Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

Vài ghi chú về chữ Việt cổ (bài 1)


  1. Khái lược
1.1 Người Mol có đời sống sông nước
Thuyền của người Mol (trên trống đồng Hoàng Hạ)
CHU VIET 1
Nhà hình thuyền của người Mol (trên trống đồng Hoàng Hạ)
CHU VIET 2
1.2 Vật tổ là loài chim
Sinh sống trong môi trường nước[Chân dài, mỏ dài] (trên trống đồng Ngọc Lũ)
CHU VIET 3CHU VIET 4
Quần áo mũ hình chim (có thể làm từ lông chim)
CHU VIET 5CHU VIET 6
Chim đậu trên mái nhà (có thể nhà dựng trên hoặc gần vùng nước hoặc nơi con nước lên xuống)CHU VIET 7
Chim và thuyền
CHU VIET 8
* Nhận xét: Người Đông Sơn có đời sống gắn liền với sông nước, nơi cư ngụ là những vùng đất tiếp giáp với sông hồ hoặc ngay trên vùng nước hoặc con nước lên xuống, thuyền là phương tiện đi lại chính, nhà ở là loại nhà sàn (không phải cách mặt đất mà là cách mặt nước) hình thuyền, người Đông Sơn có mối quan hệ đặc biệt với loài chim có mỏ và chân dài sống trong môi trường nước, thực phẩm của loài chim này là cá, do vậy người Đông Sơn hoá trang gần giống với loài chim này, sau đó di chuyển đến những vùng nước có loài chim này kiếm mồi, để săn bắt cá. Với vùng nước rộng lớn, thì xác định khu vực nhiều cá là rất quan trọng, loài chim săn bắt cá, có thể cung cấp thông tin này. Ngoài ra loài chim này còn có thể xác định phương hướng cho các thuyền trên vùng nước, thật khó để trong hoàn cảnh này, con người có thể tìm được mối quan hệ nào gần gũi hơn loài chim này, do đó mà loài chim nước này có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của người Đông Sơn. Sau thời gian săn bắt cá, loài chim này sẽ tìm nơi nghỉ ngơi, nhưng trên một vùng nước mênh mông thì thật khó, nên có thể chúng đã tìm đến những ngôi nhà hình thuyền trên mặt nước và nghỉ ngơi trên mái nhà, nên sáng khi đi săn bắt, con người chèo thuyền theo loài chim và khi chập tối, con người lại di chuyển theo hướng bay của loài chim này về nhà.
  1. Chữ viết
Có thể là văn tự (trên trống Hoàng Hạ)
CHU VIET 9
2.1 Đồ đồng thời Đông Sơn
* RìuCHU VIET 10
CHU VIET 11
* Chuông Thạp
CHU VIET 12
* Qua đồng
CHU VIET 13
2.2 Chữ viết trên qua
* Qua đồng Đông Sơn
CHU VIET 14
* Qua đồng Trường Sa (Hồ Nam – Mộ Sở)
CHU VIET 15
* Qua đồng Đức Sơn (Hồ Nam – Mộ Sở)
CHU VIET 16CHU VIET 17
* Qua đồng Trường Sa 2 (Hồ Nam – Mộ Chiến Quốc)
CHU VIET 18
2.3 Chữ viết trên trống đồng và đá
* Chữ viết trên trống đồng Lũng Cú (Hà Giang)
CHU VIET 19
* Chữ viết trên đá Sapa (Lào Cai)
CHU VIET 20
* Chữ viết trên xẻng đá ở Cảm Tang (Quảng Tây)
CHU VIET 21
* Bản đồ phân bố chữ viết trên xẻng đá lớn
CHU VIET 22
* Chữ của người Thủy ở Quý Châu
CHU VIET 23
* Chữ Giáp Cốt (Hà Nam)
CHU VIET 24
  1. Nhận xét
* Qua nhưng tài liệu khảo cổ ghi nhận được, chúng ta nhận thấy rằng tuyến đường phát hiện những minh văn từ Bắc Trung Bộ – Tây Bắc – Quảng Tây – Hồ Nam – Hà Nam.
* Các loại hình chữ viết trên qua đồng Bắc Trung Bộ, xẻng đá lớn Quảng Tây, qua đồng Hồ Nam và giáp cốt đều thuộc loại Tượng hình sơ khai.
* Chữ trên xẻng đá lớn ở Quảng Tây có niên đại 2000 – 4000 năm TCN, trong khi chữ giáp cốt tìm thấy ở Hà Nam có niên đại 1000 năm TCN.
* Tiến trình hình thành và phát triển chữ viết nói chung được bắt đầu bằng việc xuất hiện những hình vẽ/ tiến tới là sự giản lược những hình vẽ ấy để trở thành ký hiệu/ các ký hiệu liên kết với nhau để mô tả về ý nghĩa/ cuối cùng là sự thay thế những ký hiệu tượng trưng cho hình ảnh bằng những ký hiệu mô tả âm thanh.
* Tiến trình chung của chữ viết là vậy, vì thế mà việc trùng hợp một số ký tự giữa các nền văn hoá cũng là điều dễ hiểu, tuy nhiên do vị trí địa lý giữa Quảng Tây và Hà Nam không quá cách xa nhau, lại thêm chữ viết trên xẻng đá lớn có niên đại cách xa minh văn trên giáp cốt, do vậy mà khả năng rất cao là tiền thân của chữ giáp cốt có mối quan hệ với chữ viết trên xẻng đá lớn. Không những vậy, chữ viết của người Thuỷ cũng tham gia vào mối quan hệ này.
* Qua những khảo vật bằng đồng chúng ta bước đầu có thể xác lập mối quan hệ gần gũi về văn hoá giữa những tộc người sinh sống ở vùng Lĩnh Nam và sẽ giảm dần khi mở rộng ra miền nam sông Dương Tử hay tây và nam vùng Lĩnh Nam. Từ đó chúng ta có cơ sở để tìm hiểu về loại hình chữ viết không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ ngày nay mà mở rộng phạm vi ra toàn vùng Lĩnh Nam.
* Chúng ta lưu ý tới những điểm giống nhau giữa những chữ viết trong toàn miền Lĩnh Nam ở những thời điểm tương đối gần nhau.
  1. Giải mã chữ viết
4.1 Các chữ viết trên qua đồng
* Chữ trên qua đồng Đông Sơn
CHU VIET 25
* Chữ trên qua đồng Trường Sa
CHU VIET 26
* Bảng thống kê của Hà Văn Tấn
CHU VIET 27
* Nhận xét:
– Qua những chữ viết trên qua đồng và bảng thống kê của Hà Văn Tấn chúng ta nhận thấy có 2 nhóm chữ: Nhóm thứ nhất gồm các hình vẽ mô phỏng lại sự vật hiện tượng và nhóm thứ hai gồm những ký hiệu đã được cách điệu, giản lược để ám chỉ hiện tượng sự vật. Vì những ký hiệu này nằm trong cùng một khảo vật nên chúng ta có thể xác định được những minh văn này thuộc loại đang trong giai đoạn chuyển biến từ hình vẽ sang chữ viết tượng hình.
– Một cách tương đối thì các ký tự hình vẽ có cấu trúc chỉ gồm 01 hình ảnh sự vật hiện tượng, trong khi những ký hiệu tượng hình có cấu trúc nhiều hơn 01 ký tự – thường là 02 ký tự.
– Vì là loài minh văn này nằm trong giai đoạn chuyển biến từ chữ viết hình ảnh sang chữ viết tượng hình nên những ký tự đã được cách điệu để chỉ hiện tượng sự vật vẫn còn mối liên hệ, dấu vết với những hình ảnh về sự vật hiện tượng hay nói cách khác là chúng ta có thể tìm thấy nghĩa của các chữ viết thông qua việc so sánh chữ viết ấy với những hình ảnh (vốn là nguyên bản để tạo ra những ký tự).
– Khi để ý những ký tự cách điệu (ký tự tượng hình) thì nhận định ban đầu là: các ký tự ở phía bắc gồm nhiều ký hiệu hơn và là biến thể của ký tự tượng hình ở phía nam nhưng trên những chiếc qua ở cả bắc nam có những ký tự cách điệu giống nhau cho thấy đó là những ký tự có nghĩa khác nhau và nằm trong một hệ thống minh văn.
  1. 2 So sánh
* Đối tượng ưu tiên của chúng ta là những hình ảnh trên những đồ vật tương tự, sau đó được mở rộng ra những đồ vật có cùng chất liệu, cùng niên đại và trong cùng khu vực văn hoá, sau cùng chúng ta mở rộng tối đa.
* Trong bảng thống kê của Hà Văn Tấn, ký tự số 19 được khắc trên qua đồng Đức Sơn (Hồ Nam – Sở) giống với hình ảnh con Giao Long (Ninh Bình).
CHU VIET 28
* Ký tự thứ 1 trong bảng thống kê, gồm 3 ký tự giống nhau chồng lên, 3 ký tự này tách rời nhau chứ không gắn liền, quan sát 1 ký tự thoạt đầu ngỡ giống cây cung, nhưng cũng có thể giống hình chim đang bay, nếu là cây cung thì xem 3 cây cung làm gì? Trong khi 3 con chim thì được hiểu là bầy chim hay chim bay theo đàn. Chúng ta thấy Ký tự 1 giống với hình ảnh 3 con chim trên thạp Đào Thịnh.
CHU VIET 29
* Ký tự thứ 12 rất giống với hình ảnh mặt trời, trên mặt các trống đồng.
* Ký tự thứ 11 khá giống với nhà mang tính chất tôn giáo trên trống đồng Ngọc Lũ hay Hoàng Hạ. Toàn bộ hình bán nguyệt phía dưới giống với ngôi nhà trong khi hình cong và có 2 nét chấm phía trên giống với 2 con chim đậu trên mái nhà.
CHU VIET 30
** Tiểu kết: Xem xét những hình vẽ trên qua đồng Đông Sơn, Trường Sa, Hồ Nam chúng ta thấy có những nét tương đồng với những nét khắc trên xẻng đá lớn ở Cảm Tang, Quảng Tây, cũng có nét giống với nét khắc trên bãi đá cổ ở Sapa, Lào Cai, cũng có nét giống với nét khắc trên trống đồng Đông Sơn, vậy những nét giống nhau này (thực ra là gần giống nhau) có mối liên hệ nào không hay chỉ là ngầu nhiên. Thứ nhất, tất cả nằm trong những không gian tương đối gần nhau. Thứ hai là chúng cũng có niên đại tạm cho là gần nhau. Thứ 3 chúng cùng thuộc một loại, đó là chữ viết. Điểm duy nhất khác nhau là chúng được thể hiện trên dụng cụ khác nhau và có thể của những tộc người khác nhau. Nên tôi vẫn cho rằng chúng là anh em, là phái sinh, là giai đoạn trước sau của sự phát triển nhưng là cùng một tuyến, một họ, một không gian. Chúng đều đang ở giai đoạn tượng hình. Thử so sánh một vài điểm giống nhau.
* Chữ thứ 4 từ trên xuống dưới trên qua đồng Thanh Hoá
CHU VIET 31
* Chữ nằm ngay phía trên ngón tay cái (hình bên trái) và chữ thứ 1 từ trên xuống (hình bên phải).
CHU VIET 32
P/S: Một điểm khá thú vị trong những chữ viết trên khảo vật tìm thấy, thì 8 ký hiện trên trống đồng Lũng Cú phát hiện ở Hà Giang, có vẻ như không nằm trong loại hình mà chúng ta vừa xem xét, các ký tự này nếu là chữ viết thì rất có thể nó đã thoát khỏi loại chữ tượng hình mà là ở giai đoạn tượng thanh. 8 chữ trong bố cục được chia làm 3 nhóm, 3 ký hiệu đầu có thể là 1 chữ, 2 ký hiệu tiếp là 1 chữ và 3 chữ còn lại là 1 chữ, thông thường những chữ này có thể là chỉ về chủ sở hữu hoặc tên người đúc hoặc tên trống. 8 chữ này có phải là chữ của người Thái, người Lô Lô hay không, vì trống được tìm thấy trong vùng lãnh thổ của tộc người này? Loại ký tự này có liên hệ gì với chữ viết trên bãi đá cổ Sapa mà Lê Trọng Khánh có 1 bản dập quá mờ? Chúng ta sẽ cùng xem xét ở phần tiếp theo.

Giả tưởng về nguồn gốc của Can Chi


  1. Can chi
Can chi còn được gọi là thiên can địa chi hay thập can thập nhị chi, xuất hiện trong nền văn hoá Á đông, được dùng để xác định tên gọi trong lịch pháp cũng như trong chiêm tinh học và được cho rằng xuất hiện vào thời nhà Thương ở Trung Quốc.
Có 10 can là: Giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý nên thường được gọi là thập can và có 12 chi là: Tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi nên thường được gọi là thập nhị chi. Thiên can và địa chi được phối hợp với âm dương, ngũ hành, phương vị, tứ quý tạo nên kiến thức vô cùng vô tận trong thế giới phương đông. Tuy nhiên trong bài viết này chúng ta chỉ tìm hiểu về các khái niệm, tính chất sơ đẳng nhất của thiên can địa chi với mục đích đặt giả thuyết về nguồn gốc của can chi, còn những kiến thức mênh mông khác thì để cho các nhà Dịch học.
Can chi được dùng với nghĩa nguyên thuỷ là thân cây và cành cây, do đó mà thập can và thập nhị chi chính là thể hiện của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cối. Cụ thể:
Giáp: nẩy mầm; Ất: nhú lên mặt đất; Bính: đón ánh mặt trời; Đinh: trưởng thành khỏe mạnh; Mậu: rậm rạp; Kỉ: dấu hiệu hoa trái; Canh: thay đổi; Tân: hoa quả mới; Nhâm: thai nghén cho mùa sau; Quý: mầm đang chuyển hóa.
Tý: mầm hút nước; Sửu: nẩy mầm trong đất; Dần: đội đất lên; Mão: rậm tốt; Thìn: tăng trưởng; Tỵ: phát triển; Ngọ: sung mãn hoàn toàn; Mùi: có quả chín; Thân: thân thể bắt đầu suy; Dậu: co lại; Tuất: khô úa héo tàn; Hợi: chết đi. 
Về việc gắn tên 12 con vật (thường gọi là 12 con giáp) cho địa chi đến đầu công nguyên mới xuất hiện, trong việc gắn tên các con vật, chi mão đối với người phương bắc là con thỏ, nhưng đối với người phương nam là con mèo.
Khảo cứu về nguồn gốc của can chi dẫn chúng ta tới truyền thuyết vua Hiên Viên Hoàng Đế sai Đại Nhiễu chế ra can chi để tính thời gian mà làm lịch, trên cơ sở Hà Đồ do vua Phục Hy tìm ra khi quan sát chấm đen trắng trên lưng con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Với các số lẻ (số dương) trên Hà Đồ là 1; 3; 5; 7; 9 để thể hiện đầy đủ âm dương nên lấy số 5 nhân 2 lần thành 10 can, với các số chắn (số âm) trên Hà Đồ là 2; 4; 6; 8; 10 để thể hiện đầy đủ âm dương nên lấy số 6 nhân 2 lần thành 12 chi.
Trong lịch pháp, tương ứng với 12 tháng là thập nhị chi, thập nhị chi cũng được sử dụng trong đơn vị thời gian là giờ [Tý (23-1 giờ); Sửu (1-3 giờ); Dần (3-5 giờ); Mão (5-7 giờ); Thìn (7-9 giờ); Tỵ (9-11 giờ); Ngọ (11-13 giờ); Mùi (13-15 giờ); Thân (15-17 giờ); Dậu (17-19 giờ); Tuất (19-21 giờ); Hợi (21-23 giờ)]. Để chỉ ngày và năm thì kết hợp thiên can với địa chi, vì thế mà hình thành nên Lục thập hoa giáp.
Nhận xét:
– Thiên can địa chi được sử dụng trong lịch pháp tuy nhiên thập nhị chi được gắn rất chặt chẽ trong mối quan hệ với tháng và giờ, trong khi thập can thì không được gắn cụ thể với đơn vị nào của thời gian, mà chỉ là yếu tố kết hợp với thập nhị chi để gọi tên ngày và năm.
– Cả thiên can và địa chi lại cùng được tạo ra với ý nghĩa nguyên thuỷ là sự phát triển của cây cối, liệu rằng có phải là thừa không, chỉ cần thiên can hoặc địa chi là đủ, không nhất thiết phải có đủ cả thiên can và địa chi. Liệu rằng ý nghĩa có thực sự là nguyên thuỷ không hay là khi nhận thấy việc thiên can và địa chi được dùng để chỉ thời gian, nên người xưa đã gắn ý nghĩa cho thiên can và địa chi như vậy vì quá trình hình thành và phát triển của cây cối cũng chính là thời gian.
  1. Giả tưởng
Trong bài Giả thuyết về bộ lịch trên trống đồng tôi có đề cập mấy ý sau:
– Một năm có 36 tuần, 1 tuần có 10 ngày, 2 năm có 1 tuần nhuận và có thể một ngày có 14 đơn vị thời gian.
– Hán lịch và lịch Đoi cơ bản giống nhau, cùng với sự tồn tại của nguyên tắc ngày lùi tháng tới, tôi cho rằng lịch Đoi ngày nay là sự cải tiền từ lịch Đoi cổ trên cơ sở Hán lịch, những mảnh vụn trong văn hoá Việt vô tình trùng với một số yếu tố trong lịch Đoi, cũng như mối quan hệ giữa Việt – Mường được thể hiện trên trống đồng Ngọc Lũ.
Câu hỏi bây giờ là: Lịch Đoi đã được cải tiến những gì? Đã có những gì thay đổi trong văn hoá Hán, Việt và Mường? Lịch Đoi một năm có 12 tháng, mỗi tháng có 3 tuần là tuần Cây, tuần Lôồng và tuần Cối, mỗi tuần có 10 ngày, tuần cuối tuỳ vào tháng thiếu và đủ mà có 9 hoặc 10 ngày. Kiều Bá Mộc cho rằng: Mồng (mùng) trong tiếng Việt chính là biến âm của Lôồng trong tiếng Mường. Trong lịch của người Việt cũng chia tháng thành 3 tuần là: thượng tuần, trung tuần và hạ tuần như người Hàn và mỗi tuần cũng có 10 ngày, hạ tuần cũng cứ vào tháng thiếu đủ mà có 9 hay 10 ngày. Câu hỏi là việc chia tháng theo tuần của người Mường cũng giống người Hán, giả sử là tiếp thu từ người Hán đi thì 3 tên gọi: Cây, Lôồng và Cối là từ có từ trước khi tiếp thu hay là sau khi tiếp thu và được người Mường tạo ra theo quy luật phát triển riêng (tiếp thu và thay đổi cho phù hợp). Câu hỏi thêm nữa là nếu như từ Mồng là biến âm của từ Lôồng thì 2 từ còn lại là Cây và Cối lại không còn dấu về trong văn hoá Việt. Từ Mồng có phải là dấu vết văn hoá hay chỉ là từ vô nghĩa dùng để kết hợp với các ngày từ một tới mười vì người Việt thích nói những từ ghép đôi, không thích những từ đơn. Về cách gọi ngày và năm, người Hán thường gọi theo can chi, trong văn hoá bác học của người Việt cũng gọi theo cách ấy, nhưng trong văn hoá dân gian thì người Việt gọi như thế nào?
trong dong.jpg
Đối với ngày 15 hàng tháng, người Việt thường gọi là ngày Rằm mà không gọi là mùng rằm, từ Rằm này cũng là một từ đơn, giống với các ngày từ một tới mười, nhưng nó lại không được dùng với từ mồng (mùng) do đó tôi cho rằng: cách dùng từ mùng (mồng) của người Viết không phải xuất phát từ thói quen sử dụng ngôn ngữ mà nó là dấu vết (hoá thạch) của văn hoá cổ xưa hơn. Việc từ Mồng gắn liền với 10 ngày đầu trong tháng từ ngày một tới ngày mười cho thấy sự tồn tại của nhóm gồm cố định 10 ngày, không thay đổi sổ lượng. Người Việt tiếp xúc với người Hán nhiều hơn người Mường, nên sự Hán hoá là lớn hơn, nghĩa là những hoá thạch (dấu vết) của văn hoá cổ xưa thời tiền Việt – Mường sẽ ít hơn. Người Việt sử dụng thượng tuần, trung tuần và hạ tuần như người Hán, từ Mồng có lẽ là rất ít dấu vết còn sót lại. Người Mường cũng tiếp thu định lượng về tháng và tuần nhưng các thuật ngữ vẫn còn giữ được nhiều hơn người Việt, lưu ý rằng: thời tiền Việt – Mường các thuật ngữ có thể khác đi, không nhất thiết giống như người Mường dùng hiện nay.
Bây giờ chúng ta đặt một giả thuyết ngược lại: Giả sử như qua việc giải mã trống đồng Ngọc Lũ (chỉ căn cứ vào trống đồng Ngọc Lũ mà thôi, không căn cứ thêm vào các yếu tố văn hoá Việt hay Mường) chúng ta được một bộ lịch, tạm gọi là lịch phương nam (vì được tìm thấy ở phương nam). Thì bây giờ chúng ta đem so sách với Hán lịch (tạm gọi là lịch phương bắc) thì chúng ta nhận thấy có những nét tương đồng: Cả 2 bộ lịch đều đã biết tới các đơn vị thời gian như: Chu kỳ của năm; năm; tháng; tuần; ngày; giờ. Trong đó ngày là dễ dàng nhận ra nhất, thông qua việc chiếu sáng hoặc không chiếu sáng của mặt trời; sau đó đến tháng, thông qua số lần trăng tròn; sau đó đến mùa, do đó kéo theo sự nhận biết về năm. Đây là những đơn vị dễ dàng biết được và ở cả phương nam và phương bắc đều có những điều kiện để nhận biết được, từ những điều kiện ấy cả phương nam và phương bắc đều có thể chế ra lịch có những đơn vị này, có thể định lượng khác nhau song về mặt định tính thì đều có. Tuy nhiên có 1 điểm dị biệt theo tôi là căn bản: Trong lịch phương bắc xuất hiện thêm một yếu tố thú vị nữa là Tiết khí, đặc biệt là Đại tuyết (một tiết khí rất đặc trưng cho phương bắc) thêm vào đó là sự tồn tại của Tháng Nhuận cho chúng ta biết vai trò quan trọng của Tháng trong hệ thống định tính thời gian, tuần được điều chỉnh theo tháng. Trong khi trong lịch phương bắc (trên trống đồng Ngọc Lũ) thì vai trò quan trọng lại nằm ở Tuần chứ không phải tháng vì tuần được thể hiện rất rõ và dễ xem, nằm ở vị trí trung tâm, trong khi tháng thì rất khó xem, không phải trung tâm, giống như là đơn vị phụ.
Trong khi Tuần có vị trí quan trọng như vậy trong lịch phương nam, thì đến thời Việt và Mường, tuần đã mất đi vai trò ấy, trở thành yếu tố trong hệ thống định tính thời gian có thể thay đổi theo yếu tố tháng, mà đây chính là đặc tính của lịch pháp phương bắc và cũng chính là mắt xích đầu tiên bị cải tiến, Hán hoá. Nếu đem nhận định trên để xem xét trong nền văn hoá thì: Những yếu tố giữ vai trò quan trọng, cốt lõi thường để lại dấu vết rõ ràng hơn hay lâu hơn trong khi các yếu tố kém quan trọng có thể đã mất đi, khi ấy trong văn hoá Việt từ Mồng (chỉ nhóm đơn vị gồm 10 ngày) và từ Cây; Lôồng; Cối trong văn hoá Mường để chỉ tuần vẫn tồn tại.
Như vậy chúng ta nhấn mạnh tới sự tồn tại của bộ lịch phương nam (nếu có) về vai trò quan trọng của yếu tố định tính là Tuần, cụ thể trên trống đồng Ngọc Lũ thì: Tuần được thể hiện trong mối quan hệ với tháng – năm và ngày. Đối với ngày: tuần luôn luôn bao gồm 10 ngày, đối với năm: thì có 36 tuần, năm nhuận có 37 tuần. Điểm thú vị là: Tuần đầu gọi tên tuần Cây; tuần thứ gọi tên tuần Lôồng; tuần sau gọi tên tuần Cối, chúng ta phải tạm gọi theo cách gọi của người Mường, vì chúng ta chưa xác định được âm cổ hơn của tên gọi 3 tuần này. Như vậy là năm bình thường có cả thảy: 12 tuần Cây; 12 tuần Lôồng và 12 tuần Cối.
Nếu bây giờ chúng ta đem gép Lịch phương nam với Thiên can địa chi thì chúng ta có: Mười ngày trong 1 tuần tương ứng với thập thiên can. Mười hai nhóm, mỗi nhóm gồm 3 tuần (Cây; Lôồng; Cối) tương ứng với thập nhị chi. Nếu vậy giống như thập nhị chi, thập can cũng gắn chắt với một yếu tố định tính của thời gian, chứ không còn là yếu tố phụ được tạo ra để phối hợp với thập nhị chi với mục đích gọi tên ngày và năm như trong lịch phương bắc.
Câu hỏi là chúng ta sẽ xếp thập nhị chi vào 3 tuần hay xếp 3 tuần vào từng chi?