Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

GIẢ THUYẾT VỀ TIẾN TRÌNH CỦA THƠ CA VIỆT NAM

1. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thiệu Bảo năm thứ 4 [năm 1482] mùa thu tháng 8 (…) có cá sấu đến sông Lô. Vua sai Hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đây”.
Trong bài Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn: Sự sáng tạo thể loại đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Phạm Hùng viết: “những bài thơ tứ tuyệt hay bát cú theo kiểu Đường luật nhưng có những câu sáu chữ và những câu bảy chữ xen nhau, làm thay đổi hẳn tính quy phạm của thi luật thơ Đường mà ngày nay ta gọi là thể thất ngôn xen lục ngôn. Lối thơ này (…) phát triển rất mạnh và trở thành thể thơ tiếng Việt chủ chốt (…) được đánh dấu bởi (…) những nhà thơ (…) như Nguyễn Trãi (1380 - 1442) với Quốc âm thi tập (186/254 bài); Lê Thánh Tông (1442 - 1497) (…) với Hồng Đức quốc âm thi tập (135/328 bài); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) với Bạch Vân quốc ngữ thi tập (97/161 bài) (…) Rõ ràng, sự xuất hiện của thể thơ thất ngôn xen lục ngôn là một sự kiện quan trọng trong đời sống văn học của nước Việt Nam cổ xưa (….) Có ba quan điểm về nguồn gốc của thể thơ thất ngôn xen lục ngôn: Quan điểm thứ nhất cho rằng thể thất ngôn xen lục ngôn là sự tổ hợp giữa câu thơ 6 chữ của thơ cổ phong với câu thơ 7 chữ của thơ Đường luật có sẵn của Trung Quốc. Tiêu biểu cho quan điểm này là nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên (...) Quan điểm thứ hai cho rằng thể thất ngôn xen lục ngôn là sự kết hợp giữa câu thơ 7 chữ thất ngôn luật của Trung Quốc với câu thơ 6 chữ trong thơ ca dân gian của Việt Nam [tiêu biểu cho quan điểm này là nhà nghiên cứu Phan Ngọc] (…) Quan điểm thứ ba cho rằng thể thất ngôn xen lục ngôn được tạo ra trên chính kết cấu và hình thức của bài thơ luật Đường của Trung Quốc. Các nhà thơ cổ của Việt Nam đã tạo ra câu thơ lục ngôn bằng cách cắt giảm một chữ của câu thơ thất ngôn luật, rồi phối hợp các câu thơ lục ngôn với các câu thơ thất ngôn để tạo nên thể thơ này (…) và quan trọng hơn (…) nó là giả thiết duy nhất có thể chứng minh được”.
Trong bài Giải mã những câu thơ sáu chữ trong quốc âm thi tập từ ngả đường ngữ âm học lịch sử của tác giả Trần Trọng Dương viết: “Nôm cổ ở đây trỏ chữ Nôm dùng hai chữ Hán nén trong một khối vuông để ghi ngữ âm tiếng Việt cổ (…) tổ hợp phụ âm đầu là hiện tượng phổ biến của tiếng Việt từ thế kỷ XVII trở về trước (…) những từ có tổ hợp phụ âm đầu sẽ có cấu trúc ngữ âm là CCVC (…) trong số 29 ngữ tố xuất hiện với tần số 101 lần trong văn bản Quốc âm thi tập, có 89 vị trí xuất hiện trong câu thơ sáu chữ, chỉ có 14 vị trí đồng thời xuất hiện trong câu thơ bảy chữ, không có vị trí nào chỉ xuất hiện trong câu thơ bảy chữ (...) Nguyễn Trãi đã tiến hành điều phối âm thanh (…) bằng cách âm tiết hóa yếu tố đằng trước của tổ hợp phụ âm đầu CC- [theo cách gọi của H. Maspéro] để các từ có cấu trúc CCVC trở thành cấu trúc CV-CVC (…) trên quan điểm của tâm lý học ngôn ngữ, được gọi là các đại lượng âm tiết cảm thức(intuitive). Theo sự giới thiệu của GS. Nguyễn Quang Hồng, các âm tiết cảm thức có thể được phân xuất ra ngay cả trong những trường hợp đặc biệt của ngôn từ thi ca, có những từ được các nhà thơ sử dụng vừa như là từ đơn âm tiết lại vừa như là từ song âm tiết, lại có những từ khác được sử dụng khi thì như từ song tiết khi thì như là ba âm tiết (...) tiếng Việt cổ thế kỷ XV là một thứ ngôn ngữ đang trong quá trình đơn tiết hóa, cho nên các biến thể ngữ âm (dạng cận song tiết CvCVC, dạng đơn tiết CCVC, dạng đơn tiết CVC và dạng Cv - CVC) của một ngữ tố cùng một lúc tồn tại trong quá trình hành ngôn sống động (…) bởi chưa phát hiện ra đặc điểm này, nhiều nhà nghiên cứu trước đây đều băn khoăn rằng: nếu đã tái lập ở trường hợp này thì đủ bảy âm tiết nhưng ở chỗ khác lại thừa thành tám chín âm tiết. Tức là cách tiếp cận và tái lập ấy tưởng là có tính hệ thống và tính nhất quán nhưng lại quên đi tính sống động của ngôn ngữ. Tuy nhiên, hầu hết vẫn không mấy khi nghi ngờ về những cặp song tiết - đơn tiết như đá - la đá; ngựa - bà ngựa; ngàn - la ngàn vốn đã có sẵn trong văn bản rồi”.
Trong bài Vài nét xung quanh hiện tượng ghi âm bằng hai mã chữ trong bản giải âm phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của tác giả Hoàng Thị Ngọ viết: “Qua việc khảo sát sơ bộ chữ Nôm trong văn bản giải âm Phật thuyết có thể thấy rằng trong lịch sử phát triển chữ Nôm, có hiện tượng dùng 2 mã chữ tách rời để ghi một từ Việt, nhất là trong chữ Nôm ở thời kỳ đâu. Đây là những lưu tích về ngôn ngữ của một giai đoạn lịch sử được phản ánh trong hệ thống văn tự tương ứng.
“Cầm khua hết ngựa, cờ khua tượng
Chim bắt trong rừng, cá bắt ao” [Tự thán 19]
“Con đòi trốn, dễ ai quyến
Bà ngựa già, thiếu kẻ chăn” [Thủ vĩ ngâm]
* Nhận xét
Câu hỏi thứ nhất: Các biến thể ngữ âm dạng đơn tiết và song tiết cùng tồn tại vậy thì tại sao những thể hiện của nó dưới dạng chữ viết lại khác nhau ? Cùng 1 ký hiệu ở câu 6 chữ thì đọc song tiết còn ở câu 7 chữ thì đọc đơn tiết vậy vì sao trong những câu 6 chữ lại không dùng 2 ký tự tách biệt để ghi âm đọc song tiết như trường hợp của câu thơ “Bà ngựa già, thiếu kẻ chăn” ? Trường hợp câu lục có 2 vị trí có thể tái lập thành song tiết như ví dụ “Sang cùng khó bởi chưng lời” thành “Cơ - sang cùng khó bởi chưng lời” hoặc “Sang cùng khó bởi chưng bờ - lời” vậy đâu là cách mà Nguyễn Trãi đã dùng ? Có khi nào thơ ca là cuộc chơi của riêng tác giả mà những người khác không thể tham gia vào cùng ? Hay khi thu thập, sao chép đã có sai sót ?
Câu hỏi thứ hai: Có phải hiện tượng xuất hiện các câu thơ lục chỉ diễn ra trong thơ Nôm hay không ?
Nhà thơ đời Trần Nguyễn Trung Ngạn có 2 bài thơ chữ Hán như sau:
“Nghệ An dĩ bắc tam thiên lý
Đồn trấn nhi kim nhất bách niên
Vãng sự dĩ tuỳ lưu thuỷ khứ
Tích nhân thặng giả bi truyền” [Cầu dinh hoài cổ]
“Quyết sơn nguyệt thượng phóng chu hành
Vạn khoảnh thương mang nhất vọng bình
Thương xuy cao phàm thượng hạ
Lạo sơ lạc thuỷ tung hoành 
Ba quang sơn sắc miêu vô tận 
Khách tứ hương tâm mộng bất thành
Vụ tán giang không thiên hướng thự
Cúc tôn chước bãi mính xanh phanh” [Vĩnh Giang nguyệt phiếm]
Nhà thơ đời Trần Phạm Tông Mại có bài thơ chữ Hán như sau:
“Hồng thụ nhất khê lưu thuỷ
Thanh sơn thiên lý tà dương
Dục hoán biển chu quy khứ
Thử sinh vị bốc hành tàng” [Nhàn cư đề thuỷ mặc trướng tử tiêu cảnh]
Nhà thơ đời Trần Mạc Ký có bài thơ chữ Hán như sau:
“Giang ngạn mai hoa chính bạch
Thuyền đầu tế vũ tà phi
Hành khách tam danh bắc khứ
Tướng quân nhất trạo nam quy” [Tống sứ ngâm]
Nhà thơ đời Lý Trí Bảo thiền sư có bài thơ chữ Hán như sau:
“Bất nhân phong quyển phù vân tận 
Tranh kiến thanh thiên vạn lý thu ? 
Tương thức mãn thiên hạ 
Tri âm năng kỷ nhân” [Tạ Đạo Huệ thiền sư]
Rõ ràng những bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi trong Quốc Âm thi tập không phải là những bài thơ đầu tiên xuất hiện những câu lục, Vĩnh Giang nguyệt phiếm và Cầu dinh hoài cổ của Nguyễn Trung Ngạn cho chúng ta bằng chứng thuyết phục. Những bài thơ kiểu này được chúng ta gọi là thể Cổ Phong [thể thơ không có luật] Việt Nam thời Lý Trần có thể tìm thấy nhiều bài thơ thuộc thể Cổ Phong viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thời nhà Đường xuất hiện thể thơ có niên luật rất chặt chẽ gọi là thơ Đường Luật, người Việt cũng sáng tác thơ theo thể này. Tuy nhiên có 2 lưu ý sau đây:
Sách Về thi pháp thơ Đường của tác giả Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử viết: “Ít nhất cho đến ranh giới Minh - Thanh, quan niệm về sự xắp xếp ý tứ trong một bài luật thi vẫn còn khá uyển chuyển; mặc dù đã xuất hiện các khái niệm khởi, thừa, chuyển, hợp, nhưng họ không hề gắn một cách cứng nhắc các phần cần có ấy của một bài luật thi với những câu cụ thể”.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quang Thuận năm thứ 4 [1463] Tháng 3 ngày mồng 3 Hoàng Thanh chết thọ 53 tuổi. Bấy giờ Lương Như Hộc người Hồng Châu có bài tán đề vào bức chân dung của Thanh rằng:
“Thiếu kết tri ư Thái Tổ
Trưởng tín nhiệm ư Thánh Tông
Thể cụ nhi dụng chu
Tử hiếu nhi trần trung
Tứ triều lịch sự
Nhất tiết thuỷ chung”
Tháng 12 sắc dụ Lễ bộ tả thị lang Lương Như Hộc rằng: Mới rồi, Nguyễn Vĩnh Trinh không học thể thơ quốc ngữ, làm thơ không đúng phép. Ta tưởng là người biết, nên mới hỏi thử ngươi, nhưng ngươi cũng không biết nốt. Vả ta xem Hồng Châu quốc ngữ thi tập của ngươi còn nhiều chỗ thất luật, ta chắc là ngươi chưa biết nên mới nói ra. Vũ Lãm thường không muốn ta nói cho người biết đâu”.
Thật đáng tiếc là Hồng Châu quốc ngữ thi tập không còn để chúng ta biết “chỗ thất luật” mà nhà vua nói đến là thất luật như thế nào ? Và quan trọng hơn là để so sánh với Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi. Nhưng rõ ràng là làm thơ thể Đường luật là rất khó, không phải ai cũng làm được và cũng không phải ai cũng làm đúng. Thể Đường luật khó vậy không lẽ các thi sĩ thời Lê Nguyễn không làm nữa sao ? Không phải, họ vẫn tiếp tục làm thơ nhưng không phải hoàn toàn theo thể Đường luật, mà ngoài Đường luật ra họ còn làm theo thể Cổ Phong [đúng hơn là thể tự do, thể thơ không có niên luật chặt chẽ] Không loại trừ Nguyễn Trãi cũng nằm trong trường hợp này. Nghĩa là câu lục trong Quốc Âm thi tập thực sự đúng là câu lục, là 6 chữ viết cũng là 6 tiếng đọc. Có 2 kịch bản diễn ra như sau: Kịch bản thứ nhất là các nhà thơ thời Lý Trần đang làm thơ thể Cổ Phong, đột ngột thể Đường luật xuất hiện và từ thời Lê tất cả các nhà thơ đều phải làm theo thể Đường luật, mọi bài thơ đều thuộc thể Đường luật cả, khi đó chúng ta lúng túng trong việc giải thích những bài thơ Thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trãi trong Quốc Âm thi tập mà 2 cách như đã trình bày trong đầu bài viết: một là chấp nhận đó như là 1 sáng tạo của Nguyễn Trãi từ thể thơ Đường luật và hai là sử dụng phương pháp ngữ âm để buộc những bài thơ Thất ngôn xen lục ngôn đảm bảo tuân theo thể Đường luật. Kịch bản thứ hai là các nhà thơ thờ Lý Trần làm thơ theo thể Cổ Phong [thể tự do] sau đó các nhà thơ tiếp nhận từ từ thể Đường luật, cho đến thời Lê tồn tại 2 thể thơ là Cổ Phong và Đường luật. Điểm thú vị nhất trong giai đoạn tiếp xúc này là hình thành sự pha trộn giữa 2 thể thơ kết quả là thể thất ngôn xen lục ngôn ra đời. Nguyễn Trãi vừa làm thơ chữ Hán lại vừa làm thơ chữ Nôm, vừa làm thơ theo thể Đường luật nhưng cũng làm theo thể Cổ Phong và tất nhiên là cả thể thất ngôn xen lục ngôn. Trong sự tiếp biến về thơ của việc tiếp xúc giữa thể Cổ Phong và Đường luật thể thất ngôn xen lục ngôn xuất hiện, được xem như là di biệt của thể Đường luật và là thể kéo dài của Cổ Phong [Cổ Phong chưa chết khi Đường luật xuất hiện]
Câu hỏi thứ ba: Điều gì đã làm xuất hiện thất ngôn xen lục ngôn ? Có lẽ đây là 1 giả tưởng hơn là 1 giả thuyết.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Thiệu Bình năm thứ 4 [năm 1437] mùa xuân tháng giêng sai Hành khiển Nguyễn Trãi và Lỗ bộ ty giám Lương Đăng đốc suất làm loan giá, nhạc khí, dạy tập nhạc múa (…) Hành kiển Nguyễn Trãi dâng bản vẽ khánh đá và tâu rằng: Kể ra đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm lễ nhạc. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hoà bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc (…) tháng 5 Hành khiển Nguyễn Trãi tâu rằng: Mới rồi bọn thần cùng với Lương Đăng hiệu định nhã nhạc, nhưng kiến giải của thần không giống với Lương Đăng, thần xin trả lại công việc được sai (…) tháng 11 ban bố các nghi thức mới định lại” [theo Viện sử học sau khi âm nhạc cung đình của Lương Đăng chính thức được áp dụng thì vua Lê Thái Tông ra lệnh bãi bỏ trò hát chèo và thôi không tấu các loại nhạc thông tục dân gian]
Trong bài Tư duy chèo của tác giả Trần Bảng viết: “Người ta thấy ở chèo hầu như tất cả các thể loại thơ phú Việt Nam. Dùng phổ biến là thể ngũ ngôn, thất ngôn, thể lục bát, các thể biến của nó và thơ văn biền ngẫu”.
[Biền ngẫu là hình thức cấu trúc của một loại văn chương cổ xưa có cội nguồn từ Trung Quốc, trong đó lấy đối làm nguyên tắc cơ bản, tạo cho lời văn sự nhịp nhàng cân đối. Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ đối với câu 6 chữ hoặc câu 4/4 và câu 6/6 đối nhau]
“Duy ngã Đại Việt chi quốc
Thực vi văn hiến chi bang”
“Hân thương sinh ư ngược diệm
Hãm xích tử ư hoạ khanh”
“Phẫn hung đồ chi vị diệt
Niệm quốc bộ chi tao truân” [Cáo Bình Ngô]
Giả tưởng: Rất có thể sự xuất hiện của thể thất ngôn xen lục ngôn trong Quốc Âm thi tập là kết quả của sự tác động mạnh mẽ của âm nhạc dân gian [chèo] đối với thể Đường luật trong không khí thơ ca thể Cổ Phong vẫn còn tồn tại.
Trong bài Xác định một số bài thơ của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Bỉnh Khiêm của tác giả Lã Nhâm Thìn viết: “Nguyễn Trãi sử dụng hầu hết cách ngắt nhịp có thể có đối với câu thơ 6 chữ. Đó là những cách ngắt nhịp 2/2/2; 1/5; 2/4; 3/3; 4/2; 5/3; 6/0”.
Rõ ràng là trong thơ ca của Nguyễn Trãi nhịp điệu  có vai trò rất quan trọng.
2. Sách Lục bát và song thất lục bát của tác giả Phan Diễm Phương viết: “Sự kết hợp kỳ diệu giữa thất ngôn và lục bát để tạo thành thể song thất lục bát thì phải chăng đã có thể có nhiều phần chắc, rằng đó là sáng tạo của riêng người Việt, bởi vì cho đến nay, chưa tìm thấy ở đâu một sự kết hợp như vậy, ngoại trừ trong thơ ca người Việt”. Cũng theo tác giả Phan Diễm Phương và Ngô Văn Đức thì bài thơ theo thể Song thất lục bát đầu tiên là tác phẩm Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao.
“Xuân nhật tảo, khai gia cát hội
Hạ đình thông xướng thái bình âm
Tàng câu mở tiệc năm năm
Miếu Chu đối việc chăm chăm tấc thành”
“Tiệc mở hát thờ thần kỳ phúc
Vạn vạn niên tề chúc thánh cung
Hoan thanh ba tiếng hô Tung
Hương nghi ngút khói, rượu nồng nã hoa
Đình tấu nhạc, miếu dâng ca
Vẻ thanh múa phượng, khúc hoà bay loan” [Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn]
Trong bài Những phát hiện mới về Lê Đức Mao và bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của tác giả Nguyễn Xuân Diện viết: “Trên tạp chí Văn học, GS. Phan Ngọc cho biết: “Bài thơ song thất lục bát đầu tiên mà tôi biết được là bài Bồ Đề thắng cảnh thi trong tập Lê triều ngự chế quốc âm thi tập có thể làm vào khoảng thế kỷ XV”. Lê triều ngự chế quốc âm thi hiện có một bản mang ký hiệu AB.8, thư viện Hán Nôm, nhưng hiện các nhà nghiên cứu Ngữ văn học Hán Nôm vẫn chưa minh chứng văn bản tập sách này (…) Lê Đức Mao tức Lê Tín (1462 – 1529) đậu tiến sĩ khoa Ất Sửu (1505) Đoan Khánh 1, đời Lê (…) Bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn là một bài thơ Nôm mang nhiều giá trị thông tin về nhiều khía cạnh giúp cho việc nghiên cứu về Ca trù, Hát cửa đình”.
Trong bài Nguyễn Trãi sự hội tụ những tinh hoa của văn hoá Thăng Long thời Lý Trần của tác giả Nguyễn Công Lý viết: “Theo thống kê của Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Trung Thông thì ở Quốc âm thi tập trong 159 bài bát cú có 391 câu thơ 6 tiếng (dòng 1 có 50 câu; dòng 2 có 43 câu; dòng 3 có 56 câu; dòng 4 có 56 câu; dòng 5 có 54 câu; dòng 6 có 54 câu; dòng 7 có 37 câu; dòng 8 có 41 câu) và trong 25 bài tứ tuyệt có 35 câu 6 tiếng (dòng 1 có 08 câu; dòng 2 có 09 câu; dòng 3 có 08 câu; dòng 4 có 10 câu). Tổng cộng có 184 bài thơ thất ngôn xen lục ngôn với 426 câu lục ngôn. Trong khi đó theo Phạm Thị Phương Thái trong luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thì có 186 bài thơ thất ngôn xen lục ngôn, trong đó có 437 câu lục ngôn ở các vị trí không cố định. Chúng tôi đã thử kiểm tra lại và nhận thấy con số thống kê trong công trình của Phạm Thị Phương Thái là chính xác (...) Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đưa nhịp 3 vốn là nhịp trong thơ song thất của ta vào thơ cách luật, mà dạng nhịp này duy nhất trước đó Trần Thánh Tông đã có một lần thể nghiệm thành công ở bài thơ chữ Hán Hạnh Thiên Trường hành cung mà Hồ Nguyên Trừng đã hết lời ngợi ca bài thơ này trong Nam Ông mộng lục”
“Cảnh thanh u vật diệc thanh u
Thập nhất tiên châu thử nhất châu
Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt
Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu
Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự
Thuỷ hữu thu hàm thiên hữu thu
Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tịnh
Kim niên du thắng tích niên du” [Hạnh Thiên Trường hành cung]
Giả thuyết rằng: Âm nhạc tiếp tục tác động đến các thi sĩ, đã thúc đẩy họ sáng tạo nên câu bát từ câu thất liền sau câu lục trong thể thất ngôn xen lục ngôn, sự sáng tạo này chạy theo tính nhịp điệu hơn là niên luật, kết quả là thể song thất lục bát ra đời.
Trong bài Về nguồn gốc thể thơ hát nói của tác giả Phạm Ái viết: “[Theo Dương Quảng Hàm thì] Hát nói [là một thể văn vần có tính cách văn học cao. Nhiều bài hát nói đã trở thành bài bản của bộ môn nghệ thuật ca trù. Một bài hát nói chia làm nhiều đoạn gọi là khổ bài, mỗi khổ có bốn câu trừ khổ cuối chỉ có ba câu. Số chữ trong câu không nhất định thường đặt những câu 7 – 8 chữ, duy có câu cuối bao giờ cũng đặt 6 chữ] và là biến thể của hai thể song thất và lục bát [tuy nhiên ông] không lý giải mà chỉ đưa ra một nhận xét tiên nghiệm (…) ý kiến của ông Phạm Thế Ngũ cho rằng, thể thơ hát nói là biến thể của lối thơ song thất lục bát và nói lối trong tuồng cũng không không đủ sức thuyết phục (…) GS Bùi Văn Nguyên tỏ ra nhất nguyên, nhất quán. Ông khẳng định hát nói là biến thể của lối nói sử trong chèo, tuồng (...) theo tác giả Vi Phong thì hát nói có thể có nguồn gốc từ thể hát giặm cửa quyền. Xét về vận luật, thì giặm vừa có vần chân vừa có vần lưng. Mô hình vần chân của giặm cũng là vần liền, từng cặp vần cuối dòng luân phiên bằng trắc. Tuy nhiên, âm luật của giặm và hát nói hoàn toàn khác nhau” [Theo nghiên cứu gần đây, hát Nói có thể xuất hiện từ thời vua Lê Thánh Tôn]
“Mưỡu:
Đàn thông phách suối vang lừng, 
Cá khe lắng kệ, chim rừng nghe Kinh.  
Hát nói: 
Bầu trời, cảnh bụt, 
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay. 
Kìa non non, nước nước, mây mây, 
Đệ nhất động hỏi là đây có phải? 
Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái, 
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh. 
Thoảng bên tai một tiếng chày kình, 
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng. 
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng, 
Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh. 
Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình: 
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt. 
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt, 
Chập chờn mấy lối uốn thang mây. 
Chừng giang sơn còn đợi ai đây, 
Hay tạo hoá khéo ra tay sắp đặt? 
Lần tràng hạt niệm "Nam mô Phật", 
Cửa từ bi công đức biết là bao. 
Càng trông, phong cảnh càng yêu” [Phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh]
Hát nói sử dụng nhiều nhiều thể thơ khác nhau tuy nhiên câu cuối luôn là câu lục, đây liệu có phải là dấu vết còn sót lại của thể thất ngôn xen lục ngôn không ?
Trong bài Đi tìm nguồn gốc thể lục bát Việt Nam của tác giả Nguyễn Xuân Đức viết: “Khi viết bài Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Nguyễn Văn Hoàn đã ngầm thừa nhận rằng lục bát bắt nguồn từ ca dao. Nguyễn Xuân Kính khi dành 20 trang viết để khảo sát thể thơ này trong ca dao, dù chỉ phác thảo sơ bộ, cũng ngầm định thể lục bát là thể thơ dân gian (…) Phan Diễm Phương đã chỉ ra, trong thực tế mãi đến thế kỷ XVI nhiều tác phẩm văn học viết vẫn còn sử dụng thể lục bát một cách “xô bồ, lỏng lẻo”. Dựa vào ý kiến của nhà ngôn ngữ học và dân tộc học Pháp A.G. Haudricourt, khi nghiên cứu nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt, Phan Diễm Phương cho rằng một khi đến thế kỷ thứ VI tiếng Việt mới hội đủ ba thanh (không, huyền và sắc) để có thể tạo dựng luật phối thanh cho thể lục bát, thì thể lục bát không thể ra đời trước đó (...) Phan Diễm Phương đã rất công phu chia sự phát triển của thể thơ lục bát làm ba giai đoạn và khảo sát thể thơ này trong một loạt tác phẩm (…) rồi đi đến kết luận: “ở giai đoạn thứ nhất, thể thơ còn nằm trong tình trạng khá xô bồ, lỏng lẻo, do ý thức về một khuôn mẫu còn mờ nhạt”. Sự “xô bồ, lỏng lẻo” được Phan Diễm Phương chỉ ra cụ thể “trước hết qua sự gieo vần”, “tiếp đến là về phối điệu”. Và giai đoạn một, theo xác định của Phan Diễm Phương, ở vào giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII (...) đường dẫn của sự hình thành các thể thơ dân gian, trong đó đặc biệt là thể lục bát (…) có nguồn gốc sâu xa từ thành ngữ nhưng bắt đầu bộc lộ rõ ở tục ngữ”.
“Vô sự là tiểu thần tiên
Gẫm xem ngoại thú lâm tuyền cực vui
Đất vua ai chẳng là tôi
Non cao hang thẳm cũng đời tôn thân
Đôi vần ác thỏ đổi lần
Muôn hoa giáp tý xoay vần bàn tay
Thú này ai là kẻ hay
Dẫu nghìn vàng đổi trao tay chẳng thà
Non cao xen lấy làm nhà
Sắt là vách cứng ngọc là bình che
Xung quanh nước chảy rò rè
Khoang rồng uốn khúc tốt ghê hữu tình
Đoá mây phù rợp tàn xanh
Rừng in nội lục chung quanh làng ghềnh
Cảnh này lo là vẽ tranh
Ngọn cây sớm sớm treo tranh mặt hồng” [Đào nguyên hành của Phùng Khắc Khoan]
Trong bài Lục bát Chăm của tác giả Inrasara viết: “Như đã nêu ở trên, lục bát Việt có vần trắc. Và khi bài thơ hơn hai cặp lục bát có lối gieo cả vần bằng lẫn trắc thì chúng mang dáng dấp của thể song thất lục bát.
“Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quến nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đàng nào”
Qua đối chiếu và phân tích sơ bộ, chúng ta thấy lục bát Việt và ariya Chăm có rất nhiều điểm giống nhau. Trong đó cái giống nhất là nhịp điệu (rhythm) của chúng. Khác nhau chăng là do sự dị biệt ở ngôn ngữ của hai dân tộc. Chúng ta không thể khẳng định ai có trước ai có sau”.
Giả thuyết là: Nhịp điệu  luôn là mối bận tâm hàng đầu của các nhà thơ nên họ tiếp tục lục bát hoá nốt hai câu thất trong thể song thất lục bát, để trở thành thể thơ mới thể lục bát.
[Thời Lý Trần tồn tại thể Cổ Phong, nhưng cũng xuất hiện thể Đường luật, thời Lê thể thất ngôn xen lục ngôn xuất hiện, khi thể này suy tàn thì thể song thất lục bát phát triển, khi thể song thất lục bát suy tàn thì thể lục bát phát triển]
Tiểu kết: Thời Lý Trần thơ không có luật gọi chung là thể Cổ Phong, khi thể Đường luật xuất hiện thì đã diễn ra quá trình tiếp xúc giữa 2 thể thơ này, khiến thể Cổ Phong bị luật hoá còn thể Đường luật thì bị tự do hoá, kết quả hình thành nên thể thơ thất ngôn xen lục ngôn rất phổ biến vào thời Lê. Thể thất ngôn xen lục ngôn rất đa dạng, tuy nhiên có 2 dạng chính sau này rất phát triển đó là thể song thất lục bát và muộn hơn là thể hát nói, thể song thất lục bát đã không dừng lại mà tiếp tục phát triển để trở thành thể lục bát. Môi trường của lục bát sinh sống là trong ca dao, dân ca như vậy có thể thấy quá trình phát triển của thơ ca là quá trình dân gian hoá, là quá trình đưa thơ từ bác học đến bình dân, đưa thơ từ thiền sư tới văn sĩ và cuối cùng là tới dân gian. Nguyên nhân căn bản của quá trình dân gian hoá thơ này là việc xuyên suốt của các nhà thơ đã ưu tiên tính nhịp điệu của âm nhạc dân gian vào trong thơ. Quá trình dân gian hoá thơ là 1 quá trình trong sự vận động của văn hoá nói chung và thơ văn nói riêng, đó không phải và chưa bao giờ là quá trình duy nhất.
Sài Gòn 2017. Đông Ly




  






Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

GHI CHÚ VỀ NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM

Nhà Tần mất, Triệu Đà lập quốc Nam Việt trên đất Lưỡng Quảng, thông thương với Nam Âu Lạc của người Mol ở bắc Việt Nam ngày nay. Sau bị nhà Tây Hán diệt. Năm 29, nhà Đông Hán cử Nhâm Diên sang làm quan sứ (như đại sứ ngày nay) ở Nam Âu Lạc, đến năm 34 cử Tô Định làm tiên phong, dẫn quân xâm chiếm Nam Âu Lạc, nhưng thất bại. Năm 40 cử Mã Viện phục ba tiến hành xâm chiếm lần thứ hai nhưng kế hoạch bị giang dở. Năm 137 Khu Liên lập quốc trên đất Tượng Lâm (Nhật Nam). Đất Nam Âu Lạc tự trị dưới thời Sĩ Tiếp, Đào Hoàng đến thời Lý Trường Nhân. Từ thời Lý Thúc Hiền tới thời Lý Tự Tiên, châu Giao độc lập. Tình hình An Nam trở nên phức tạp cho đến năm 880 Khúc Thừa Dụ làm cuộc binh biến, giành độc lập cho bắc Việt Nam. Nước Đại Việt trải các triều: Lý, Trần, Lê, Nguyễn thì thuộc Pháp.
* Về phương diện lịch sử chúng ta có thể tạm chia Việt Nam thành 4 thời kỳ: Thời kỳ tiền sử; thời kỳ dựng nước, thời kỳ trung đại và thời kỳ hiện đại.
- Thời kỳ tiền sử với nền văn hoá mang tính bản địa như Đông Sơn.
- Thời kỳ dựng nước chứng kiến sự giao thoa văn hoá giữa bản địa và ngoại lai (Trung Quốc và Ấn Độ)
- Thời kỳ trung đại là sự bành trướng về lãnh thổ.
- Thời kỳ hiện đại là sự tiếp thu văn hoá phương tây.
* Về phương diện tư tưởng chúng ta có thể tạm chia Việt Nam thành 4 thời kỳ: Thời kỳ bản địa, thời kỳ ảnh hưởng của phật giáo; thời kỳ ảnh hưởng của nho giáo; thời kỳ ảnh hưởng của phương tây.
- Thời kỳ bản địa, đây là thời kỳ văn hoá của người Mol chưa bị ảnh hưởng mạnh từ các luồng tư tưởng ngoại lai
- Thời kỳ chịu ảnh hưởng của phật giáo, lấy từ Mâu Tử viết Lý hoặc luận đến cuối triều Lý đầu triều Trần.
- Thời kỳ chịu ảnh hưởng của nho giáo, lấy từ triều Trần tới cuối triều Nguyễn
- Thời kỳ chịu ảnh hưởng của phương tây, lấy từ triều Nguyễn tời nay.
Chúng ta không có những bằng chứng về một nền văn học của người Mol, nhưng chúng ta có thể giả thuyết rằng: tồn tại nền văn học dân gian của người Mol. Bước vào thời điểm công nguyên, Phật giáo du nhập trực tiếp vào Việt Nam. Qua trường hợp của Mâu Tử chúng ta biết rằng Đạo giáo cũng du nhập vào Việt Nam. Mâu Tử vốn là đệ tử của Đạo giáo nhưng khi sang sinh sống ở Việt Nam thì lại trở thành Phật tử và là tác giả của tác phẩm Lý hoặc luận. Cùng thời lại có trường hợp của Khương Tăng Hội sang nước Ngô (thời Tam quốc) truyền đạo [xin xem thêm Lê Mạnh Thát] Sách Thiền Uyển tập anh chép: “Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy” [Câu quốc sư Thông Biện dẫn lời sư Đàm Thiên (trình vua Tuỳ Cao Tổ) để trả lời hoàng thái hậu Ỷ Lan] . Vậy là Phật giáo được truyền trực tiếp vào Việt Nam, sau đó từ Việt Nam truyền trực tiếp lên Ngô quốc. Vậy thì vì sao người Việt không tiếp thu chữ viết từ Ấn Độ như các tộc người xung quanh ?
Thời chiến quốc rồi thời tam quốc ở phương bắc đã gây ra áp lực dẫn tới những dòng người di cư xuống phía nam, những người phương bắc đủ cả đi qua và dừng lai ở bắc Việt Nam, giống như người bản địa, họ tiếp thu Phật giáo. Ngoài mang theo tư tưởng Đạo giáo họ còn mang theo chữ viết. Ngành khảo cổ học phát hiện ra rất nhiều hiện vật có khắc Hán tự khoảng 2000 năm [xin xem thêm Nguyễn Việt] Đó là những bằng chứng cho thấy chữ Hán đã được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Không chỉ Việt Nam mà các nước trong khu vực đều chịu ảnh hưởng lớn từ Phật giáo, ngay cả Trung Quốc đến thời Đường, Phật giáo cũng vẫn rất phát triển.
Nền văn học Việt Nam thời kỳ dựng nước rất ít ỏi, lác đác một vài tác giả, mà chủ yếu là các Thiền sư, những bài thơ, bài văn chủ yếu là về Phật học. Một sự kiện mang tính bước ngoặt đối lịch sử đó là sự chấm dứt của triều đại nhà Đường. Phương bắc bước vào giai đoạn Thập đại Ngũ quốc, rồi nhà Tống. Phật giáo Trung Quốc giai đoạn này suy tàn. Trong khi phương nam giành độc lập, Phật giáo tiếp tục hưng thịnh, đỉnh điểm là thời nhà Lý. Chữ Hán có lẽ đã trở nên thông dụng trong xã hội, đã đến thời điểm cải tiến để mang một hình thái mới cho phù hợp với yêu cầu: do đó những tín hiệu của chữ Nôm ra đời. Sự xuất hiện của nhu cầu đòi hỏi phải có một hình thái chữ viết mới mà chữ Hán không đáp ứng được cho thấy nhận thức, lý luận của người Việt đã đạt trình độ nhất định. Giai đoạn này chúng ta chứng kiến sự ra đời của một thế hệ vàng với những cái tên như: Mãn Giác (1052-1096); Viên Chiếu (999-1090); Viên Thông (1080-1151); Không Lộ ( -----1119); Quảng Nghiêm (1121-1191)… Có khoảng 40 nhà sư sáng tác. Những tập văn như: Báo cực truyện, Thiền Uyển tập anh; Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên… Tôi cho rằng đây là thế hệ vàng đầu tiên trong lĩnh vực văn học, có 2 nguyên nhân tạo ra thế hệ vàng này là: Các thiền sư uyên thâm về chữ Hán và uyên thâm về Phật học. Các nhà sư này chính là độ chín của sự phát triển Phật học. Không chỉ có bó hẹp trong lĩnh vực văn học, thế hệ này còn đạt độ chín trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Về phương diện Phật học, thành quả của thế hệ này có sự đóng góp rất lớn của nhóm tây du trước đây gồm: Vận Kỳ, Giải Thoát Thiên, Khuy Xung, Trí Hạnh, Tuệ Viêm, Đại Thừa Đăng [xin xem thêm Lê Mạnh Thát]
Phật học tiếp tục phát triển sang thời Trần, đồng thời với nó văn học cũng phát triển, đặc biệt là lý luận, tư tưởng phát triển vượt trội, bứt phá. Văn học thời Lý chủ yếu từ 2 nguồn là: các thiền sư và văn học dân gian. Trong khi sang thời Trần thì chủ yếu là: vua quan. Tuy nhiên thời kỳ này, do những đòi hỏi trong lý luận, tư tưởng mạnh mẽ mà chữ Nôm đang dần thế chỗ chữ Hán. Phải đề cập tới Hàn Thuyên về khía cạnh này. Chữ Nôm ra đời bắt nguồn từ những đòi hỏi trong nhận thức chứ không phải từ việc cần ghi lại những tên gọi Việt. Nó ra đời khi mà người Việt dùng tiếng nói mẹ đẻ để hoạt động tinh thần.
Một điểm khá thú vị là khi chữ Nôm hình thành thì cũng là thời kỳ người Việt du nhập mạnh Nho giáo, cuối thời Trần rồi tới đầu thời Lê và sau này là thời Nguyễn, Nho giáo trở thành độc tôn. Đạo giáo thì hoà nhập với tín ngưỡng dân gian, song hành cùng Phật giáo. Không chỉ có Nho giáo ảnh hưởng tới Việt Nam, mà toàn bộ mọi khía cạnh của văn hoá Trung Quốc ảnh hưởng tới Việt Nam. Thời kỳ này xuất hiện một số tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thế nhưng thế hệ vàng thứ hai lại là những tác giả ở giai đoạn sau như: Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm (1705-1748); Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798); Hoàng lê nhất thống chí của Ngô Văn gia phái; Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791); Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820); Thơ của Hồ Xuân Hương (1772-1822)… Còn rất nhiều các tác giả khác. Thế hệ vàng này là kết quả của sự ra đời chữ Nôm và ảnh hưởng của Nho giáo.
Năm 1858 người Pháp nổ súng tấn công Đại Nam, năm 1884 triều Nguyễn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Trước đó, nhờ các giáo sĩ phương tây, phiên âm tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh mà dẫn đến hình thành một loại chữ viết mới, mà ngày nay gọi là chữ Quốc ngữ. Người được biết đến là Alexandre de Rhodes (1591-1660). Đồng thời với sự hình thành của chữ Quốc ngữ, tư tưởng phương tây cũng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, đầu tiên là trong lĩnh vực tôn giáo qua những giáo sĩ. Cuộc tranh đấu giữa văn hoá Việt Nam (về sâu xa là văn hoá Trung Quốc) với văn hoá phương tây diễn ra, trong đó có chữ viết. Việt Nam ghi nhận nền Nho học suy tàn với những người còn sót lại trong lĩnh vực văn học như Nguyễn Khuyến (1835-1909). Chữ quốc ngữ ra đời và được phổ biến rộng rãi, gắn liền với nó là những sáng tác văn học. Thể loại báo chí ra đời, cũng đóng góp rất lớn vào sự phổ biến của chữ Quốc ngữ cũng như mở toang cánh cửa giữa các nhà thơ, nhà văn nước nhà. Bấy giờ, sự ra đời của báo chí, tạo ra một sân chơi chung rộng lớn từ bắc chí nam, đã đẩy sự giao lưu, giao thoa văn nghệ lên một bậc, chứ không còn dừng lại ở một nhóm (thường là theo địa lý) nhỏ vài ba người như xưa kia. Một ưu điểm nữa của báo chí là giữ vai trò lưu trữ những tài liệu quý về văn học.
Những sáng tác văn học (dùng chữ Quốc ngữ) thời gian đầu còn ít và chưa có gì đặc sắc nhưng khi đã đến độ chín thì Việt Nam xuất hiện thế hệ vàng thứ ba, mà tiêu biểu như: Phan Khôi (1887-1959); Lưu Trọng Lư (1911-1991); Thế Lữ (1907-1989); Xuân Diệu (1916-1985); Nguyễn Bính (1918-1966); Hàn Mặc Từ (1912-1940); Vũ Hoàng Chương (1916-1976); Vũ Trọng Phụng (1912-1939); Ngô Tất Tố (1894-1954); Nam Cao (1915/1917-1951); Nguyễn Công Hoan (1903-1977); Văn Cao (1923-1995); Đoàn Chuẩn (1924-2001); Phạm Duy (1921-2013); Phạm Đình Chương (1929-1991); Đặng Thế Phong (1918-1942); Bùi Xuân Phái (1920-1988); Nguyễn Gia Trí (1908-1993); Tô Ngọc Vân (1906-1954); Nguyễn Tường Lân (1906-1946); Trần Văn Cẩn (1910-1994); Hoài Thanh (1909-1982)…… Còn rất rất nhiều nữa, mà chúng ta không thể kể hết.
Thế hệ vàng này xuất hiện trên cơ sở 2 yếu tố là: sự ra đời của chữ Quốc ngữ và ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá phương tây. Ở thế hệ này một sự cách tân mạnh mẽ mang tính cách mạng cả trên tư tưởng, thẩm mỹ cũng như hình thức thể hiện. Chúng ta hiện vẫn nhìn phòng trào thơ mới chỉ dừng lại ở giai đoạn 1930-1945. Cái nhìn này bị chi phối bởi sự kiện lịch sử năm 1945. Tôi cho rằng thế hệ vàng này đã thực hiện cuộc cách tân cơ bản làm thay đổi toàn bộ nền văn học Việt Nam thời điểm đó, nhưng cuộc cách tân này vẫn tiếp tục ở giai đoạn phong trào nhân văn giai phẩm. Thật đáng tiếc, một đòn đánh mạnh, đã làm nền văn học Việt Nam què một chân, chân còn lại chính là nền văn học miền nam Việt Nam. Bây giờ, nền văn học Việt Nam đã mở những cánh cửa ra nền văn học chung của thế giới, chúng ta bây giờ mới đang quan sát xem: họ nghĩ gì, viết gì và làm văn học như thế nào với một tâm tư chất chứa trong lòng và mong mỏi cầu thị, hội nhập, cho đến khi ta bắt kịp họ thì những chất chứa, suy tư của chúng ta cũng đủ lớn, khi ấy sẽ có một thế hệ vàng nữa. Thế hệ nhìn các vấn đề thế giới dưới con mắt Việt Nam.
Đây là một bài viết ngắn, đưa ra một cái nhìn khác về những đợt sóng, những quy luật của nền Văn học Việt Nam. Bài viết này còn nhiều thiếu sót khi không đưa được ra những thống kê cụ thể về các tác giả, tác phẩm và năm tháng. Đồng thời cũng không khảo sát được một khu vực văn học khác trong tổng cấu thành của nền văn học Việt Nam là: Văn học dân gian (và có thể rộng hơn là cả nền văn học của các tộc người anh em).
Tạm kết: Qua những khảo sát trên, chúng ta nhận thấy, nền văn học Việt Nam là những ngọn đồi liên tiếp. Ngọn đồi chữ Hán và Phật giáo; Ngọn đồi chữ Nôm và Nho giáo; Ngọn đồi chữ Quốc ngữ và văn hoá phương tây. Sườn sau của ngọn đồi này bắt liền với sườn trước của ngọn đồi kia. Nhưng luôn có dòng sông lượn ngay cạnh những sườn đồi.
* Bảng sơ đồ: Văn học Việt Nam

???
VH đương đại
Văn học dân gian
Đương đại








Hưng thịnh
VH phương tây
Hiện đại

Chữ Quốc ngữ

Tiếp thu
Suy tàn





Hưng thịnh
Nho giáo

Chữ Nôm

Tiếp thu
Suy tàn





Hưng thịnh
Phật giáo
Trần

Chữ Hán

Tiếp thu




VH dân gian
Dựng nước

P/S: Văn học Việt Nam có một quy luật nhất định (tiếp thu-hưng thịnh-suy tàn). Dường như trước quy luật này, tất cả các yếu tố, từ chính trị-kinh tế-xã hội đều không giữ vai trò quyết định. Trong bài Vài ghi chú về chữ Việt cổ tôi có đưa lại câu hỏi lớn của ngành Văn hoá học: Có nên tiếp thu các yếu tố từ nền văn hoá khác không ? việc tiếp thu sẽ giúp nền văn hoá Việt Nam có cơ hội sinh tồn tốt hơn, nhưng cũng đồng thời đánh mất đi bản sắc. Với bài viết này, thì việc tiếp thu các yếu tố của nền văn hoá khác không quá quan trọng bởi vì, sau khi tiếp thu: sẽ Việt hoá các yếu tố ấy như các thế hệ vàng đã làm.