sau cứ 3 nhà làm 1 bảo, không được mổ riêng trâu bò, nếu có việc cúng tế phải tấu xin được chỉ mới cho mổ, kẻ nào làm trái trị tội nặng, láng giếng không cáo giác cũng xử cùng tội (…) tháng 9 xuống chiếu rằng các nhà quyền thế ngoài đầm ao của mình không được ngăn cấm xằng bậy, làm trái thì có tội. Mùa đông tháng 10 sai thái phó Hoàng Nghĩa Hiền và viên ngoại lang Khổng Trường đem quân các khe động dọc biên giới về đường bộ đi đãi vàng ở các xứ Như Cá (…) Đại Định năm thứ 6 [năm 1145] cấm các thợ bách tác không được làm đồ dùng theo kiểu triều đình tự tiện bán cho dân gian (…) Đại Định năm thứ 8 [năm 1147] tháng 9 xuống chiếu cho Đỗ Anh Vũ đi phủ Phú Lương khảo xét quan liêu và định số mục hộ tịch (…) Đại Định năm thứ 10 [năm 1149] mùa xuân tháng 2 thuyền buôn 3 nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông [Quảng Ninh] xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang [khu tập trung nhiều hàng hoá để tiêu thụ đi các nơi] ở hải đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương” [thương mại thời Lý khá cơ bản, phía tây lập chợ đặt các quan ải quản lý các khoản thuế mà đặc biệt là thuế muối, khai thác kim loại và sản vật từ rừng, phía đông đặt trang để tiện cho thuyền bè các nước vùng biển buôn bán, đồng thời luôn luôn cái tiến đóng các loại thuyền mới. Cần khảo thêm về trung chuyển giữ hàng hoá chợ phía tây với trang phía đông]  
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đại Định năm thứ 16 [năm 1155] mùa thu tháng 8 lũ lụt, động đất, tháng 9 thu tô ruộng chiêm (…) tháng 12 động đất (…) Đại Định năm thứ 17 [năm 1156] mùa đông tháng 12 ban đêm kho ngự cháy (…) năm ấy đói to, 1 thặng gạo giáo 70 đồng tiền (…) Đại Định năm thứ 20 [năm 1159] mùa hạ tháng 5 Ngưu Hồng và Ai Lao làm phản, sai Tô Hiến Thành đi đánh, bắt được người và trâu ngựa voi, vàng bạc châu báu rất nhiều (…) Chính Long Báo Ứng năm thứ 1 [năm 1163] cấm người trong nước không được dùng trân châu giả (…) Chính Long Báo Ứng năm thứ 2 [năm 1164] mùa thu tháng 7 nước to qua mức thường, lúa bị ngập hết (…) Chính Long Báo Ứng năm thứ 3 [năm 1165] mùa hạ tháng 6 đại hạn, dân bị nạn dịch lớn, trâu bò gia súc chết nhiều, giá gạo cao vọt”
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Kỷ Sửu [năm 1169] mùa xuân tháng 3 cá [ở cửa] biển chết nhiều, vua sai thầy chùa và đạo sĩ ở đền chùa tụng kinh cầu đảo (…) Tân Mão [năm 1171] mùa xuân tháng 2 nhà vua đi tuần đường biển (…) Nhâm Thìn [năm 1172] mùa xuân tháng 2 lại đi tuần đường biển (…) Quý Tị [năm 1173] [trước] đóng thuyền Vĩnh Long, Thanh Lan, Tường Quyết, Phụng Tiên, Vĩnh Diệu, Nhật Long [nay] đóng thuyền Ngoạn Thuỷ” [năm 1155 tháng 8 lũ lụt thì phải giảm tô thuế vì sao tháng 9 lại thu tô ruộng chiêm ? Tháng 12 năm 1156 kho của triều đình bị cháy cùng với đó năm ấy không được mùa nên thiếu gạo khiến giá gạo tăng vọt [giá gạo tăng vọt được Đại Việt sử lược chép vào năm 1154. Có thể do mất mùa gạo trở nên khan hiếm, kho của triều đình bị cháy, chính quyền đã tung tiền ra mua gạo khiến giá tăng vọt] năm 1164 mất mùa do lụt, năm 1165 mất mùa do hạn hán khiến giá gạo lại tăng vọt. Thuỷ hải sản chiếm vị trí thứ 2 trong lĩnh vực nông nghiệp và những nguồn lợi khác đến từ ao đầm hồ biển. Sách sử nhắc nhiều tới động đất, cần khảo thêm]
[Ất Mùi [năm 1175] vua [Lý Anh Tông] bệnh càng nặng, bảo Thái tử: “Nước [nhà] ta núi sông đẹp đẽ lạ thường, người tuấn kiệt, đất linh thiêng, châu ngọc quý báu, thứ gì cũng có cả. Nước khác không thể bì kịp. Vậy nên phải thận trọng giữ gìn”. Hoàng hậu xin lập lại Long Sưởng, vua nói: “Long Sưởng làm con đã bất hiếu còn cai trị dân thế nào được”. Thái hậu vời Hiến Thành đến khuyên dỗ, Hiến Thành thưa lại rằng: “Làm điều bất nghĩa mà được giàu sang có lẽ nào [là] hạng trung thần (…) tôi đây không dám vâng lời”]
(4) . Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Trinh Phù năm thứ 4 [năm 1179] mùa hạ tháng 6 xuống chiếu cấm không được đem muối mắm và đồ sắt lên bán đổi ở đầu nguồn (…) Trinh Phù năm thứ 5 [năm 1180] mùa thu tháng 8 lũ lớn (…) Trinh Phù năm thứ 6 [năm 1181] mùa xuân tháng giêng thái tử Long Sưởng cầm đầu bọn gia thuộc trộm cướp bừa bãi, mưu làm loạn (…) mùa hạ tháng 4 đói to dân chết gần 1 nửa [Nhâm Dần [năm 1182] mùa đông tháng chạp ra lệnh cấm không được giết trâu, không được dùng chỉ vàng may áo xiêm] Trinh Phù năm thứ 9 [năm 1184] người buôn các nước Xiêm La, Tam Phật Tề [vương quốc Srivijaya] vào trấn Vân Đồn dâng vật báu để xin buôn bán [Nhâm Tý [năm 1192] mùa đông tháng chạp khơi sông Tô Lịch, xây bờ đê bằng đá. Hồ Điệp ở Diễn châu làm phản (…) Giáp Dần [năm 1194] mùa xuân thủ lĩnh châu Chân Đăng là Hà Lê làm phản] mùa thu tháng 7 đại xá thiên hạ, ban cho người già từ 70 tuổi trở lên mỗi người 1 tấm lụa [Ất Mão [năm 1195] có nạn dịch lớn (…) Mậu Ngọ [năm 1198] Đàm Dĩ Mông tấu: “Nay tăng đồ và phu dịch số lượng chẳng kém gì nhau. Bọn tăng đồ tự kết làm bè đảng, lập càn người lên làm chủ, tụ họp thành từng nhóm làm nhiều việc nhơ bẩn. Hoặc ở giới trường, tịnh xá thì công khai ăn thịt, uống rượu. Hoặc nơi thiền phòng, tịnh viện thì kín đáo tự gian dâm với nhau”. Nhà vua cho triệu tập các tăng đồ ở trong cõi lưu lại ở chỗ vựa thóc mà giúp đỡ những kẻ còn biết đến danh giá, được vài chục người cho làm tăng. Số còn lại đều đánh dấu vào tay bắt hoàn tục (…) Lạng châu sản xuất thiếc trắng, đồng màu xanh biếc và cây đại thanh] mùa thu tháng 7 nước lớn, Ngô Công Lý ở Diễn châu, Đinh Khả và Bùi Đô ở châu Đại Hoàng làm loạn (…) Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 14 [năm 1199] mùa thu tháng 7 nước to lúa mạ ngập hết. Đói to [hậu cung bốc cháy] (…) Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 15 [năm 1200] mùa xuân tháng giêng đem thóc chẩn cấp cho dân nghèo (…) Thiên Gia Bảo Hựu năm thứ 2 [năm 1203] mùa xuân tháng 2 dựng nhiều cung điện [đem công sức của dân ném hết vào việc thổ mộc] mùa thu tháng 7 tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh đánh Bố Trì bị chết. Quân Nghệ An tan vỡ chết không kể xiết. Bố Trì thả sức cướp bóc rồi về (…) tháng 9 người châu Đào Hoàng là Phí Lang và Bảo Lương nổi loạn (…) Thiên Gia Bảo Hựu năm thứ 4 [năm 1205] người Tống sang cướp ở biên giới, dân mệt nhọc chạy nạn [phu dịch] vua ham thích tiền của, các quan phần nhiều bán quan buôn ngục (…) Trị Bình Long Ứng năm thứ 2 [năm 1206] vua xây dựng không ngớt, rong chơi vô độ, nghe ngoài thành có trộm cướp thì lờ đi như không biết (…) Trị Bình Long Ứng năm thứ 3 [năm 1207] mùa xuân tháng giêng giặc cướp nổi như ong, xuống chiếu chọn các đinh nam khoẻ mạnh xung vào quân ngũ, sai quan các lộ thống quản để bắt [tháng 3 giặc châu Quốc Oai là Đoàn Khả Liệt và Vương Mãn làm phản] Trị Bình Long Ứng năm thứ 4 [năm 1208] mùa xuân tháng giêng người chết đói nằm gối lên nhau [mùa đông tháng 10 trời lụt lội] [Kỷ Tị [năm 1209] mùa thu tháng 7 giết thượng phẩm phụng ngự Phạm Bỉnh Di, bộ tướng của Di là Quách Bốc nổi loạn, vua lánh đi Quy Hoá giang] Hoàng thái tử Sảm đến thôn Lưu Gia ở Hai Ấp nghe tiếng con gái họ Trần Lý có nhan sắc, bèn lấy làm vợ. Nhà Trần Lý làm nghề đánh cá nên giàu” [trước hết là thiên tai nhiều dẫn tới mất mùa liên tục, giặc ngoài biên giới tha hồ cướp bóc, triều đình lại phí sức dân vào xây dựng cung điện đình chùa, vua quan bỏ mặc chính sự chỉ nhằm lợi cho bản thân dẫn đến dân làm loạn khắp nơi không ngừng, đỉnh điểm của loạn lạc này là sự xung đột ngay trong bộ máy chính quyền. Vì thế triều đình trở nên suy yếu và không thể kiểm soát được xã hội, trong khi đó họ Trần kiểm soát cơ bản các hoạt động của ngành thuỷ hải sản [ngành không phụ thuộc sâu vào thời tiết như ngành lương thực] lại giữ vị trí địa lý quan trọng có thể thông thương với phía bắc là lưỡng Quảng phía nam là Đông Nam Á, do vậy gần như đứng ngoài cuộc khủng hoảng trong nội địa]
 Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Kiến Trung năm thứ 2 [năm 1226] mùa xuân tháng giêng phong Trần Thủ Độ làm thái sư (…) tháng 2 định luật lệ, điều lệ (…) mùa đông tháng 10 [dân gian nộp tiền thượng cung thì cứ mỗi 1 tiền là 70 đồng, còn như tiền ở dân gian tiêu dùng thì mỗi 1 tiền chỉ có 69 đồng, gọi là tiền tỉnh mạch (mỗi tiền bớt đi 1 đồng)] Kiến Trung năm thứ 3 [năm 1227] xuống chiếu rằng tất cả các đơn từ văn khế đều dùng phép in ngón tay vào nửa tờ giấy (…) Kiến Trung năm thứ 4 [năm 1228] xác định số đinh tỉnh Thanh Hoá. Lệ cũ [nhà Lý] hằng năm vào đầu mùa xuân, xã quan khai báo nhân khẩu gọi là đơn sổ, rồi căn cứ vào sổ kê rõ các loại tông thất, văn quan văn giai, võ quan võ giai, quan theo hầu, quân nhân, tạp lưu, hoàng nam, già yếu, tàn tật, phụ tịch, xiêu tán. Người có quan tước, con cháu được tập ấm mới được ra làm quan, người giàu có khoẻ mạnh mà không có quan tước thì sung quân đội, đời đời làm lính (…) Kiến Trung năm thứ 5 [năm 1229] mùa xuân tháng 3 khảo xét luật lệ của triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi luật hình lễ nghi. Loại bị đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ cho ở [Nhật Cảo] cày ruộng côn, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thặng thóc (…) Kiến Trung năm thứ 7 [năm 1231] mùa xuân tháng giêng sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc chỉ huy binh lính đào vét kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hoá đến Diễn châu (…) tục nước ta vì nóng bức nên làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân thường quét vôi trắng gọi là đình trạm (…) Kiến Trung năm thứ 8 [năm 1232] tháng 8 gió lớn dân gian phát dịch lệ nhiều người chết (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 2 [năm 1234] nước to (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 4 [năm 1236] mùa hạ tháng 6 nước to tràn vào cung Lệ Thiên (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 5 [năm 1237] mùa xuân tháng 2 chiếu rằng: khi làm giấy tờ về chúc thư, văn khế ruộng đất và vay mượn tiền bạc thì người làm chứng in tay ở 3 dòng trước, người bán in tay ở 4 dòng sau (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 7 [năm 1238] mùa xuân tháng 2 sai thống quốc thái sư Trần Thủ Độ duyệt định sổ đinh phủ Thanh Hoá. Mùa thu tháng 7 nước to tràn vỡ vào cung Thưởng Xuân (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 9 [năm 1240] mùa thu tháng 7 gió lớn mưa to (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 10 [năm 1241] mùa hạ tháng 4 hạn hán, núi nhiều nơi bị lở [mùa thu tháng 8 có nạn thuỷ tai lớn] Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 11 [năm 1242] mùa xuân tháng 2 chia nước làm 12 lộ [Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng Khoái, Thanh Hoá, Hoàng Giang, Diễn Châu] đặt chức an phủ, trấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trị. Các xã, sách thì đặt các chức đại [từ ngũ phẩm trở lên] tiểu [từ lục phẩm trở xuống] tư xã. Làm đơn sổ hộ khẩu. Nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có ruộng đất thì miễn cả. Có 1-2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3-4 mẫu thì nộp 2 quan, có từ 5 mẫu thì nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thặng thóc [Ruộng công điền có 2 hạng: Ruộng quốc khố loại nhất đẳng mỗi mẫu thu 6 thạch và 80 thăng thọc; loại nhị đẳng mỗi mẫu thu 4 thạch thọc; loại tam đẳng mỗi mẫu thu 3 thạch thóc. Ruộng thác đạo loại nhất đẳng mỗi mẫu thu 1 thạch thóc; loại nhị đẳng 3 mẫu thu 1 thạch thóc; loại tam đẳng 4 mẫu thu 1 thạch thóc. Ruộng ao của dân mỗi mẫu thu 3 thăng thóc. Ruộng muối thu bằng tiền] từ sau khi Nguyên Thái Tông mất thì cửa ải thường không thông. Tháng 5-6 hạn hán, tháng 7 mưa miễn 1 nửa tô ruộng (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 12 [năm 1243] mùa xuân tháng giêng lệnh cho quan các lộ làm sổ dân đinh hạn trong 2 tháng phải xong (…) mùa thu tháng 8 nước to vỡ thành Đại La (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 13 [năm 1244] mùa xuân tháng giêng sai các văn thần chia nhau đi trị nhậm các phủ, lộ trong nước gồm 12 nơi. Phủ có tri phủ, lộ có thông phán, châu có tào vận sứ và phó sứ, giữ việc vận chở (…) mùa đông tháng 10 quy định lương bổng cho các quan làm việc trong ngoài và các quan túc vệ (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 14 [năm 1245] mùa thu tháng 8 nước to vỡ đê Thanh Đàm. Mùa đông tháng 12, gió to mưa lớn 3 ngày, nước sông tràn ngập rắn cá chết nhiều (…) Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 17 [năm 1248] tháng 3 lệnh các lộ đắp đê phòng lụt từ đầu nguồn đến bờ biển. Đặt hà đê chánh phó sứ để quản đốc, chỗ đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền (…) Nguyên Phong năm thứ 4 [năm 1254] tháng 6 bán ruộng công [cho dân] mỗi diện [mẫu] là 5 quan tiền (…) Nguyên Phong năm thứ 5 [năm 1255] khi việc làm ruộng nhàn rỗi thì đốc thúc quân lính đắp đê đập, đào mương ngòi để phòng lụt hạn” [nhà Trần vốn có tiềm lực kinh tế lại là ngoại thích nên dần dần thâu tóm triều đình, đồng thời có những chính sách mền mỏng với các thế lực chống đối, định luật lệ rõ ràng sử dụng những người tài giỏi mà có được thiên hạ. Cũng giống như cuối triều Lý, tình hình thiên tai rất tồi tệ nhưng nhà Trần đã chủ động đề ra các phương cách khắc phục, trong đó việc tận dụng sức dân là rất hiệu quả. Họ Lý có được thiên hạ vua sáng và thiên tai ôn hoà nên hưng thịnh nhưng đến khi thiên tai hung hiểm triều đình lúng túng mà dẫn tới loạn, họ Trần có được thiên hạ không còn bị động trước thiên tai vì vậy mà hưng [nhà Trần khắc phục được thiên tai hẳn là vì có kinh nghiệm từ quá trình sinh trưởng trong môi trường nước] Truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh có thể được kiến tạo trong giai đoạn này]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nguyên Phong năm thứ 8 [năm 1258] quy định cứ 3 năm 1 lần tiến cống [nhà Nguyên] coi là thường lệ (…) Thiệu Long năm thứ 4 [năm 1261] mùa xuân tháng 2 chọn đinh tráng các lộ làm linh (…) Thiệu Long năm thứ 5 [năm 1262] tháng 3 xuống chiếu cho các quân chế tạo vũ khí, chiến thuyền (…) Thiệu Long năm thứ 6 [năm 1263] tháng 9 có bệnh dịch, tháng 12 gió lớn mưa to (…) Thiệu Long năm thứ 8 [năm 1265] mùa thu tháng 7 nước to, tràn vào Cơ Xá, người và xúc vật bị chết đuối nhiều, ra lệnh đại xá (…) Thiệu Long năm thứ 9 [năm 1266] thuỷ quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới đến núi Ô Lôi do đó biết được kỳ hạn quân Nguyên sang xâm lược. Mùa đông tháng 10 xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang (…) Thiệu Long năm thứ 11 [năm 1268] mùa hạ tháng 6 đại hạn, mùa thu tháng 7 nước lớn (…) Thiệu Long năm thứ 13 [năm 1270] mùa thu tháng 7 nước to, các đường phố ở kinh đô phần nhiều đi lại bằng thuyền bè (…) Bảo Phù năm thứ 5 [năm 1277] tháng 5 nước to súc vật tôm cá chết nhiều (…) Bảo Phù năm thứ 6 [năm 1278] mùa xuân tháng 2 dân chết nhiều vì bệnh đậu mùa, nhà dân ở kinh thành thướng hay bị cháy vào ban đêm (…) mùa hạ lúa mất mùa (…) mùa thu tháng 8 nhiều xúc vật chết (…) Thiệu Bảo năm thứ 2 [năm 1280] tháng 2 duyệt sổ đinh, mùa đông tháng 10 được mùa to (…) Thiệu Bảo năm thứ 4 [năm 1282] mùa thu tháng 8 Lạng Châu tấu báo Hữu thừa tướng Nguyên là Toa Đô đem 50 vạn quân (…) xâm lược nước ta (…) Trùng Hưng năm thứ 2 [năm 1286] mùa xuân tháng giêng thả quân Nguyên về nước (…) Trùng Hưng năm thứ 3 [năm 1287] tháng 2 quân Nguyên chia đường vào cướp (…) Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, tục ở đó lấy buôn bán làm nghề nghiệp sinh nhai, ăn uống may mặc đều dựa vào khách buôn phương bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người bắc (…) Trùng Hưng năm thứ 5 [năm 1289] mùa xuân tháng 2 đưa bọn Ô Mã Nhi về nước, dùng kế của Hưng Đạo Vương lấy người giỏi bơi lặn sung làm phu thuyền, ban đêm dùi thuyền cho đắm, bộ Ô Mã Nhi đều chết đuối cả (…) hạn hán từ mùa hạ tháng 6 đến mùa đông tháng 10 (…) Trùng Hưng năm thứ 6 [năm 1290] mùa xuân tháng 2 vua thân đi đánh Ai Lao (…) tháng 9 đói to, 3 thăng gạo giá 1 quan tiền, dân nhiều người bán ruộng, bán con trai con gái làm nô tỳ, mỗi người giá 1 quan tiền. Xuống chiếu phát chẩn thóc cho dân nghèo, miễn thuế nhân đinh (…) Trùng Hưng năm thứ 7 [năm 1291] ngoài đường nhiều người chết đói (…) Trùng Hưng năm thứ 8 [năm 1292] tháng 3 xuống chiếu phàm văn tự bán đứt hoặc cầm đợ phải làm 2 bản giống nhau, mỗi bên giữ 1 bản. Xuống chiếu cho những mua dân lương thiện làm nô tỳ thì phải cho chuộc lại, ruộng đất nhà cửa không theo lệnh này (…) Hưng Long năm thứ 7 [năm 1299] tháng 9 xuống chiếu rằng [không cho chuộc ruộng đất và gia nhân] (…) Đại Khánh năm thứ 2 [năm 1315] tháng 6 hạn hán, mùa đông sâu ăn lúa”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “[từ Đại Khánh năm thứ 6 [năm 1319] đến Đại Khánh năm thứ 8 [năm 1321] lũ lụt hạn hán, nạn đói hoành hành (…) Đại Khánh năm thứ 10 [năm 1323] xuống chiếu khi tranh ruộng mà ruộng có lúa, thì chia làm 2 phần bồi thường cho người cày 1 phần còn 1 phần lưu lại (…) mùa đông tháng 11 đúc tiền kẽm (…) Thiệu Phong năm thứ 3 [năm 1343] tháng 5-6 hạn hán, xuống chiếu giảm 1 nửa số thuế nhân đinh (…) đói kém nhiều kẻ làm trộm cướp nhất là các gia nô của vương hầu (…) Thiệu Phong năm thứ 4 [năm 1344] mất mùa đói kém dân nhiều kẻ làm sư và nô cho các thế gia (…) Thiệu Phong năm thứ 8 [năm 1348] mùa hạ tháng 5 hạn hán, mùa thu tháng 7 nước to, mùa đông tháng 10, thuyền buôn nước Đồ Bồ đến hải trang Vân Đồn, nhiều kẻ mò ngọc trai bán cho họ (…) Thiệu Phong năm thứ 9 [năm 1349] mùa xuân tháng 3 thuyền buôn phương bắc sang cống (…) tháng 11 đặt quan trấn, quan lộ và sát hải sứ ở trấn Vân Đồn, đặt quân Bình Hải để trấn giữ (…) thời nhà Lý thuyền buôn tới thì vào từ cửa biển Tha, Viên ở Diễn châu (…) Thiệu Phong năm thứ 12 [năm 1352] mùa thu tháng 7 nước lớn tràn ngập, vỡ đê Bát Khối lúa má chìm ngập. Khoái Châu, Hồng Châu, Thuận An thiệt hại nặng nhất (…) Thiệu Phong năm thứ 14 [năm 1354] tháng 3 bấy giờ đói kém, dân khổ vì giắc cướp (…) mùa thu tháng 9 có nạn sâu lúa, xuống chiếu giảm 1 nửa tô ruộng (…) Thiệu Phong năm thứ 15 [năm 1355] mùa hạ hạn hán, mùa thu lũ lụt (…) Thiệu Phong năm thứ 17 [năm 1357] từ năm Ất Mùi [1355] đến năm Đinh Dậu [1357] 1 thặng gạo trị giá 1 tiền (…) Đại Trị năm thứ 1 [năm 1358] mùa hạ, mùa thu hạn hán, sâu cắn lúa cá chết nhiều, tháng 8 xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp dân nghèo, các quan địa phương tính xem số thóc bỏ ra là bao nhiêu trả lại bằng tiền (…) Đại Trị năm thứ 2 [năm 1359] mùa thu nước lớn trôi cả nhà cửa của dân, thóc lúa bị ngập (…) Đại Trị năm thứ 3 [năm 1360] mùa xuân tháng 2 đúc tiền Đại trị thông bảo (…) mùa đông tháng 10 thuyền buôn các nước Lộ Hạc, Trà Nha, Xiêm La đến Vân Đồn buôn bán. Tháng 12 chiếu bắt gia nô các vương hầu, công chúa đều phải thích chữ vào trán, kẻ nào không theo bị coi là giặc cướp (…) Đại Trị năm thứ 5 [năm 1362] gọi các nhà giàu trong nước vào cung đánh bạc cho vui, tiếng bạc đặt tới 300 quan tiền (…) tháng 8 đói to, chiếu cho các nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, ban tước theo thứ bậc khác nhau (…) Đại Trị năm thứ 6 [năm 1363] tháng 6 tịch thu gia sản của Ngô Dẫn trại chủ xã Đại Lai” [Đại Việt được mùa thì ít, mất mùa do hạn hán lũ lụt thì nhiều vì thế dân làm cướp ngày càng đông, tuy nhiên triều đình có nhưng chính sách giảm tô miễn thuế phù hợp. Xung đột với phía nam xảy ra thường xuyên. Vân Đồn vẫn giữ được vai trò là hải cảng đứng đầu. Tồn tại các phú gia địa phương. Kinh nghiệm mất mùa đã buộc các phú gia tích trữ thóc gạo, việc này đã góp phần dẫn đến sự khan hiếm, khiến giá gạo tăng, năm 1358 triều đình bỏ tiền mua thóc của phú gia phát chẩn cho dân nghèo, việc này chắc chắn sẽ làm cho ngân khố bị thâm hụt và để có tiền chi tiêu triều đình buộc phải phát hành tiền Đại trị thông bảo vào năm 1360 [phát hành tiền là lựa chọn duy nhất của triều đình vì 1 mặt triều đình không thể thực hiện việc thu tô thuế của dân, mặt khác triều đình không đủ sức thực hiện các cuộc chiến với các nước xung quanh để thu lợi phẩm. Việc phát hành tiền không loại trừ mục đích của triều đình là thanh toán cho khoản thóc gạo mà các phú gia đã bỏ ra để phát chẩn cho dân như trong chiếu. Chúng ta không thể biết kịch bản diễn ra như thế nào, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng việc phát hành tiền liên quan trực tiếp tới lệnh thanh toán bằng tiền cho các phú gia bỏ thóc gạo để phát chẩn cho dân nghèo] Trong hoàn cảnh nền kinh tế yếu kém bộc lộ xung đột giữa 2 thế lực chi phối là triều đình (nắm giữ quyền lực và quân đội) với các phú gia (nắm giữ tài chính) [triều đình muốn nắm quyền hành trong cả nước thì phải thực hiện tốt chính sách an dân trong khi phú gia lại nắm giữ phần nhiều thóc gạo là yếu tố quan trọng để an dân] Dường như chính sách mua lại thóc của các phú gia năm 1358 của triều đình không có nhiều hiệu quả nên năm 1362 triều đình đã thực hiện chính sách mới: phong tước cho các phú gia phát chẩn thóc gạo cho dân nghèo. Rõ ràng triều đình đã có những động thái tích cực, chấp nhận việc chia sẻ quyền lực và đây mới là điều mà các phú gia cần, họ muốn tham gia vào việc hoạch định các chính sách, luật lệ của triều đình. Sự kiện hi hữu năm 1363 là bức tranh sinh động mô tả rất rõ. Triều đình tịch thu gia sản của phú gia Ngô Dẫn ở Đại Lai, nguyên nhân là do Ngô Dẫn cậy giàu có thông dâm với người con gái khác lại có những lời lăng nhục công chúa]
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thiệu Khánh năm thứ 2 [năm 1371] Bỏ phép cắt chân bãi bồi, xoá lệnh kiểm kê tài sản (…) xuống chiếu xây dựng cung thất không phiền nhiều tới dân (…) những người có chức tước phải khai báo để làm sổ sách (…) Long Khánh năm thứ 1 [năm 1372] lệnh cho quân dân nộp thuế cho triều đình, ban tước theo thứ bậc khác nhau (…) giặc cướp đua nhau nổi dậy (…) Long Khánh năm thứ 3 [năm 1375] chiếu cho những nhà giàu ở các lộ dâng thóc, ban tước theo thứ bậc khác nhau (…) Xương Phù năm thứ 2 [năm 1378] mùa thu tháng 7 nước lớn. Đỗ Tử Bình kiến nghị thu mỗi hộ đinh nam 3 quan tiền. Vua nghe theo. Bấy giờ đưng có việc dùng binh mà kho tàng trống rỗng nên Tử Bình có kiến nghị này. Theo lệ cũ, các trấn hễ có việc binh thì lệnh cho mỗi huyện có bao nhiêu ruộng thì phải nộp bao nhiêu vàng bạc, tiền lụa không tính thêm theo số nhân đinh sinh ra, cũng không trừ bớt theo số người đã chết. Nếu phục dịch việc binh thì đều thu bổ theo số ruộng cả. Các lộ có đơn binh phải phục dịch việc binh. Người nào có ruộng, bãi dâu, đầm cá thì phải đóng thuế, không thì thôi. Đến đây Tử Bình bắt chước phép đánh thuế dung [hay thuế đinh, thuế thân. Đầu nhà Trần những người có ruộng mới phải đóng, đến đây không cứ có ruộng hay không đều phải đóng cả, chỉ quân lính mới được miễn] của nhà Đường, thuế má lại càng nặng thêm (…) Xương Phù năm thứ 3 [năm 1379] mùa hạ hạn hán đói to (…) tháng 9 sai quân dân đem tiền đồng giấu ở núi Thiên Kiện, tháng 10 giấu tiền đồng ở khám Khả Lãng [Lạng Sơn] vì sợ người Chiêm Thành vào cướp (…) Xương Phù năm thứ 5 [năm 1381] tháng 2 đốc xuất tăng nhân tạm làm quân đinh đánh Chiêm Thành (…) Xương Phù năm thứ 8 [năm 1384] mùa thu tháng 9 nhà Minh bắt đầu đánh Vân Nam, sai người sang đòi lương để cấp cho binh lính đóng ở Lâm An (…) Quang Thái năm thứ 3 [năm 1390] mùa đông tháng 10 sai thợ đá ở An Hoạch đào mở cửa hang núi Thiên Kiện và hang núi Khẩn Mai để lấy tiền của chôn ở đó khi trước. Nhưng bây giờ cả 2 núi đều bị lở, cửa hang bị lấp kín, đào mãi không được phải bỏ”.